1 of 14

DẠY HỌC TOÁN TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI CT GD PHỔ THÔNGTRẦN NGỌC GIAO�(HVQLGD)

2 of 14

  1. Tiếp cận phát triển phẩm chất và năng lực

- Tiếp cận năng lực là xu thế chung

- GD muôn đời nay mong muốn là :

+ Về con người cá nhân : phải sinh tồn và phát triển

+ Về con người xã hội : biết cách sống cùng xã hội

+ Bao trùm và xuyên suốt là GD CN biết HĐ có suy nghĩ , tư duy như là nền tảng, là điều kiện tiên quyết để có hai điều trên.

+ Bối cảnh PT (toàn cầu hóa, KT tri thức, ICTs) cần thêm năng lực công cụ.

Có thể diễn đạt khác nhau nhưng cần phát triển :

- NL Tư duy và hành động có suy nghĩ

- NL quan hệ với tự nhiên

- NL quan hệ với xã hội

- NL công cụ và giá trị toàn cầu ( ICTs và Ngôn ngữ QT)

( thứ tự ưu tiên, thời lượng, nội dung và PP ? để có PC&NL tránh môn nào cũng cho là quan trọng)

3 of 14

2. Phẩm chất và năng lực có được và được thể hiện qua hoạt động

"Nhân cách không được hình thành từ những gì được nghe và nói mà là từ hành động và sự chuyên cần“ (Einstein)

Cứu cánh của giáo dục là:

  • a) Giáo dục thông qua hoạt động (huấn luyện hành động);
  • b) Giáo dục phải tạo ra sự suy nghĩ độc lập cho cá nhân, và
  • c) HS tự nhận biết được cái mà đời sống họ cần khi họ hội nhập và phục vụ cộng đồng.

4 of 14

3. Để phát triển PC&NL, PP dạy học nào là hiệu quả nhất ?

- KN Hàn quốc, Singapore

- Tổng kết của Hoa Kì :

Cho đến nay PP lấy thế giới thực làm TT vẫn là PP dạy học toán có hiệu quả nhất với các lợi thế :

+ Dễ được kích thích và lôi kéo tham gia.

+ Dễ dàng nhận mục tiêu học tập.

+ Dễ chuyển hóa kiến ​​thức mà họ sở hữu.

+ Là PP thích hợp nhất đối với trẻ vị thành niên.

(Lưu ý: ICTs cũng là vấn đề của "thế giới thực“; Tích hợp & khái quát).

5 of 14

4. Dạy học toán và yêu cầu phát triển PC&NL

- Học toán để luyện tập tư duy, phát hiện và giải quyết vấn đề,... ; là công cụ không thể thiếu để học tập các bộ môn khoa học khác…..

Galilei đã có câu nói bất hủ "Cuốn sách tự nhiên có thể được viết bằng ngôn ngữ toán học“

- Qua lịch sử phát triển từ sơ cấp cho đến hiện đại , toán học có ba loại cấu trúc:

+ Cấu trúc thứ tự

+ Cấu trúc đại số (phần tử và các quan hệ)

+ Cấu trúc vị trí ( Topo)

Phải chăng chúng thuộc những vấn đề cốt lõi của nhận thức và ứng xử với tự nhiên và trong xã hội.

6 of 14

Một số nhận xét :

i) Toán học có logic chặt chẽ nhưng với GD CS, trải nghiệm trước & logic sau (có vòng lặp( thực tế này được lưu ý trong cả quá trình) .

ii) Toán học có logic chặt chẽ nhưng “không tự CM được mình đúng”, chỉ có thể kiểm nghiệm trong một hệ quy chiếu nhất định, qua thực tiễn và những KH khác.

iii) Phương pháp lấy thực tiễn làm trung tâm là PP hiệu quả nhất nhưng khái quát là sức mạnh của tư duy, đặc biệt tư duy toán học, phải hướng dẫn HS khái quát thông qua trải nghiệm, tích hợp và suy luận logic.

iv) Phương châm dạy học toán( và cả của chương trình PT)

- Quay về cái cơ bản

- Quay về cái cơ bản để thích ứng

- Nền tảng hôm nay, học vấn ngày mai ( Học tính, tập đọc)

7 of 14

  • v) Có sự khác nhau, nhưng không nên và cũng không thể quá chi ly, rạch ròi về sự khác nhau giữa dạy học tiếp cận nội dung và dạy học tiếp cận PT năng lực.

Trước : kiến thức- kĩ năng - thái độ.

PT năng năng lực cần lưu ý rằng năng lực có được thông qua hoạt động, trải nghiệm và tích hợp, và cần:

- Liên kết Kiến thức + Kĩ năng + tạo lập thái độ ( hiểu-làm-tạo niềm tin)

- Trao đổi Kiến thức+Kĩ năng +Thái độ (tích hợp, tao các vòng lặp hiểu – làm - tin & tự tin)

vi) Cần chú ý sở trường, tiềm năng cả cá tinh của HS và đừng bao bọc, áp đặt, làm thay và cũng đừng bỏ sót HS, tạo sự chủ động tư tin cho HS sẽ đạt được mục tiêu ( mọi HS có thể học, hiểu được, làm được mới tự tin, thiếu tự tin thì?)

8 of 14

5. Nghề dạy học và đào tạo giáo viên

  1. Quan niệm:

-Trung tâm của giáo dục là sự thật và thực tiễn, chương trình đào tạo giáo viên phải tôn trọng bằng chứng thực tiễn và khoa học.

- Dạy học là một nghề thực hành dựa trên cơ sở kiến thức chuyên môn và hiểu biết về GD&XH

- Giảng viên các môn khoa học, giáo viên giỏi cốt cán phải nhập cuộc trọn vẹn thường xuyê n vào quá trình GD, đào tạo và bồi dưỡng GV

- Một nghề trình độ cao, được đặt trong bối cảnh học suốt đời

- Một nghề dựa trên các quan hệ đối tác và làm việc với người khác.

- Một nghề làm việc với tri thức ,công nghệ và thông tin

Cái gốc của GV là : Đạo đức&Tận tâm; Kiến thức&Kĩ năng; Giáo tiếp&Hợp tác; Sáng kiến& Thích ứng

9 of 14

b) Trong bối cảnh hiện nay, HS cần ở GV sự thông thạo:

i) Thông thạo về TT và xây dựng tri thức ( Thu thập xử lý TT, khích lệ sản sinh ý tưởng)

+ Thông thạo các công cụ và phương tiện ( phương tiện dạy và học, giải mã, giao lưu người máy)

+ GV phải có hiểu biết về các nền văn hóa và các ngôn ngữ.

ii)Tạo môi trường học tập TK21:

GV hỗ trợ các cộng đồng, nhóm, lớp HS hợp tác, chia sẻ, tích hợp các KN thông qua bối cảnh thực (RealWorld) và đề án thực hành.

iii) Thành thạo chương trình GD và dạy học TK21 : Tiếp cận hoạt động, tích hợp, đánh giá, tổng hợp và làm giàu thông tin tiếp cận theo vấn đề kĩ năng tư duy trình độ cao.

10 of 14

6. Chương trình ĐT GV toán và mối quan hệ với CT Toán PT

a) Xu thế ĐT ĐH : Đâu là những phẩm chất cần phát triển? Loại tri thức nào là quan trọng nhất? Những kĩ năng nào là cái cơ bản nhất?.

Trả lời :

i. Cởi mở, lắng nghe, nói, viết và phân tích.

ii. Tự tin, ham hiểu biết

iii. Có hiểu biết hài hòa về tự nhiên và xã hội.

iv. Chấp nhận sự đa dạng, sự phong phú ,trải nghiệm và sự thể hiện của con người.

v. Tinh thông đam mê lĩnh vực chuyên môn đã lựa chọn

vi. Biết cam kết đối với trách nhiệm công dân

vii. Biết định hướng những giá trị cá nhân,

Mục tiêu ĐT : NL nhận thức; NL xã hội; NL nghề nghiệp

CT ĐT có 2 phần: - GD tổng quát

- ĐT nghề nghiệp: Nguyên lý chung + Kiến thức nền tảng + Tự đọc tự học, trải nghiệm và vận dung

11 of 14

b) ĐT nghề nghiệp GV toán :

i) CT đào tạo GV toán phải tôn trọng bằng chứng KH và thực tiễn:- là một

nghề thực hành dựa trên CS KT chuyên môn và hiểu biết về GD&XH;

- Thống nhất lựa chọn nguyên lý chung, kiến thức nền tảng, kĩ năng thực

hành cơ bản (ở các khoa, ngành)

- Tăng cường tự học, tự đọc , liên hệ vận dụng ( tránh chuyên ngành nào

cũng cho là mình quan trọng

- GV các chuyên ngành Toán học, GV giỏi ở các trường PT phải nhập cuộc có trách nhiệm vào quá trình ĐT nghề,GD SV và BD GV

ii) Nội dung

-Các nguyên lý chung liên quan đến Cấu trúc thứ tự, Cấu trúc đại số, Cấu trúc Topo; Các kiến thức nền tảng của Số học-Đại số; Giải tích; Hình học -topo

- Toán Ứng dụng ( trong đó có Toán học với tin hoc)

- Khoa học GD và PP GD bộ môn Toán

12 of 14

  • CT Toán phổ thông : “Cấu trúc chương trình môn Toán phối hợp cấu trúc tuyến tính với cấu trúc “xoáy trôn ốc“ (đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần) và xoay quanh ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và đo lường; Thống kê và xác suất”.
  • Đề nghi lưu ý vấn đề thú tự, mô hình, quan hệ, vị tri và ứng dụng (sai số-tính gần đúng, thống kê và XS , toán ròi rạc(tổ hợp cơ bản) thông qua các ví dụ thực tế)

13 of 14

Một số đề nghi :

- Chương trình toán PT : đi từ hoạt động trải nghiệm lấy các vấn đề thực tiễn làm trung tâm đến logic(lập luận, suy luận và áp dụng)

  • CT Toán ĐH :Cơ bản nhưng Logic khoa học chặt chẽ, tiếp cận

TT hiện đại, bao trùm và kiểm nghiệm đầy đủ các nội dung toán PT mà vì lý do sư phạm chỉ đúc kết mang tính trải nghiệm, chưa thể trình bày chặt chẽ về khoa học. Không hẳn là sự tiếp nối đơn giản toán PT ( có logic chặt chẽ KH mới đúc kết các trải nghiệm chính xác, biết làm dễ, biết liên hệ có ý nghĩa….

- CT toán ĐH SP, mọi ND cần được lý giải gốc gác thực tiễn, trở về với thực tiễn trong các mối liên hệ khác nhau( ví dụ: số e, hình học xạ ảnh-toán HH sơ cấp, hội họa, ….)

- Tăng thực hành hoạt động và tổ chức hoạt động GD& trải nghiệm.

- Đồng thuận trên cơ sở hướng đến mục tiêu ĐT chung giữa KH cơ bản với KHGD và PP . Kết hợp ĐT với GD.

14 of 14

Thay lời kết :

- ĐT BD GV trước, sau ĐMCT? ( NQ 88)

  • Kinh nghiệm từ quá khứ, kinh nghiệm quốc tế về giáo dục thật là quí báu khi nó là một tổng thể những sự thật giản dị,
  • Sự thật giản dị làm nên những bài học đắt giá đễ đến với cuộc sống.
  • Khi các sự kiện và các bài học được thêu dệt, quan trọng hóa, chúng trở thành những bài học khuôn sáo, có thể làm chúng ta lầm lẫn, học sai, làm chúng ta an tâm lặp đi lặp lại tạo ra những sai lạc vô thức và có khi phải trả giá đắt

(lưu ý với cảnh báo của Frank Rhodes)