1 of 19

Thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền tác giả ở Việt Nam, Mỹ, Anh và Trung Quốc qua một số vụ việc

Luật sư Lê Quang Vinh BROSS & PARTNERS

Hà Nội, 25/10/2024

2 of 19

1. Tính nguyên gốc của tác phẩm

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật khoa học năm 1886 - và Hiệp định về các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (“Hiệp định TRIPs”) đều không định nghĩa tính nguyên gốc là gì dẫn tới thực tế là mỗi nước thành viên của Công ước Berne đều tự mình độc lập xây dựng tiêu chuẩn riêng về tính nguyên gốc trong pháp luật của mình.

Tính nguyên gốc và tính định hình là 2 yêu cầu bắt buộc làm phát sinh bảo hộ pháp lý đối với tác phẩm được bảo hộ QTG.

Có 3 trường phái xác định tính nguyên gốc:

  1. Sáng tạo tối thiểu (Hoa Kỳ)
  2. Sáng tạo chỉ cần lao động và kỹ năng (labour & skill)
  3. Dấn ấn riêng của cá nhân tác giả (EU)

3 of 19

  • USCO rút từ chối và đồng ý cấp cho Tác phẩm 1 nhưng giữ quan điểm từ chối đối với Tác phẩm 2.

tác phẩm 1

tác phẩm 2

Vụ việc 1

Tác phẩm 1 (logo CCC) và Tác phẩm 2 (logo Car Credit City) xin đăng ký tại USCO ban đầu đều bị từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký QTG dưới dạng tác phẩm mỹ thuật ứng dụng vì thuộc đối tượng loại trừ bảo hộ theo Mục 37 C.F.R §202.

  • Hội đồng giải quyết khiếu nại USCO bác Khiếu nại 2, cho rằng tổng thể Tác phẩm 2 đã chứa yếu tố tác giả nổi bật ở Tác phẩm 1.
  • Việc cấp thêm đăng ký cho Tác phẩm 2 chỉ được chấp nhận chỉ khi tìm thấy yếu tố tác giả nổi bật khi so với Tác phẩm 1 đã được cấp đăng ký. Vì không có sự khác biệt giữa Tác phẩm 1 với Tác phẩm 2 nên không có căn cứ để cấp đăng ký QTG cho Tác phẩm 2. Nói cách khác Tác phẩm 2 không thỏa mãn tính nguyên gốc

Diễn biến chính

“QTG không bảo hộ cho biểu tượng, thiết kế quen thuộc, hình hình học cơ bản, từ, cụm từ ngắn chẳng hạn như tên, nhan đề, khẩu ngữ, hoặc các biến thể đơn thuần của trang trí kiểu chữ, chữ cái hoặc màu sắc

  • Khiếu nại 1: 2 logo trên không thể bị xem là thuộc trường hợp loại trừ bảo hộ vì, chẳng hạn như xem xét dưới góc độ “hình hình học cơ bản”, chúng đều đạt ngưỡng sáng tạo tối thiểu theo án lệ

4 of 19

Sự kiện: Nhà biên kịch Nicholas Martin được nêu tên là Tác giả kịch bản duy nhất của bộ phim hài Florence Foster Jenkins.

2. Tác giả và đồng tác giả

Vụ việc 2.1: Julia Kogan vs Nicholas Martin (UK)

Tòa sơ thẩm kết luận đóng góp của bà Kogan là chưa đạt ngưỡng được coi là đóng góp thích đáng hoặc thực chất dựa trên một số câu hỏi pháp lý:

  1. bản chất và mức độ đóng góp của bà Kogan đối với kịch bản là gì?

(2) đóng góp này có tạo nên tư cách đồng tác giả theo ý nghĩa của điều 10.1 đạo luật bản quyền, kiểu dáng và sáng chế năm 1988 hay không và có làm cho bà Kogan có tư cách là đồng tác giả với ông Martin hay không?

Nội dung khởi kiện: nguyên đơn - nữ ca sĩ opera Julia Kogan khởi kiện đòi tòa án công nhận mình là đồng tác giả của kịch bản bộ phim này cùng với nhà biên kịch Nicolas Martin.

Tòa phúc thẩm cho rằng Tòa cấp sơ thẩm mắc nhiều sai lầm và không đưa ra được các nhận định trọng yếu từ các tình tiết của vụ việc vì xét theo bối cảnh vụ việc, đóng góp của Kogan không thể dễ dàng bị bác bỏ như vậy. Kịch bản phim phải được mô tả chính xác là tác phẩm sân khấu vì mục đích chính của nó nằm ở sự diễn xuất, trái với việc được đọc . 4 yếu tố sau cần được phân tích:

  1. sự cộng tác; (b) tác giả;
  2. sự đóng góp; (c) sự đóng góp không có tính phân biệt.

5 of 19

Vụ việc 2.1

Julia Kogan vs Nicholas Martin (UK)

(a) sự cộng tác: tác phẩm cộng tác khác với tác phẩm phái sinh, nghĩa là nếu một tác giả lấy tác phẩm của người khác (tác phẩm thứ nhất) làm xuất phát điểm rồi quyết định mô phỏng theo, tô điểm hoặc cải tiến nó thì kết quả thu được có thể được bảo hộ QTG (tác phẩm thứ hai) nhưng sẽ không được coi là đồng tác giả.

Phân tích 4 yếu tố

(b) tác giả: tập trung vào người viết kịch bản phim là sai lầm vì có sự khác biệt giữa việc tạo ra tác phẩm và biến nó thành dạng vật chất (định hình). Điều 3(2) quy định QTG không tồn tại ở tác phẩm trừ khi và cho đến khi nó được ghi lại bằng văn bản hoặc cách khác. Vì vậy, người cầm bút có thể không phải là tác giả duy nhất. Tòa nhận định thêm rằng tập trung quá nhiều vào người cầm bút có thể làm giảm sự chú ý đến những gì được bảo hộ và không biết tác giả là ai.

(c) sự đóng góp: sự đóng góp đồng tác giả phải là đóng góp mang tính “tác giả”. Kịch bản phim liên quan đến việc cung cấp cốt truyện và lời thoại giúp người xem hình dung được những gì sắp xảy ra trên màn hình. Tác giả quan tâm trực tiếp đến các vấn đề như lựa chọn nhân vật và tình tiết trong phim sẽ làm nổi bật và thể hiện cảm xúc của những nhân vật đó. Về nguyên tắc, các khía cạnh này của kịch bản phim có thể coi là sự đóng góp của tác giả.

(d) không có tính phân biệt: đóng góp của mỗi tác giả không khác biệt với đóng góp của tác giả kia, từ “khác biệt” ở Điều 10(1) đã được dùng thay cho từ “riêng biệt” ở Điều 11(3) Luật bản quyền năm 1956 => Nếu đóng góp của mỗi tác giả là “khác biệt” thì không cần có đồng tác giả. Mỗi tác giả có thể dựa vào QTG đó nếu có sự tồn tại trong phần “khác biệt” của mình. Khi những đóng góp của họ được hợp nhất thành một tổng thể thì điều này [phần khác biệt của mỗi tác giả] không thể thực hiện được nữa. (Luật bản quyền UK năm 1956. Section 11).

6 of 19

Vụ việc 2.2 : Thần Đồng Đất Việt

Họa sĩ LL (Nguyên Đơn) hợp tác với Công ty PT (Bị Đơn), đại diện bởi bà MH theo quan hệ hợp đồng lao động từ năm 2001 với vị trí là họa sỹ vẽ minh họa.

Nguyên Đơn đã sáng tác khoảng 30 nhân vật và trong số đó chỉ 4 hình tượng nhân vật TT, SE, DB và CM được chọn để sáng tác bộ truyện tranh có tên TĐĐV. Nguyên Đơn chấm dứt hợp đồng lao động với Bị Đơn sau khi hoàn thành đến tập 78.

Nguyên Đơn khởi kiện vụ án dân sự chống lại bà MH và Công ty PT), yêu cầu:

1. công nhận Nguyên Đơn là tác giả duy nhất của 4 hình tượng nhân vật kể trên được thể hiện từ tập 1-78;

2. bác yêu cầu công nhận tư cách đồng tác giả của bà Hạnh,

3. Đề nghị buộc Công ty PT chấm dứt việc tự tạo ra và sử dụng các biến thể của 4 hình tượng nhân vật trên ở các tập tiếp theo TDDV sau tập 78 và trên các ấn bản khác vì lý do việc tiếp tục sử dụng các biến thể đó xâm phạm quyền bảo vệ tính toàn vẹn tác phẩm.

SỰ KIỆN

7 of 19

Có 2 vấn đề pháp lý trung tâm trong vụ án:

  • Một là, Bị Đơn có tư cách đồng tác giả đối với hình thức thể hiện của 4 nhân vật Trạng Tí, Sửu Ẹo, Dần Béo và Cả Mẹo hay không nếu Bị Đơn là người đầu tiên có ý tưởng và định hình trong đầu về 4 nhân vật, đích thân chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cho Nguyên Đơn?

  • Hai là, với tư cách là chủ sở hữu quyền tác giả, Bị Đơn có quyền sử dụng biến thể của hình thức thể hiện của 4 nhân vật để sáng tác tiếp từ tập 79 trở đi và các bộ truyện tranh khác không?

1

Vụ việc 2.2 (tiếp theo)

8 of 19

Tòa án cả 2 cấp Sơ thẩm và Phúc thẩm đều nhận định:

  1. Bác bỏ yêu cầu công nhận Bị Đơn có tư cách đồng tác giả vì văn bản thỏa thuận ghi tên Bị Đơn là đồng tác giả khi đăng ký với Cục Bản quyền là vô hiệu.
  2. Tòa sơ thẩm cho rằng Bị Đơn là chủ sở hữu quyền nhân thân “công bố hoặc cho phép người khác tác phẩm” và toàn bộ quyền tài sản gồm quyền “làm tác phẩm phái sinhtrong khi Nguyên Đơn là chủ sở hữu quyền nhân thân “bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hai đến danh dự và uy tín tác giả”.
  3. Tòa sơ thẩm cho rằng Bị Đơn thay đổi hình thức thể hiện gốc của 4 nhân vật để phù hợp với cốt truyện, bối cảnh và nội dung của từng tập truyện từ tập 79 trở đi cũng như với bộ truyện tranh TĐĐV Khoa Học và TĐĐViệt Mỹ Thuật là hoạt động làm tác phẩm phái sinh có sữa chữa bản gốc nhưng không có thỏa thuận với Nguyên Đơn.
  4. 2 cấp Tòa cùng kết luận rằng Bị Đơn được quyền làm tác phẩm phái sinh nhưng không được sửa chữa, cắt xén hình thức thể hiện của 4 nhân vật hoặc xuyên tạc các tác phẩm này dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của Nguyên Đơn.

Vụ việc 2.2 (tiếp theo)

9 of 19

Về bác bỏ/công nhận tư cách tác giả/đồng tác giả, cả 2 bản án có lập luận và nhận định tốt

Về tố tụng, tòa án xác định đúng thẩm quyền, từ chối đúng yêu cầu triệu tập người làm chứng Hội mỹ thuật và Cục bản quyền; bác bỏ đúng yêu cầu triệu tập Cục bản quyền với vai trò tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Tòa quyết định phần tác giả là chính xác vì QTG không bảo hộ cho ý tưởng mà chỉ bảo hộ cho hình thức thể hiện của ý tượng được bộc lộ ra thế giới bên ngoài. Hơn nữa, luật quy định rõ người góp ý, hỗ trợ không được công nhận là tác giả.

2

Vụ việc 2.2 (tiếp theo)

10 of 19

Vấn đề thứ 2 tòa án quyết định chưa thực sự hợp lý vì:

  1. khoản 4 điều 19 được cấu trúc thành 2 đoạn là sự toàn vẹn, nguyên vẹn của tác phẩm khi bị biến đổi, sữa chữa bởi Bị đơn không làm phát sinh ngay lập tức quyền này của Nguyên đơn mà cần phải có bằng chứng “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Thực tế NĐ không chứng minh và Tòa cũng không thấy yêu cầu
  2. Bị đơn không chứng minh được tạo ra và sử dụng các biến thể của 4 hình tượng từ tập 79 trở đi và các ấn phẩm khác không thuộc các hoạt động: dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn ở khoản 8 điều 4 Luật SHTT không đồng nghĩa với việc Bị đơn xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của Nguyên đơn
  3. Không có hoạt động làm tác phẩm phái sinh nào mà không tác động đến tác phẩm có trước (tác phẩm gốc) bởi vì nếu “không sữa chữa bản gốc” thì không có tác phẩm phái sinh.

3

Vụ việc 2.2 – Bình luận

11 of 19

3. AI có thể là đồng tác giả?

  • Shani dùng công cụ Raghav - được tạo ra bằng cách đào tạo mạng lưới thần kinh để nhận biết hình ảnh có sử dụng tệp dữ liệu lên tới 14 triệu hình ảnh (gọi là ImageNet) rồi sau đó huấn luyện NST (mô hình sử dụng thuật toán thao tác xử lý hình ảnh hoặc video kỹ thuật số) trên tệp dữ liệu khác gồm Ảnh nội dung và Ảnh phong cách để NST học cách chuyển đổi phong cách từ Ảnh phong cách theo Ảnh nội dung
  • USCO từ chối cấp đăng ký lập luận rằng chính Raghav, chứ không phải ông Sahni, chịu trách nhiệm xác định cách nội suy Ảnh nội dung và Ảnh phong cách phù hợp với biến số xác định mức độ thay đổi phong cách, chứ bản thân ông Sahni không kiểm soát được các yếu tố như hoàng hôn, mây và tòa nhà được bố trí ở đâu, liệu chúng sẽ xuất hiện như thế nào, và màu sắc gì được dùng cho chúng

Ngày 1/12/2021, hồ sơ tác đăng ký phẩm mỹ thuật 2 chiều có tên “Suryast”tại Cục bản quyền Mỹ (USCO), ông Sahni tuyên bố Tác phẩm xin đăng ký có Đồng tác giả gồm ông và tác giả thứ hai là ứng dụng vẽ tranh nhân tạo Raghav.

Vụ việc 3

Ảnh chụp gốc

 

(Hình 1 - Ảnh nội dung)

Bức họa “the Starry Night” của Vincent Van Gogh

(Hình 2 - Ảnh phong cách)

Tác phẩm “recent

entrance to paradise”

(Hình 3 - Ảnh kết quả)

12 of 19

4. Quyền sữa chữa cắt xén vs. quyền biến đổi tác phẩm

13 of 19

4. Xung đột quyền sữa chữa cắt xén và quyền biến đổi tác phẩm (TPPS)

Vụ việc 4.2: TDĐV

14 of 19

Nhìn chung điều kiện miễn trách nhiệm pháp lý cho ISP ở các quốc gia khác cũng tương tự như quy định của EVFTA

5. Trách nhiệm pháp lý của ISP

Miễn trừ trách nhiệm pháp lý của ISP hay còn gọi là “Bến an toàn” (Safe Harbor) thực chất mang tính chất miễn trừ có điều kiện vì ISP sẽ không được miễn trừ nếu ISP biết về thông tin số bất hợp pháp, và sau khi biết thông tin số là bất hợp pháp mà không có hành động nhanh chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới thông tin số đó

Nhìn chung điều kiện miễn trách nhiệm pháp lý cho ISP ở các quốc gia khác cũng tương tự như quy định của EVFTA

15 of 19

  1. ISP có biết về hành vi xâm phạm quyền tác giả bởi người dùng cuối hay không;

Khi xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với ISP (OSP), các tòa án ở Trung Quốc thường phân tích kỹ lưỡng và thận trọng các yếu tố sau:

Vụ việc 5: Trung Quốc

  1. ISP/OSP có biết về hành vi xâm phạm quyền tác giả bởi người dùng cuối hay không;

(2) Ý định xâm phạm;

(3) Thực chất đóng góp của ISP/OSP cho hành vi xâm phạm;

(4) năng lực và quyền kiểm soát việc truy nhập hoặc hành vi xâm phạm; và

(5) Lợi ích tài chính trực tiếp phát sinh từ hành vi xâm phạm.

16 of 19

(Nguồn ảnh:

Tài khoản WeChat của Tòa án internet Hàng Châu)

Vụ việc 5

Shenzhen Qice Diechu Cultural và Creative Co., Ltd., được ủy quyền bởi nghệ sĩ nổi tiếng Ma Qianli và Hangzhou Yuanyuzhou Technology Co., Ltd

  • Ma Qi Hangzhou Yuanyuzhou Technology Co., Ltd nli - tác giả và chủ sở hữu QTG tác phẩm “Hổ béo tiêm vắc xin”
  • Ma Qianli phát hiện một người dùng cuối đã tạo ra và chào bán NFT (non-fungible token) – tài sản không thể thay thế hay định danh tài sản số - trên sàn giao dịch BigVerse (Hangzhou Yuanyuzhou Technology Co., Ltd) trùng với tác phẩm “Hổ béo tiêm vắc xin”
  • Hangzhou Yuanyuzhou Technology Co., Ltd bị cáo buộc thực hiện hành vi xâm phạm quyền độc quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng
  • Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường trên 15.000USD vì: (1) Bigverse phải có nghĩa vụ cao hơn các OSP khác vì là sàn giao dịch NFT chuyên nghiệp => Bị đơn có nghĩa vụ bảo vệ quyền SHTT của người khác trên nền tảng của mình thông qua việc giám sát liệu có người dùng cuối nào tạo và rao bán NFT trên nền tảng của mình mà không có sự cho phép của chủ thể quyền hay không; và (2) Bị đơn đã không chỉ không thực hiện nghĩa vụ giám sát đó mà còn tính phí giao dịch đối với người dùng cuối bán NFT xâm phạm QTG của Nguyên đơn.
  • Bị đơn phản đối rằng Bị đơn chỉ là một OSP đóng vai trò trung gian nên phải được miễn trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm QTG được thực hiện bởi người dùng cuối và nghĩa vụ của Bị đơn cũng chỉ phải gỡ tác phẩm xâm phạm sau khi nhận được thông báo xâm phạm bản quyền bởi chủ thể quyền.
  • Theo phán quyết số (2022) Zhe 0192 MinChu 1008 Hao, Tòa án internet Hàng Châu quyết định rằng Bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ của mình với tư cách là một OSP và do đó không được miễn trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm bản quyền của người dùng cuối. Do vậy, Bị đơn bị buộc chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường cho Nguyên đơn 600USD

SỰ KIỆN

Diễn biến

17 of 19

6. Copyright infringement vs. fair use

Nguyên đơn cho rằng Bị đơn đã sao chép tác phẩm của Nguyên đơn là bức ảnh (đen trắng) (Tác phẩm nhiếp ảnh) để dùng cho tác phẩm của Bị đơn là bức tượng điêu khắc (có màu đỏ và xanh là chủ đạo) (Tác phẩm điêu khắc) mà không được sự cho phép của Nguyên đơn. Tác phẩm điêu khắc có tên String of Puppies đã bán được ba bức với tổng số tiền là 367.000 USD.

Để chứng minh hành vi xâm phạm bản quyền, theo Luật bản quyền Mỹ, Nguyên đơn phải chứng minh mình thỏa mãn cả 2 điều kiện:

Khi xem xét liệu hành vi sao chép tác phẩm khác đã công bố có phải là sử dụng hợp lý hay không, các tòa án Hoa Kỳ xem xét 4 yếu tố::

  1. mục đích và tính chất của việc sử dụng (sử dụng có mục đích thương mại hay giáo dục phi lợi nhuận);

(2) bản chất của tác phẩm được bảo hộ;

(3) số lượng và tính chất thực chất của phần được sử dụng liên quan đến toàn bộ tác phẩm được bảo hộ; và

(4) ảnh hưởng của việc sử dụng tác động đến thị trường tiềm năng

Vụ việc 6

Nhiếp ảnh gia người Mỹ Art Rogers kiện Nhà điêu khắc Jeff Koons (1989)

Tòa bác bỏ lập luận của Bị đơn cho rằng Tác phẩm nhiếp ảnh không đảm bảo tính nguyên gốc và hành vi sao chép của Bị đơn là fair use

1. Nguyên đơn có quyền sở hữu đối với Tác phẩm, và

2. Bị đơn đã sao chép Tác phẩm để tạo ra Tác phẩm khác.

Ngoài 2 điều kiện trên, vì Tòa án cũng phải xem xét hành vi sao chép Tác phẩm có/không phải là Fair Use (sử dụng hợp lý)

18 of 19

GET MORE

INFORMATION

PHONE

WEBSITE

ADDRESS

0903 287 057

21st Floor, Charm Vit Tower

117 Tran Duy Hung Str., Cau Giay, Hanoi, Vietnam.

19 of 19

THANK

YOU