ABCDEFGHIJKLMNOPQRSTUVWXYZAAABACADAEAFAGAHAIAJAKALAMANAOAPAQ
1
Upside
2
Downside
3
SSI Research - Ước tính Kết quả kinh doanh Q3/2021
4
N.a Buy Market PerformUnderperformSellNon-rating
5
xxxx1/10/2021xxxxxxxxxxxxxxx
6
STTMã CKTăng/ giảm lợi nhuận Q3/2021 Nguyên nhân chính tác động tăng/ giảm lợi nhuận Q3/2021Khuyến nghị đầu tư giai đoạn 1 nămLuận điểm đầu tư Giá mục tiêu 1 năm (VND) Giá tại ngày 7/10/2021 (VND)% Tăng/ GiảmVốn hóa (tỷ đồng)Vốn hóa (triệu USD)KLGD bình quân 6 tháng (cổ phiếu)GTGD bình quân 6 tháng (tỷ đồng)GTGD bình quân 6 tháng (triệu USD)Tỷ lệ sở hữu nước ngoài (%)P/EP/BTỷ suất cổ tứcTăng trưởng doanh thu (%)Tăng trưởng lợi nhuận ròng (%)
7
20202021F2022F20202021F2022F20202021F2022F20202021F2022F20202021F2022F
8
1ACBTăngChúng tôi ước tính tăng trưởng tín dụng của ngân hàng chậm lại, đạt khoảng 7-8% so với đầu năm hoặc 12% so với cùng kỳ tại thời điểm cuối tháng 9/2021. Mặc dù NIM có thể giảm so với quý trước, nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ. Do ACB luôn thận trọng trong trích lập dự phòng, số dư dự phòng lớn có thể giúp ngân hàng duy trì nguồn lợi nhuận ổn định. Theo đó, chúng tôi ước tính LNTT Q3/2021 tăng 13-15% YoY.MuaMặc dù mảng SME chiếm khoảng 30% tổng dư nợ cho vay của ACB nhưng không tập trung vào bất cứ ngành cụ thể nào. Ngân hàng luôn chủ động trích lập dự phòng và xây dựng bộ đệm dự phòng ở mức tương đối tốt. Tăng trưởng dài hạn ổn định 20%/năm là khả thi theo quan điểm của chúng tôi, thông qua việc cải thiện CASA, phát triển mạnh bancassurance và tiết giảm CIR. Mặc dù đi theo hướng cẩn trọng, ngân hàng vẫn đứng thứ hai về ROE trong số các ngân hàng chúng tôi nghiên cứu, ước tính đạt 23% năm 2022. Do đó, chúng tôi cho rằng PB 2022 ở mức 1,5x là khá hấp dẫn và khuyến nghị MUA cổ phiếu ACB. 40.000 31.200 28% 85.111 3.739,4 10.151.440 327,85 14,40 30,0%7,98,96,61,71,91,50,0%0,0%0,0%N.aN.aN.a27,7%24,2%22,8%
9
2CTGTăngChúng tôi ước tính LNTT Q3/2021 đạt 3 nghìn tỷ đồng (+3,3% YoY), nhờ tăng trưởng tín dụng và huy động lần lượt là +6,5% YTD và +7,5% YTD. Lũy kế, LNTT 9T2021 đạt 13,9 nghìn tỷ đồng (+33,6% YoY) chủ yếu nhờ mức lợi nhuận rất tốt trong Q1/2021. Lợi nhuận Q3 không cao do ngân hàng thực hiện nhiều chương trình tín dụng hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi Covid-19. Với nợ xấu mới hình thành có thể ở mức cao hơn, chi phí dự phòng dự báo cũng tăng tương ứng.Khả quanChúng tôi điều chỉnh giảm ước tính LNTT 2021 và 2022 xuống còn 17,3 nghìn tỷ đồng (+1,4% YoY) và 21,8 nghìn tỷ đồng (+25,9% YoY). Mặc dù dự phòng trái phiếu VAMC không còn tạo gánh nặng lớn đối với CTG, chúng tôi cho rằng chi phí dự phòng vẫn tăng đáng kể trong năm 2021 do các khoản dư nợ cho vay chịu ảnh hưởng từ Covid-19 và tái cơ cấu theo Thông tư 14. Sau đó, chi phí tín dụng ước tính giảm dần trong 2022 nhưng vẫn ở mức cao. Với ROE giảm do chi phí tín dụng tăng, chúng tôi điều chỉnh giảm PB mục tiêu còn 1,8x, tương ứng giá mục tiêu giảm còn 37.500 đồng/cp. Mặc dù tiềm năng tăng giá khá hấp dẫn, chúng tôi ước tính đà tăng của cổ phiếu CTG có thể chậm trong thời gian còn lại của năm 2021 và chỉ nên xem xét từ năm 2022. Điều này do ước tính tăng trưởng lợi nhuận chậm lại so với cùng kỳ trong nửa cuối năm 2021. 37.500 29.350 28% 142.971 6.281,4 18.408.400 657,55 28,89 24,4%8,112,810,11,31,51,31,7%1,7%1,7%N.aN.aN.a43,3%2,7%26,0%
10
3DCMTăngTrong Q3/2021, chúng tôi ước tính LNTT của DCM là 300 tỷ đồng (+173% YoY), nhờ giá bán urea thuận lợi. Giá ure tại Trung Quốc tăng ~75% YoY, trong khi giá nhiên liệu tăng ở mức chậm hơn là 65% YoY.Phù hợp thị trườngTình trạng thiếu cung than tại Trung Quốc sẽ cần thêm nhiều thời gian để giải quyết. Đồng thời, điều này làm giảm sản lượng sản xuất urea và đẩy giá bán than tăng. Do DCM là công ty sản xuất urea từ khí, biên lợi nhuận sẽ hưởng lợi khi giá than tăng cao hơn so với giá dầu/khí. DCM không chịu ảnh hưởng từ giá than tăng, nhưng vẫn hưởng lợi khi giá bán urea tăng. Chúng tôi ước tính LNTT 2021-2022 là 1.019 tỷ đồng (+42% YoY) và 1.105 tỷ đồng (+8% YoY). Tăng trưởng lợi nhuận nửa cuối 2021 ước tính đạt 62% YoY, cao hơn nhiều so với 6T2021 là 22% YoY. Giá mục tiêu 1 năm đối với DCM là 31.500 đồng/cp, dựa trên ước tính 2022. Tổng mức sinh lời của cổ phiếu là 16% (bao gồm 4% tỷ suất cổ tức) 31.500 29.150 8% 14.929 655,9 4.253.752 87,38 3,84 1,9%13,719,317,91,22,32,25,7%4,3%4,3%7,4%19,4%18,0%54,9%42,4%8,4%
11
4DGCTăngChúng tôi ước tính DGC đạt 430 tỷ đồng lợi nhuận ròng (+82% YoY) nhờ doanh thu mạnh mẽ từ sản phẩm mới (phân bón DAP, axit photphoric điện tử), sản lượng tiêu thụ các sản phẩm hiện tại tăng (photpho vàng, axit photphoric thực phẩm và sản phẩm khác) và giá bán các sản phẩm chính tăng.Khả quanVào cuối tháng 9, Trung Quốc đã cắt giảm sản lượng photpho vàng tại Yunnan, do đó giá bán tăng. DGC sẽ hưởng lợi từ việc tăng giá bán photpho vàng và các sản phẩm hạ nguồn (axit photphoric và phân bón). Chúng tôi ước tính lợi nhuận ròng 2021 và 2022 của DGC tăng 86% YoY and 48% YoY, nhờ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ và biên lợi nhuận cải thiện. Giá mục tiêu 1 năm là 177.000 đồng/cp, dựa trên ước tính 2022. 177.000 150.000 18% 27.185 1.194,3 1.170.424 107,07 4,70 6,9%8,316,211,02,05,23,72,9%1,0%1,0%22,5%45,1%16,8%67,1%85,5%47,5%
12
5FPTTăngLNTT Q3/2021 ước tính đạt 1,7 nghìn tỷ đồng (+21% YoY). LNTT trong hai tháng 7 và 8 tăng 17% YoY, và tháng 9 ước tính tăng 29% YoY do mức so sánh thấp liên quan đến Covid-19 trong tháng 9/2020. Ngoài ra, tăng trưởng hợp đồng ký mới mảng công nghệ trong 8T2021 đạt 38% YoY là động lực tăng trưởng chính trong thời gian còn lại của năm 2021.MuaThị trường Nhật Bản và Châu Âu của mảng dịch vụ CNTT nước ngoài hồi phục từ tháng 7 và tháng 8/2021, tương ứng tăng +12% YoY (vs. +3% trong 6T2021) và hơn 30% YoY (vs. 6% trong 6T2021). Doanh thu chuyển đổi số cũng lấy lại đà tăng trưởng, đạt 45% YoY trong 8T2021, so với mức tăng 19% YoY trong 6T2021.
Mặc dù ước tính tăng trưởng lợi nhuận 2022 là 22% YoY (các công ty CNTT trên thế giới là 15% YoY), FPT (PE 2022 là 17,5x) đang giao dịch tại PE thấp hơn 1,7x so với các công ty CNTT trên thế giới - do đó chúng tôi khuyến nghị MUA cổ phiếu.
112.500 94.300 19% 84.304 3.703,9 2.791.987 237,86 10,45 49,0%26,521,717,52,94,03,43,4%2,2%2,2%7,7%20,4%21,7%13,1%20,6%22,1%
13
6GMDTăngTăng trưởng LNTT Q3/2021 ước tính duy trì mức khá, >20% YoY. Mặc dù sản lượng qua cảng giảm chung, khu vực Cái Mép lại duy trì tăng trưởng tích cực, và sản lượng qua cảng Gemalink tăng đúng tiến độ. Cảng Hải Phòng cũng cung cấp dịch vụ mới, giúp bù đắp mức giảm tại một số cảng khu vực phía Nam.Khả quanSản lượng qua cảng tại GMD năm 2021 được hỗ trợ bởi hoạt động thương mại toàn cầu của Việt Nam phát triển mạnh, cùng với đó là cảng nước sâu mới Gemalink. Giả định hồi phục tốt trong Q4, chúng tôi cho rằng tăng trưởng sản lượng sẽ duy trì mạnh (+70% trong 2021, +25% trong 2022) nhờ nhu cầu trên thế giới hồi phục.
Chúng tôi ước tính lợi nhuận ròng tăng 47% YoY trong 2021 và 36% Yoy trong 2022, tương ứng PE 2021 và 2022 là 29,7x và 21,8x. Chúng tôi khuyến nghị KHẢ QUAN đối với GMD.
56.200 49.700 13% 14.677 644,8 3.224.938 140,14 6,16 41,9%28,829,721,81,72,42,33,2%2,1%2,1%-1,5%12,3%10,7%-29,3%46,8%36,4%
14
7HAHTăngLợi nhuần thuần sau cổ đông thiểu số Q3/2021 ước tính đạt 80 tỷ đồng (+250% YoY). Mặc dù sản lượng vận chuyển chịu ảnh hưởng nhẹ do giãn cách xã hội và sản xuất ở mức thấp, tăng trưởng cao có thể đến từ thị phần tăng, giá cước vận chuyển tăng và doanh thu tăng đáng kể từ cho thuê tàu.MuaHAH hưởng lợi từ chu kỳ đi lên của ngành vận tải, cùng với giá cước tăng và giá cho thuê tàu tăng. HAH đã khóa giá cước hợp đồng cho thuê tàu ở mức cao, giúp không còn lo ngại giá cước giảm trong 2 năm tới. Chúng tôi ước tính LNST sau cổ đông thiểu số tăng 139% YoY trong 2021 và 71% YoY trong 2022. HAH đang giao dịch tại mức P/E 2022 là 5,6x, một mức định giá khá hấp dẫn. Chúng tôi tiếp tục khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu. 78.400 66.300 18% 3.033 133,3 1.710.304 73,66 3,24 7,0%6,410,25,60,82,31,75,6%1,6%1,6%7,5%55,3%29,0%13,9%123,2%83,4%
15
8HDBTăngĐà tăng trưởng tín dụng duy trì tốt, đạt khoảng 9,5% YTD tại thời điểm cuối tháng 9/2021. Do đó, tăng trưởng thu nhập lãi thuần ước tính ở mức khá trong Q3/2021. Tuy nhiên, thu nhập từ phí, cụ thể là doanh thu bancassurance giảm. Tại các thành phố có thời gian giãn cách xã hội kéo dài, doanh thu bancassurance giảm khoảng -40% đến -50%. Tại các tỉnh thành khác tình hình bớt nghiêm trọng hơn. Nhìn chung, LNTT ước tính đạt 1,7 nghìn tỷ đồng (tăng 15% YoY).Khả quanChúng tôi ước tính LNTT của HDB đạt 7,7 nghìn tỷ đồng (+33% YoY) trong 2021 và 9,4 nghìn tỷ đồng (+21% YoY) trong 2022. Trong thời gian tới, các yếu tố hỗ trợ cổ phiếu là khả năng phát hành trái phiếu chuyển đổi và đàm phán hợp đồng bancassurance độc quyền mới. Mặc dù các yếu tố kể trên có thể hỗ trợ ngắn hạn đối với giá cổ phiếu, chúng tôi cho rằng có một số điểm cần tiếp tục theo dõi: (i) cho vay mảng tài chính tiêu dùng (7,5% tổng dư nợ cho vay hợp nhất), (ii) cho vay các hãng hàng không (2,61% tổng dư nợ cho vay) và (iii) khó khăn trong việc giảm chi phí huy động cũng như cải thiện NIM khi so với các ngân hàng khác. 32.000 24.100 33% 49.506 2.175,1 5.352.584 136,88 6,01 18,4%8,98,77,31,71,51,30,0%0,0%0,0%N.aN.aN.a15,9%33,4%21,1%
16
9HPGTăngChúng tôi ước tính HPG có thể đạt 8,7 nghìn tỷ đồng lợi nhuận ròng trong Q3/2021, tăng trưởng đáng kể 131% so với cùng kỳ nhờ sản lượng HRC tăng mạnh 167% YoY, đây là mảng có biên lợi nhuận cao nhất trong số các dòng sản phẩm. Ngoài ra, giá thép xây dựng tăng 50% và giá HRC tăng gấp đôi cũng giúp biên lợi nhuận của HPG tăng đáng kể so với cùng kỳ.Khả quanChúng tôi ước tính lợi nhuận ròng của HPG đạt 33 nghìn tỷ đồng trong 2021, tăng 144% so với cùng kỳ và tăng trưởng sản lượng tiêu thụ 15% và 285% so với cùng kỳ đối với mảng thép xây dựng và HRC, cũng như giá các sản phẩm thép tăng 35-50% so với năm 2020. 59.000 55.600 6% 238.854 10.494,0 30.458.170 1.449,78 63,70 26,7%10,27,68,12,32,72,11,2%0,9%0,9%41,6%58,6%6,8%78,2%143,7%-5,5%
17
10HSGTăngChúng tôi ước tính lợi nhuận ròng Q4/2021 năm tài chính tăng 110% lên 950 tỷ đồng nhờ sản lượng tăng 6,5% và giá bán trung bình tăng 72%.Khả quanChúng tôi cho rằng HSG có thể duy trì tăng trưởng lợi nhuận ròng mạnh mẽ so với cùng kỳ trong 1-2 quý tới, nhờ giá thép cao và nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ từ thị trường Mỹ và Châu Âu. Tuy nhiên, biên lợi nhuận gộp có thể điều chỉnh và giảm 2 điểm phần trăm từ mức cao trong 2021 do hết hàng tồn kho giá thấp và giá xuất khẩu điều chỉnh. Do đó, chúng tôi ước tính lợi nhuận ròng của HSG có thể giảm -21% YoY từ mức đỉnh năm 2021 còn 3,35 nghìn tỷ đồng trong 2022. Mặc dù vậy, chúng tôi ước tính giá cổ phiếu có thể tăng trong ngắn hạn nhờ KQKD 6T đầu năm tài chính 2022 khả quan. 48.300 47.600 1% 23.070 1.013,6 12.880.730 480,19 21,10 10,4%6,15,57,31,12,11,60,0%0,0%0,0%-1,8%96,5%-0,3%218,5%270,1%-21,3%
18
11MBBTăngChúng tôi ước tính tăng trưởng tín dụng tại ngân hàng mẹ đạt khoảng 12-13% YTD (+23% YoY) tại thời điểm cuối tháng 9/2021. Tuy nhiên, với các gói giảm lãi suất hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi Covid-19, thu nhập lãi thuần bị ảnh hưởng khoảng 550 tỷ VNĐ (~8% LNTT 6T2021) trong Q3/2021. Theo đó, LNTT ước tính đạt 3,3 - 3,4 nghìn tỷ đồng (tăng +10-12% YoY).Khả quanChúng tôi ưa thích cổ phiếu MBB nhờ hoạt động ổn định và những động thái tích cực trong hành trình số hóa gần đây. Điều này có thể sẽ tạo ra những cơ hội lớn để nâng cao hiệu quả hoạt động và mở rộng cơ sở khách hàng trong thời gian tới. Chúng tôi khuyến nghị Khả quan với giá mục tiêu 1 năm là 35.000 đồng/cp 35.000 27.650 27% 103.715 4.556,7 23.609.300 647,97 28,47 22,1%11,29,27,61,31,71,40,0%0,0%0,0%N.aN.aN.a6,7%42,2%21,0%
19
12MSNTăngTheo kế hoạch của ban lãnh đạo, lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ Q3 có thể hơn 1,4 nghìn tỷ đồng, tăng >40% so với cùng kỳ. Lưu ý rằng, mức so sánh Q3/2020 cao do MSN ghi nhận một khoản lớn thu nhập khác.Trung lậpVề cơ bản, chúng tôi cho rằng KQKD 2021-2022 tích cực của MSN đã phản ánh phần lớn vào định giá năm nay. Năm 2022, chúng tôi ước tính MSN tiếp tục đà tăng trưởng mạnh với LNST cổ đông công ty mẹ đạt 66% so với cùng kỳ, và lợi nhuận từ VCM và MML tiếp tục cải thiện cũng như kết quả mạnh mẽ từ Techcombank. Các yếu tố tác động tích cực bao gồm: (i) các sự kiện doanh nghiệp như bán cổ phần (TCX, MHT và MML (mảng thức ăn chăn nuôi), phát hành riêng lẻ ở cấp Tập đoàn, hay niêm yết TCX và (ii) mảng bán lẻ và khai thác mỏ cải thiện. 153.000 141.700 8% 165.275 7.261,3 1.878.889 213,13 9,36 33,5%84,646,327,96,68,46,50,0%0,0%0,0%106,7%38,5%11,8%-78,1%265,2%51,5%
20
13NT2TăngDựa trên ước tính sản lượng Q3/2021 là 450 triệu kwh (thấp hơn nhiều so với kế hoạch sản lượng hợp đồng (%Qc) khoảng 780 triệu kwh), NT2 có thể nhận bồi thường khoảng 152 tỷ đồng trong kỳ. Theo thông cáo nhà đầu tư tháng 8/2021, tổng LNTT tháng 7 và tháng 8 là 144 tỷ đồng. LNTT Q3/2021 ước tính đạt 200 tỷ đồng so với lỗ Q3/2020 là -5 tỷ đồng (do trùng tu). Chúng tôi ước tính KQKD Q3/2021 có thể tốt hơn thị trường mong đợi, do giá trị bồi thường Qc lớn.Trung lậpLợi nhuận Q3 khá bất ngờ nhờ khoản bồi thường sản lượng Qc. NT2 là công ty không có nợ vay nên không chịu ảnh hưởng từ chi phí lãi và rủi ro tỷ giá, dòng tiền cũng ổn định hơn từ nửa cuối năm 2021. NT2 có thể đạt tỷ suất cổ tức 2021/2022 là 7,3%/8,7%, tốt hơn nhiều so với lãi suất huy động 6-12 tháng tại ngân hàng là 4%-5,5%. Giá mục tiêu 1 năm là 22.900 đồng/cp 22.900 22.350 2% 5.930 260,5 578.453 11,82 0,52 13,7%12,213,811,41,61,61,68,1%7,3%8,7%-20,5%-3,3%15,5%-17,1%-29,3%21,5%
21
14QNSTăngChúng tôi ước tính QNS đạt tăng trưởng LNST là ~40% YoY trong Q3. Kết quả kinh doanh tích cực chủ yếu nhờ đóng góp của mảng đường. Giá đường trong nước tăng hơn 40% YTD, và sản lượng tiêu thụ đường của QNS cũng cải thiện hơn 30% YoY.MuaTrong số các công ty sản xuất đường, QNS dự kiến sản lượng mía nguyên liệu đầu vào sẽ tăng lớn nhất trong năm tới (+50% so với cùng kỳ). Cho niên vụ 2022-2023, QNS kỳ vọng diện tích trồng mía tiếp tục tăng 40%. Với lượng mía nguyên liệu đầu vào tăng, QNS sẽ tăng công suất cho cả hoạt động sản xuất đường và điện sinh khối, thúc đẩy cả doanh thu và lợi nhuận của hai mảng này. Mảng sữa đậu nành mặc dù kém ấn tượng hơn so với mảng đường, cũng ước tính tăng trưởng sản lượng tiêu thụ 6,7% trong 2022, cùng với ước tính biên lợi nhuận gộp tăng +326 bps khi giá đậu nành hạ nhiệt gần đây. Ban lãnh đạo kỳ vọng sẽ duy trì giá mua đậu nành tương đương với năm 2020. Chúng tôi ước tính LNST có thể tăng +26%/+25% YoY trong 2021/2022. 60.800 52.304 16% 18.311 804,5 757.161 25,18 1,11 16,2%11,211,89,41,82,21,96,5%4,9%4,9%-15,5%26,8%30,0%-18,5%25,9%25,0%
22
15STKTăngTrong Q3/2021, STK ước tính đạt 408 tỷ đồng (+25% YoY) doanh thu thuần và 60 tỷ đồng (+199% YoY) lợi nhuận ròng. Mặc dù sản lượng tiêu thụ thị trường trong nước chịu ảnh hưởng do gián đoạn sản xuất và chuỗi cung ứng khi làn sóng bùng phát Covid-19 và những hệ quả sau đó, giá bán trung bình sợi tăng 5% so với quý trước, do công ty ưu tiên công suất để sản xuất sợi chất lượng cao hơn.Trung lậpNăm 2021, chúng tôi ước tính doanh thu thuần và lợi nhuận ròng đạt 2.290 tỷ đồng (+30% YoY) và 264,5 tỷ đồng (+84,5% YoY). Năm 2022, doanh thu thuần và lợi nhuận ròng ước đạt 2.580 tỷ đồng (+12,5% YoY) và 312 tỷ đồng (+17,8% YoY). Giá mục tiêu 1 năm đối với STK là 45.700 đồng/cp dựa trên PE mục tiêu là 10x. STK đang giao dịch tại PE 2021 và 2022 là 12,8x và 10,9x, cao hơn trung bình ngành là 10x. Do đó, chúng tôi khuyến nghị Trung lập. 45.700 54.400 -16% 3.392 149,0 59.385 2,29 0,10 12,4%10,312,810,91,32,72,27,2%1,0%1,0%-20,8%30,0%12,5%-33,1%84,5%17,8%
23
16TCBTăngChúng tôi ước tính TCB có thể đạt 5,2 nghìn tỷ đồng LNTT trong Q3/2021 (+35,7% YoY) nhờ tăng trưởng tín dụng đạt ~16% YTD. Lũy kế 9T2021, LNTT đạt 16,7 nghìn tỷ đồng (+56,2% YoY). Lãi suất huy động trên thị trường giảm xuống mức thấp từ Q3/2020 và duy trì cho đến nay. Trong môi trường lãi suất thấp như vậy, TCB duy trì hiệu quả hoạt động vượt trội nhờ nguồn CASA dồi dào, khả năng duy trì chi phí vốn thấp và chào bán sản phẩm trái phiếu ra công chúng mạnh mẽ, giúp NIM và thu nhập từ phí cải thiện.Khả quanChúng tôi ước tính LNTT 2021 đạt 22,3 nghìn tỷ đồng (+40,8% YoY), dựa trên giả định tăng trưởng tín dụng 23% so với cùng kỳ. Chúng tôi ước tính NIM cải thiện đáng kể lên mức 5,45% do sự cải thiện về chi phí vốn. Trong tương lai, môi trường lãi suất thấp kéo dài sẽ tiếp tục hỗ trợ mảng trái phiếu của ngân hàng. Đồng thời, chiến lược số hóa sẽ giúp TCB cải thiện CASA, và chuyển sang mô hình Ngân hàng giao dịch nhiều hơn. Năm 2022, chúng tôi giảm ước tính LNTT còn 26,7 nghìn tỷ đồng (+19,8% YoY) do ước tính chi phí dự phòng tăng tương đối so với dự báo ban đầu. Điều này do tăng trưởng tín dụng đạt +22,7% YoY và +21% YoY, NIM duy trì ở 5,44%. 58.200 50.000 16% 172.035 7.558,3 16.333.690 818,52 35,96 22,5%13,99,88,22,31,91,50,0%0,0%0,0%N.aN.aN.a23,0%40,8%19,8%
24
17TNHTăngTrong Q3/2021, doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế ước tính lần lượt đạt 123 tỷ đồng (+ 39% YoY) và 60 tỷ đồng (+ 80% YoY). Doanh thu tiếp tục tăng trưởng mạnh, với tỷ lệ lấp đầy cao hơn tại các bệnh viện TNH mới (bệnh viện Thái Nguyên & Yên Bình), trong khi lợi nhuận tăng đáng kể do các đợt điều chỉnh giá khám chữa bệnh gần đây vào tháng 3/2021. Công ty không bị ảnh hưởng nhiều trong đợt bùng phát dịch Covid, do tỉnh Thái Nguyên không áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt và TNH là đơn vị hưởng lợi ròng từ các hoạt động kiểm tra Covid bổ sung cho Samsung Electronic Thái Nguyên và các khách hàng khu công nghiệp lân cận khác.MuaChúng tôi điều chỉnh tăng ước tính lợi nhuận trước đó cho cả năm 2021 và 2022 lần lượt thêm 12% và 16%, do lợi nhuận ổn định ngay cả trong thời kỳ dịch Covid. Chúng tôi ước tính doanh thu thuần của TNH đạt 407 tỷ đồng (+21% YoY) trong năm 2021 và 471 tỷ đồng (+18% YoY) trong năm 2022. Về lợi nhuận, chúng tôi ước tính lợi nhuận sau thuế đạt 126 tỷ đồng (+ 15% YoY) trong năm 2021 và 146 tỷ đồng (+16% YoY) trong năm 2022. Bệnh viện hiện đang được mở rộng quy mô lớn, do đó chúng tôi ước tính CAGR doanh thu thuần và lợi nhuận ròng lần lượt là 22% và 26% trong 5 năm tới. Tại mức giá hiện tại, TNH đang giao dịch với hệ số P / E năm 2021 và 2022 lần lượt là 14,1x và 12,3x. Đây là mức hấp dẫn đối với một công ty đang phát triển nhanh, trong khi vẫn thấp hơn nhiều so với mức P/E trung bình của các công ty bệnh viện trên thế giới là 23x. 51.800 40.750 27% 1.755 77,1 493.991 17,52 0,77 0,4%N.a14,312,3N.a2,42,2N.a0,0%0,0%22,0%21,0%18,0%23,0%15,0%16,0%
25
18TPBTăngChúng tôi ước tính TPB sẽ đạt 1,4 tỷ nghìn đồng lãi trước thuế trong Q3/2021 (+40% YoY). Kết quả này được thúc đẩy nhờ tăng trưởng tín dụng +16% và tăng trưởng tiền gửi +14,2% so với đầu năm, cũng như NIM duy trì ở mức trên 4,5%. Trong khi đó, các khoản cho vay tái cơ cấu có tăng lên tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu không đổi so với quý trước. Lũy kế 9T2021, LNTT đạt mức cao 4,4 nghìn tỷ đồng, + 45,3% YoY.Trung lậpChúng tôi điều chỉnh giảm dự báo LNTT năm 2021 của TPB xuống 5,8 nghìn tỷ đồng (+ 32,9% YoY) vì chúng tôi ước tính chi phí dự phòng cao hơn so với dự báo trước đó do dịch Covid-19. TOI vẫn tích cực nhờ tín dụng tăng trưởng mạnh (+ 26% YoY), NIM cải thiện (4,7%), và thu nhập phí từ bancassurance và hoạt động kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp. Hệ số CIR ước tính giảm xuống 36,5%, nhờ lợi suất tài sản sinh lời cao hơn, cũng như hiệu quả hoạt động được cải thiện. Năm 2022, chúng tôi cũng giảm ước tính LNTT xuống 7,2 nghìn tỷ đồng, + 23,8% YoY. ROE ở mức 21,8% và 20% trong năm 2021 và 2022. TPB đã hoàn tất việc tăng vốn điều lệ thêm 1 nghìn tỷ đồng thông qua phát hành riêng lẻ, điều này cũng giúp ngân hàng có thêm được một khoản thặng dư vốn. Ngân hàng cũng có thể xem xét trả cổ tức bằng cổ phiếu cho năm 2020, điều này có thể là yếu tố hỗ trợ giúp TPB giao dịch ở mức P/B cao hơn. Với P/B mục tiêu cho TPB là 1,8x, chúng tôi đưa ra giá mục tiêu 1 năm là 46.100 đồng/cổ phiếu. 46.100 42.000 10% 49.913 2.192,9 5.791.094 200,88 8,83 30,0%12,29,88,32,61,81,50,0%0,0%0,0%N.aN.aN.a13,5%33,3%23,8%
26
19TRATăngTrong Q3/2021, doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế ước đạt 542 tỷ đồng (+ 18% YoY) và 60 tỷ đồng (+ 23% YoY). Doanh thu của công ty đã có dấu hiệu chậm lại trong quý 3, nhưng vẫn tăng mạnh do hầu hết các tỉnh ở miền Bắc đều trải qua đợt giãn cách ngắn hơn. Công ty cũng được hưởng lợi từ các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu mới kể từ khi bùng phát Covid-19, chẳng hạn như Xuyên tâm liên (giảm ho), vitamin (tăng cường hệ miễn dịch), nước muối sát khuẩn, v.v.Khả quanChúng tôi ước tính tổng doanh thu của TRA đạt 2,19 nghìn tỷ đồng (+ 15% YoY) trong năm 2021 và 2,54 nghìn tỷ đồng (+ 16% YoY) trong năm 2022. LNST dự kiến đạt 275 tỷ đồng (+ 28%) trong năm 2021 & 353 tỷ đồng (+ 29%) trong năm 2022, do công ty (i) đang hưởng lợi từ mức tăng trưởng cao và các yêu cầu khắt khe hơn trong thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam và (ii) danh mục thuốc đa dạng của công ty cũng chứng kiến sự tăng trưởng mạnh đầu tiên về doanh thu, nhờ việc chuyển giao sản phẩm thành công đầu tiên với Daewoong Pharma trong năm 2021, trong mối quan hệ đối tác kéo dài đến năm 2030. 101.500 90.900 12% 3.747 164,6 16.033 1,31 0,06 43,6%15,213,912,52,52,32,05,2%3,7%3,5%11,5%15,0%16,0%28,0%28,0%29,0%
27
20VCBTăngChúng tôi ước tính LNTT Q3/2021 đạt 5 nghìn tỷ đồng, +0,3% YoY, nhờ tăng trưởng tín dụng ~ 11,5% so với đầu năm và tăng trưởng tiền gửi +7,3% so với đầu năm. Lũy kế 9T2021, LNTT đạt 18,6 nghìn tỷ đồng, + 16,3% YoY. KQKD Q3/2021 chịu tác động tiêu cực bởi việc cắt giảm lãi suất để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, và tăng chi phí tín dụng để chuẩn bị cho khả năng nợ xấu cao hơn sau một thời gian dài giãn cách xã hội tại miền Nam. Mặc dù các khoản cho vay tái cơ cấu có thể tăng lên nhưng tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức dưới 1%.Trung lậpCác biện pháp giãn cách xã hội có thể sẽ có tác động lâu hơn đến một số tỉnh miền Nam, cùng với đợt giảm lãi suất thứ 8 để hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi Covid-19. Những yếu tố này khiến chúng tôi tin rằng tỷ lệ hình thành nợ xấu mới sẽ tăng nhanh và thu nhập lãi thuần sẽ chịu áp lực trên một số khía cạnh. Do đó, chúng tôi ước tính LNTT năm 2021 và 2022 lần lượt là 24,3 nghìn tỷ đồng (+ 5,4% YoY) và 29,9 nghìn tỷ đồng (+ 23% YoY). 110.500 96.800 14% 355.681 15.626,8 1.770.506 179,67 7,89 23,6%22,121,117,23,63,22,50,8%0,8%0,8%N.aN.aN.a-0,7%5,4%23,0%
28
21VPBTăngChúng tôi ước tính LNTT hợp nhất đạt 3,2 nghìn tỷ đồng (+ 14% YoY và -36% QoQ). Lợi nhuận giảm mạnh so với quý trước là do Q2/2021 ngân hàng có một khoản lãi từ kinh doanh trái phiếu chính phủ. Nếu loại trừ khoản mục này, tăng trưởng lợi nhuận so với quý trước là -12%.Trung lậpVới khẩu vị rủi ro cao, chúng tôi ước tính VPB sẽ chịu tác động nặng nề hơn từ đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4 so với các ngân hàng cùng ngành. Chúng tôi cũng cho rằng dư nợ tái cơ cấu có thể tiếp tục tăng trong tháng 9/2021 từ mức cao 11 nghìn tỷ đồng (chiếm 3,54% tổng dư nợ) tại thời điểm cuối tháng 6/2021. Theo đó, chúng tôi đang xem xét lại ước tính trong khi chờ báo cáo tài chính Q3/2021 cũng như các số liệu về dư nợ tái cơ cấu sẽ được công bố. 39.300 35.650 10% 157.817 6.933,7 18.409.060 1.194,25 52,47 19,2%5,612,010,31,12,01,50,0%0,0%0,0%N.aN.aN.a26,0%29,4%27,3%
29
22ACVGiảmChúng tôi ước tính lợi nhuận hợp nhất của ACV trong quý này sẽ ở mức âm do Việt Nam đang chịu nhiều tác động từ các đợt giãn cách xã hội. Hầu hết tất cả các máy bay đều không bay trong thời gian này, trong khi công ty vẫn cần duy trì chi phí hoạt động tại tất cả các sân bay.Kém khả quanACV vẫn là công ty hưởng lợi chính từ tăng trưởng dài hạn của ngành du lịch Việt Nam, với việc mở rộng công suất mạnh mẽ trong những năm tới. Chúng tôi kỳ vọng công ty sẽ bắt đầu phục hồi từ năm 2022 và có thể quay trở lại mức lợi nhuận trước dịch Covid-19 từ năm 2024. Trong trường hợp tình hình dịch Covid-19 kéo dài đến năm 2022, công ty sở hữu nền tảng tài chính vững mạnh (với tiền mặt ròng khoảng 18 nghìn tỷ đồng), vì vậy chúng tôi không thấy có quá nhiều rủi ro giảm giá. Tuy nhiên, giá mục tiêu 77.600 đồng/cổ phiếu của chúng tôi thấp hơn giá hiện tại (dựa trên EV/EBITDA 2024 là 18x), vì vậy chúng tôi duy trì khuyến nghị KÉM KHẢ QUAN đối với cổ phiếu 77.600 85.754 -10% 180.687 7.938,4 226.062 14,15 0,62 3,6%105,0162,085,04,84,94,90,0%0,0%0,0%-57,5%-5,8%61,2%-79,0%-27,0%90,7%
30
23DBCGiảmTrong Q3/2021, DBC dự kiến sẽ đạt doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế lần lượt là 3,3 nghìn tỷ đồng (+ 30% YoY) và 138 tỷ đồng (-64% YoY). Mặc dù giá lợn hơi giảm -38% YoY trong Q3/2021, nhưng giá thức ăn chăn nuôi đã tăng khoảng 25% YoY. Chúng tôi ước tính tỷ suất lợi nhuận gộp chung sẽ giảm đáng kể do giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu tăng (làm gia tăng chi phí của biên lợi nhuận gộp chăn nuôi). Mặc dù vậy, DBC vẫn hoàn thành lần lượt 89% và 87% kế hoạch doanh thu và lợi nhuận sau thuế cả năm.Trung lậpTrong năm 2021, chúng tôi ước tính doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế lần lượt đạt 11,9 nghìn tỷ đồng (+ 19% YoY) và 980 tỷ đồng (-30% YoY). Năm 2022, chúng tôi ước tính doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế lần lượt đạt 12,7 nghìn tỷ đồng (+ 6,6% YoY) và 1 nghìn tỷ đồng (+ 2,5% YoY). Chúng tôi đưa ra giá mục tiêu 1 năm đối với DBC là 61.500 đồng/cổ phiếu dựa trên P/E mục tiêu không đổi là 7,5x, do đó khuyến nghị dành cho cổ phiếu là TRUNG LẬP. Hiện tại, chúng tôi giả định rằng chuỗi giá trị chăn nuôi (cả trồng trọt và phân phối) được nối lại, vì tình hình dịch Covid-19 hiện đang được kiểm soát. Như vậy, nguồn cung và cầu lợn hơi sẽ tăng cao trong thời gian cận Tết. Chúng tôi giả định giá lợn hơi năm 2021 và 2022 không thay đổi, lần lượt là 65.000 đồng/kg (-13% YoY) và 59.000 đồng/kg (-9% YoY). 61.600 59.000 4% 6.453 283,5 2.243.410 127,89 5,62 3,8%4,36,76,61,41,31,12,6%3,7%1,9%39,4%18,9%6,6%358,9%-30,0%2,5%
31
24GASGiảmChúng tôi ước tính LNST của cổ đông công ty mẹ trong Q3 có thể đạt khoảng 1,7 nghìn tỷ đồng, giảm -18% YoY. Sự sụt giảm lợi nhuận có thể do sản lượng khí bán cho các khách hàng khu công nghiệp thấp (giảm khoảng 20-30% YoY) từ chính sách giãn cách nghiêm ngặt ở một số tỉnh miền Nam. Giá dầu nhiên liệu và LPG tăng đáng kể giúp bù đắp cho sản lượng khí giảm mạnh.Khả quanNăm 2021, chúng tôi giảm ước tính sản lượng khí từ 8,15 bcm xuống 7,75 bcm để phản ánh tác động của đợt giãn cách nghiêm ngặt trong quý 3 đối với mức tiêu thụ khí khô của khu công nghiệp và nhà máy điện, quý 4 sẽ dần phục hồi. Tuy nhiên, giá dầu cao hơn có thể sẽ bù đắp phần nào cho việc giảm sản lượng. Chúng tôi ước tính doanh thu và lợi nhuận sau thuế năm 2021 lần lượt đạt 73,7 nghìn tỷ đồng (+19,5% so với cùng kỳ) và 8,8 nghìn tỷ đồng (+8,6% so với cùng kỳ), gần như không thay đổi so với ước tính trước đó của chúng tôi. Năm 2022, chúng tôi ước tính doanh thu và lợi nhuân sau thuế lần lượt tăng 23,6% và 25,2% so với cùng kỳ, nhờ vào sự phục hồi sản lượng khí mạnh mẽ (25% YoY lên 9,6 bcm, thấp hơn khoảng 3% so với mức sau Covid-19) 118.500 111.000 7% 198.094 8.703,2 1.001.221 89,87 3,95 2,7%20,923,018,33,63,83,54,6%2,9%2,9%-10,7%19,5%23,6%-32,3%8,6%25,2%
32
25IMPGiảmTrong Q3/2021, tổng doanh thu và lợi nhuận sau thuế ước tính lần lượt đạt 286 tỷ đồng (-13% YoY) và 47 tỷ đồng (-15% YoY). IMP là một trong những công ty dược phẩm bị ảnh hưởng nhiều nhất trong đợt bùng phát dịch lần thứ 4, vì cả hoạt động sản xuất và phân phối đều bị gián đoạn trong quá trình thực thi Chỉ thị 16, chưa kể đến các yêu cầu của Chính phủ về việc thực hiện "ba tại chỗ" ở một số tỉnh ở miền Nam.Trung lậpChúng tôi quyết định điều chỉnh giảm 16% ước tính lợi nhuận trước đây cho năm 2021 do đợt bùng phát dịch thứ 4. Chúng tôi ước tính tổng doanh thu của IMP đạt 1,45 nghìn tỷ đồng (+3% YoY) trong năm 2021 và 1,63 nghìn tỷ đồng (+12% YoY) trong năm 2022. Lợi nhuận ròng đạt 221 tỷ đồng (+4% YoY) trong năm 2021 và 253 tỷ đồng ( +15% YoY). IMP hoạt động hiệu quả hơn trong năm 2022, khi các đợt giãn cách xã hội dần nới lỏng. Công ty cũng đang chuẩn bị hoàn tất quy trình phê duyệt GMP của EU cho nhà máy thứ 4 trong năm 2022. Nếu các chuyến bay quốc tế mở cửa trở lại sẽ giúp thúc đẩy quá trình này. Giá hoạt chất đầu vào (API) cũng đang giảm nhanh chóng sau khi lập mức cao kỷ lục trong năm 2021, điều này sẽ giúp thúc đẩy kết quả lợi nhuận tốt hơn. 76.000 73.500 3% 4.867 213,8 37.290 2,71 0,12 49,0%15,215,113,92,22,11,94,5%3,3%3,4%-2,4%3,0%12,0%26,0%4,0%15,0%
33
26MWGGiảmChúng tôi ước tính MWG đạt 709 tỷ đồng (-25% YoY) lợi nhuận sau thuế. Sự sụt giảm lợi nhuận có thể được giải thích bởi việc đóng cửa cửa hàng ĐMX/TGDĐ (khoảng 2.000 cửa hàng trong tháng 7 và tháng 8), và việc hạn chế dịch vụ giao hàng tận nhà tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam. Trong khi đó, mảng bách hóa giúp thu hẹp mức giảm lợi nhuận, do BHX được hưởng lợi từ việc tích trữ hàng tiêu dùng, cũng như việc đóng cửa các chợ truyền thống và chợ bán buôn.Khả quanTừ ngày 16/9, các tỉnh miền Nam đã bắt đầu nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội, cho phép MWG phục vụ khách hàng tại cửa hàng và cung cấp dịch vụ giao hàng tận nhà tại các khu vực có nguy cơ dịch thấp. Do đó, lợi nhuận sẽ cải thiện từ Q4/2021. Chúng tôi ước tính lợi nhuận ròng năm 2021 và 2022 lần lượt đạt 4,5 nghìn tỷ đồng (+14% YoY) và 6,0 nghìn tỷ đồng (+ 35% YoY). Tăng trưởng lợi nhuận năm 2022 được thúc đẩy bởi (1) sự cải thiện lợi nhuận của mảng bách hóa và (2) sự phục hồi của mảng ICT từ mứcthấp của năm 2021. Chúng tôi đưa ra mức giá mục tiêu là 143.000 đồng/cp dựa trên ước tính lợi nhuận năm 2022. 143.000 128.000 12% 89.969 3.952,8 1.449.974 151,96 6,68 49,0%13,720,114,93,54,73,71,3%1,4%1,4%6,2%7,1%19,6%2,2%14,5%34,5%
34
27PNJGiảmTrong Q3/2021, PNJ dự kiến đạt doanh thu thuần 1,13 nghìn tỷ đồng (-71,2% YoY), với mức lỗ ròng -140 tỷ đồng (lãi ròng đạt 202 tỷ đồng trong Q3/2020). Điều này phù hợp với các ước tính trước đây của chúng tôi, do các đợt giãn cách xã hội kéo dài ở TP.HCM, Hà Nội và các tỉnh miền Nam kể từ đầu tháng 7. Trong quý, PNJ đã đóng cửa 274 cửa hàng (chiếm 82% tổng số cửa hàng), trong khi doanh thu bán hàng trực tuyến chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu.Trung lậpNăm 2021, chúng tôi ước tính doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế sẽ giảm nhẹ, lần lượt đạt 17,2 nghìn tỷ đồng (-1,8% YoY) và 971 tỷ đồng (-9,2% YoY). Năm 2022, chúng tôi kỳ vọng nền kinh tế sẽ phục hồi và hỗ trợ sản phẩm tiêu dùng không thiết yếu, giúp doanh thu thuần và lợi nhuận ròng lần lượt đạt 20,3 nghìn tỷ đồng (+18,4% YoY) và 1,35 nghìn tỷ đồng (+39% YoY). Chúng tôi đưa ra giá mục tiêu 1 năm cho PNJ là 101.300 đồng/cổ phiếu (+12,4% so với giá hiện tại) dựa trên hệ số P/E mục tiêu không đổi là 18,5x, do đó chúng tôi đưa ra khuyến nghị TRUNG LẬP đối với cổ phiếu. Ở mức 90.100 đồng/cổ phiếu, PNJ đang giao dịch ở mức hệ số P/E năm 2021 và 2022 lần lượt là 23,2x và 16,5x.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi các dấu hiệu phục hồi của nhu cầu trong vài tháng tới, tuy vậy làn sóng bùng phát dịch Covid-19 gần đây ở Việt Nam tạo điều kiện để PNJ tiếp tục tăng thị phần do nhiều đối thủ cạnh tranh thu hẹp hoạt động hoặc đóng cửa
101.300 97.000 4% 22.509 988,9 594.236 56,23 2,47 49,0%18,825,518,13,83,63,12,5%2,0%1,8%3,0%-1,8%18,4%-10,4%-9,2%39,0%
35
28PPCGiảmPPC trong Q3/2021 dự kiến sẽ hạn chế thua lỗ nhờ cổ tức nhận được từ QTP, khoảng 74 tỷ đồng. Lợi nhuận quý 3 kém khả quan do khối lượng phát điện sụt giảm, một phần là do các vấn đề kỹ thuật. Khối lượng của tháng 7 và tháng 8/2021 giảm -38% YoY, tương ứng giảm -19% về khối lượng trung bình mỗi tháng so với Q2/2021. Thêm vào đó, Q2/2021 đạt lợi nhuận dương 120 tỷ đồng, nhờ 200 tỷ đồng từ cổ tức HND trả cho PPC, mặc dù lợi nhuận gộp lỗ 70 tỷ đồng.Kém khả quanLợi suất cổ tức thấp hơn 4,9% trong năm 2021/2022 so với mức 24% trong năm 2020 là một điểm kém khả quan. Lợi nhuận giảm đáng kể trong 6 tháng cuối năm 2021 (-58% YoY) cũng có thể gây ra áp lực. Hơn nữa, chúng tôi cũng lo ngại về nguy cơ giá than nhiệt điện trong nước tăng vọt trong năm 2022 nếu nền kinh tế mở cửa trở lại hoàn toàn, nhu cầu nhiệt điện tăng cao. Do đó, chúng tôi đưa ra khuyến nghị Kém khả quan đối với PPC, với giá mục tiêu 1 năm là 19.900 đồng 19.900 23.300 -15% 7.358 323,3 411.969 10,34 0,45 14,8%13,218,417,41,21,61,524,1%4,9%4,9%-3,1%-44,0%51,2%-19,8%-52,1%6,0%
36
29PVSGiảmChúng tôi ước tính PVS đạt LNTT hợp nhất khoảng 200 tỷ đồng, -29% YoY, do các biện pháp giãn cách xã hội đã dẫn đến việc giảm khối lượng công việc và giá đối với hầu hết các mảng hoạt động của PVS.Trung lậpKQKD Q3/2021 đạt được thấp do tình hình dịch COVID-19, chúng tôi điều chỉnh giảm ước tính LNST năm 2021 xuống 668 tỷ đồng, + 3% YoY. Với triển vọng giá dầu tăng cao trong các tháng cuối năm 2021 và năm 2022 (giá dầu Brent trên 70 USD/thùng), chúng tôi kỳ vọng công ty sẽ cải thiện giá bán bình quân đối với một số mảng trong năm 2022. Chúng tôi không nhận thấy có sự tăng trưởng quá lớn về khối lượng công việc tại các dự án, do thông thường các dự án dầu khí cần có thời gian thực hiện các hoạt động thăm dò trước khi hoạt động EPC/xây lắp bắt đầu. Và đáng chú ý, EPC/xây lắp là hoạt động kinh doanh chính của PVS. Do đó, chúng tôi duy trì khuyến nghị TRUNG LẬP đối với cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, và giá mục tiêu 1 năm là 28.000 đồng/cổ phiếu. 28.000 28.400 -1% 13.718 602,7 11.656.890 307,11 13,49 7,7%19,716,616,00,90,80,85,6%3,5%3,5%17,6%-19,0%16,4%-26,0%3,2%2,9%
37
30SABGiảmTrong Q3/2021, SAB dự kiến đạt doanh thu thuần và lợi nhuận ròng lần lượt là 4 nghìn tỷ đồng (-50% YoY) và 1 nghìn tỷ đồng (-30% YoY) do các quy định giãn cách xã hội kéo dài ở TP HCM, Hà Nội và các tỉnh khác ở miền Nam từ đầu tháng 7. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, chúng tôi ước tính tác động tiêu cực đến Heineken sẽ nhiều hơn so với các công ty khác, vì TP.HCM là thị trường chính. Do đó, chúng tôi cho rằng SAB có thể đã lấy lại được thị phần đã mất trước đóMuaChúng tôi điều chỉnh ước tính kể từ báo cáo gần đây nhất để phản ánh chính sách giãn cách xã hội kéo dài hơn dự kiến, điều này ảnh hưởng đến kết quả quý 3. Năm 2021, chúng tôi ước tính SAB sẽ đạt doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế lần lượt là 25,7 nghìn tỷ đồng (-8% YoY) và 4,55 nghìn tỷ đồng (-7,9% YoY). Với mức tương đương năm 2022, chúng tôi ước tính SAB sẽ đạt doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế lần lượt là 30 nghìn tỷ đồng (+ 16,6% YoY) và 5,1 nghìn tỷ đồng (+ 11,2% YoY). Điều này tương đương với mức giảm - 12% lợi nhuận ròng trong năm 2021 và 2022 so với ước tính trước đó. Chúng tôi đưa ra mức giá mục tiêu 1 năm là 192.000 đồng dựa trên P/E mục tiêu là 28x và phương pháp DCF.
Với việc giành lại thị phần, kết hợp với với hệ thống bán hàng mạnh nhất trong ngành, chúng tôi kỳ vọng sự phục hồi mạnh của SAB trong tương lai.
192.000 158.600 21% 98.886 4.344,5 190.759 30,40 1,34 62,7%27,324,121,86,34,13,51,8%2,3%3,2%-26,2%-8,0%16,6%-8,1%-7,9%11,2%
38
31VEAGiảmTrong Q3/2021, doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế ước tính lần lượt đạt 420 tỷ đồng (-56% YoY) và 977 tỷ đồng (-42% YoY). Doanh thu xe máy giảm -46% YoY trong Q3/2021, trong khi doanh thu ô tô giảm -29% YoY trong đợt bùng phát dịch thứ 4 tại Việt Nam. Như vậy, hầu hết các mảng kinh doanh cốt lõi của VEA và công ty liên doanh đều sụt giảm sâu.Kém khả quanVEA đã trải qua 2 năm liên tiếp kém khả quan sẽ dẫn đến việc chia cổ tức thấp cho giai đoạn 2022 - 2023. Doanh thu xe máy bão hòa ước tính sẽ chững lại sau 4 đợt bùng phát dịch bệnh tại Việt Nam, điều này có khả năng làm giảm phần lớn lợi nhuận từ các công ty liên doanh của VEA. Các điểm kém khả quan khác bao gồm (i) doanh thu hoạt động tài chính của VEA ngày càng thấp do thu được ít hơn từ tiền gửi, (ii) kế hoạch chuyển niêm yết sang sàn HNX kéo dài hơn, (iii) hàng tồn kho lạc hậu vẫn chưa được giải quyết. Do đó, chúng tôi quyết định giữ nguyên khuyến nghị KÉM KHẢ QUAN đối với VEA. 39.000 41.909 -7% 55.278 2.428,6 269.169 9,87 0,43 5,7%13,213,512,12,93,33,113,2%12,5%9,8%-18,3%-23,5%31,0%-23,8%-16,0%15,0%
39
32VIBGiảmMặc dù tăng trưởng tín dụng đạt + 11% so với đầu năm, nhưng thu nhập lãi thuần của ngân hàng vẫn bị ảnh hưởng tiêu cực do VIB tăng cường tái cơ cấu để hỗ trợ khách hàng. Theo kế hoạch tái cơ cấu nợ, thu nhập lãi của các khoản cho vay có liên quan không được ghi nhận vào báo cáo kết quả kinh doanh. Ngoài ra, mảng kinh doanh bancassurance, vốn thường chiếm 20% lợi nhuận trước thuế của VIB, bị áp lực trong thời gian dài giãn cách. Theo đó, LNTT Q3/2021 ước tính đạt 1,3 - 1,4 nghìn tỷ đồng (-16% YoY). Luỹ kế 9T2021, LNTT dự báo đạt 5,5 nghìn tỷ VNĐ, tăng trưởng +36,6% so với cùng kỳ 2020.Không khuyến nghịVIB có thế mạnh về cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, bancassurance và kinh doanh thẻ tín dụng. Chúng tôi kỳ vọng mảng bancassurance sẽ phục hồi vào Q4/2021 từ trạng thái trì trệ trong Q3/2021, nhờ việc mở cửa dần trở lại ở một số thành phố nhất định. Tuy nhiên, VIB đang giao dịch ở mức định giá cao hơn so với các ngân hàng cùng ngành, với P/B năm 2021 là 2,1x so với mức trung bình của các ngân hàng cùng ngành là 1,8x.N.a 34.350 N.a 53.273 2.340,5 1.625.050 69,64 3,06 20,5%5,79,47,72,02,31,70,0%0,0%0,0%N.aN.aN.a42,1%25,4%22,3%
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57
58
59
60
61
62
63
64
65
66
67
68
69
70
71
72
73
74
75
76
77
78
79
80
81
82
83
84
85
86
87
88
89
90
91
92
93
94
95
96
97
98
99
100