1 of 32

Chủ đề:

Văn học hiện đại

BẾP LỬA

2 of 32

(Bằng Việt)

3 of 32

I. ĐỌC, TÌM HIỂU CHÚ THÍCH:

1. Tác giả:

- Bằng Việt là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

(Bằng Việt)

- Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm và mơ ước tuổi trẻ.

4 of 32

Tôi viết bài thơ Bếp lửa năm 1963, lúc đang học năm thứ 2 Đại học tổng hợp Quốc gia Kiev( Ukraina). Mùa đông nước Nga rất lạnh, phải đốt lò để sưởi. Ngồi sưởi lửa, tôi bỗng nhớ đến “ Bếp lửa” quê nhà, nhớ bà tôi, nhớ người nhóm bếp. Xa bà, xa gia đình khi đã trưởng thành tức là có độ lùi xa để nhớ và suy ngẫm những giá trị tinh thần nên bài thơ viết rất nhanh. Viết “Bếp lửa”, tôi chỉ muốn giãi bày tâm trạng thật của lòng mình”

“Bà nội tôi là một phụ nữ nông dân chân chất, bình dị. Với tôi, bà là hiện thân của sự cần cù, nhẫn nại và đức hy sinh.”

5 of 32

2. Tác phẩm:

* Hoàn cảnh sáng tác : Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang học ngành Luật ở nước ngoài.

* Thể thơ: tám chữ (kết hợp 7 chữ, 9 chữ)

*Phương thức biểu đạt:

Biểu cảm kết hợp với tự sự, miêu tả, bình luận.

6 of 32

- Bài thơ là lời của người cháu ở nơi xa nhớ về bà, những kỉ niệm với bà, nói lên lòng kính yêu bà và những suy ngẫm về bà.

- Nhân vật trữ tình : Người cháu

* Mạch cảm xúc: Từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm

* Mạch cảm xúc và bố cục bài thơ:

7 of 32

* Bố cục: 4 phần

  • Phần 1: (Đoạn 1)Từ đầu -> ... “nắng mưa” : Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc nhớ bà.
  • Phần 2: (Đoạn 2,3,4,5) “Lên bốn” ->... “dai dẳng”: Hồi tưởng những kỉ niệm thời thơ ấu bên bà và bếp lửa.
  • Phần 3: (Đoạn 6) “Lận đận”-> ...”bếp lửa”: Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.
  • Phần 4: (Đoạn cuối) Cháu đã trưởng thành, đi xa nhưng vẫn không nguôi nhớ bà.

8 of 32

II. TÌM HIỂU VĂN BẢN:

  • Điệp ngữ “một bếp lửa” -> nhấn mạnh, khắc sâu hình ảnh bếp lửa – một hình ảnh ấm áp, gần gũi, bình dị, quen thuộc bao đời trong mỗi gia đình Việt Nam

1. Bếp lửa khơi nguồn cảm xúc nhớ bà:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

=> Đánh thức dòng hồi tưởng của cháu về bà.

9 of 32

II. TÌM HIỂU VĂN BẢN:

- Từ láy “chờn vờn” -> Gợi bếp lửa thực bập bùng trong sương sớm, gợi sự ám ảnh day dứt trong tâm trí của tác giả

- “ấp iu” (ấp ủ + nâng niu) -> Gợi đôi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo của người nhóm lửa, gợi tấm lòng chăm chút của bà dành cho con cháu

1. Bếp lửa khơi nguồn cảm xúc nhớ bà:

10 of 32

- Hình ảnh ẩn dụ “ nắng mưa”

-> Gợi vẻ đẹp tần tảo, chịu thương chịu khó của bà -> Người cháu thương bà vô hạn – Nỗi nhớ thương chân thành của cháu gửi đến bà, người suốt đời khó nhọc, vất vả vì con vì cháu.

1. Bếp lửa khơi nguồn cảm xúc nhớ bà.

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.

11 of 32

II. TÌM HIỂU VĂN BẢN:

1. Bếp lửa khơi nguồn cảm xúc nhớ bà.

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

=> Đoạn thơ thể hiện được tình yêu thương của người bà dành cho cháu, đồng thời thể hiện nỗi nhớ thương của người cháu đối với bà.

12 of 32

2. Những kỉ niệm tình bà cháu và hình ảnh bà trong hồi tưởng của tác giả (Đoạn 2, 3, 4, 5)

* Lên bốn tuổi :

- “cháu đã quen mùi khói. . .năm đói mòn đói mỏi

. . . Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay !”

=> Lời thơ giản dị, chi tiết chân thực, kết hợp kể, tả, biểu cảm, từ ngữ gợi hình, gợi cảm, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “cay”

13 of 32

14 of 32

Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối! �Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng! �Quên làm sao mối thù hận khôn cùng! �Quên sao được hai triệu người chết đói!” �(Bàng Bá Lân). 

15 of 32

“Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”!

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy”

16 of 32

2. Những kỉ niệm tình bà cháu và hình ảnh bà trong hồi tưởng của tác giả:

+ Lên bốn tuổi (Đoạn 2)

=> Nỗi ám ảnh về những năm tháng tuổi thơ có nhiều gian khổ, nhọc nhằn thiếu thốn, đói nghèo nhưng hạnh phúc -> kỉ niệm sâu sắc, in đậm trong kí ức

=> Niềm xúc động, nỗi nhớ thương ngậm ngùi của người cháu khi nhớ về kỉ niệm tuổi thơ.

17 of 32

- phương thức tự sự + biểu cảm trực tiếp, điệp ngữ, liệt kê

*Kỉ niệm tám năm ở cùng bà (Đoạn 3)

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Mẹ cùng cha công tác bận không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,�Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,�Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,”

18 of 32

=> Hình ảnh bà, kỉ niệm tình bà cháu luôn gắn với bếp lửa -> Bếp lửa là biểu tượng cho tình bà ấm áp, là sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà

-> Tình bà cháu quấn quýt, sâu nặng: bà tận tụy, chu đáo, giàu tình yêu thương cháu con, cháu hiểu và yêu thương bà chân thành, sâu sắc

19 of 32

* Kỉ niệm tám năm ở cùng bà:

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế

Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà,�Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

=> Điệp ngữ, câu hỏi tu từ, giọng thơ tha thiết, cảm động

-> Âm thanh tiếng tu hú gợi tình cảnh vắng vẻ, cô quạnh của hai bà cháu

=> nỗi lo lắng, nhớ thương bà da diết, khắc khoải khi cháu đi xa nhà.

20 of 32

* Kỉ niệm khi giặc càn (Đoạn 4)

  • giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”

-> Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc.

-> Cảnh xóm làng bị tàn phá đau thương.

-> Chiến tranh khốc liệt.

=> Bà có tinh thần vững vàng, bền bỉ vượt qua khó khăn, thử thách.

21 of 32

Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố

Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

-> Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố - giúp ta hình dung giọng nói, tiếng nói, tình cảm và suy nghĩ của bà và làm sáng lên phẩm chất của người bà, người mẹ Việt Nam yêu nước, đầy lòng hy sinh, …

22 of 32

-> Điệp ngữ “một ngọn lửa”, hình ảnh biểu tượng có sức khái quát cao, kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào.

“Rồi sớm rồi chiều … dai dẳng”

* Đoạn 5:

=>Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”. Một hình tượng rất ý nghĩa. “Bếp lửa bà nhen” sớm sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng” bền bỉ và bất diệt.

23 of 32

3/. Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà:( Đoạn 6)

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”

-> Cuộc đời bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả. Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình.

=> Vần thơ chứa đựng bao nghĩa nặng tình sâu. Cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà

24 of 32

- “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương …

Nhóm nồi xôi gạo …

Nhóm dậy cả những … tuổi nhỏ”

 -> Điệp ngữ “nhóm” trong 4 câu thơ có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp, nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể:

+ “Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm” -> để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh của sương sớm

+ Nhóm niềm yêu thương…” -> vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của bà.

25 of 32

+ Nhóm nồi xôi gạo mới …” -> lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt sẻ bùi

+ Nhóm dậy . . . tuổi nhỏ” -> mang nghĩa trừu tượng: khơi dậy trong tâm hồn cháu tình yêu thương và  khát vọng tuổi thơ đã sáng bừng lên từ ngọn lửa do bà”nhóm” suốt mấy chục năm trời.

=> Nhấn mạnh, khẳng định giá trị lớn lao bà đã làm từ việc nhóm bếp lửa đến việc bà đã khơi dậy tình yêu thương, sự sống cho cháu, mọi người.

26 of 32

“Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”

-> Đảo ngữ kết hợp với hình thức cảm thán -> Thể hiện sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên vì đã khám phá ra điều kì diệu giữa cuộc sống bình dị. -> Bếp lửa bà nhóm lên bằng chính ngọn lửa trong lòng bà – ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương , niềm tin.

=> Bếp lửa bình dị mà cao quí, thân thuộc mà kì lạ ->Gắn liền với hình ảnh người bà.

27 of 32

4/. Nỗi nhớ về bà và bếp lửa (Khổ cuối)

- Lời tự bạch của người cháu đi xa không nguôi nhớ về bà.

  • Hoàn cảnh hiện tại của cháu:

+ Tác giả giờ đã lớn khôn, trưởng thành, đi xa, biết đó biết đây: Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu”

+ Cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ: khói trăm tàu”, “có lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”

-> Điệp ngữ “có”, cùng với phép liệt kê => mở ra một thế giới rộng lớn, đồng thời cho thấy nỗi nhớ của cháu về bà.

28 of 32

- Thế nhưng, dù ở bất cứ đâu cháu vẫn không quên được tấm lòng ấm áp, hi sinh của bà: “Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở”

  • Câu hỏi tu từ kết thúc bài thơ:

“- Sớm mai này … lên chưa?”

  • Khẳng định nỗi nhớ bà luôn thường trực, khắc khoải trong lòng cháu.

=> Nỗi nhớ về bà cũng là nhớ về quê hương, cội nguồn, là đạo nghĩa thủy chung của con người Việt Nam.

29 of 32

=> Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu thương và lòng biết ơn chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.

* Ý nghĩa triết lý của khổ cuối:

30 of 32

* Nhan đề:

- Hình ảnh bếp lửa xuất hiện 10 lần trong bài -> Hình tượng trung tâm của bài

- Hình ảnh thực: bếp – quen thuộc của mỗi gia đình Việt Nam.

- Hình ảnh biểu tượng – gắn với hình ảnh người bà:

+ Gợi lên tấm lòng và phẩm chất của bà

+ Gợi tình cảm bà cháu gắn bó với nhau

+ Nhắc nhở về cội nguồn, quê hương, đất nước.

31 of 32

III. TỔNG KẾT:

1. Nghệ thuật:

  • Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận.
  • Sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà.

2. Nội dung:

Bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỷ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

32 of 32

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC

  1. Học thuộc lòng bài thơ.
  2. Nắm nội dung của tiết học: Phân tích các tín hiệu nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, nhịp điệu/ âm điệu…) để làm nổi bật nội dung (ý thơ, cảm xúc của tác giả):

+ Hình ảnh người bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.

+ Tình cảm yêu thương, chăm sóc chi chút của bà dành cho cháu.

3. Đọc trước và soạn bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy