Thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền tác giả ở Việt Nam, Mỹ, Anh và Trung Quốc qua một số vụ việc
Luật sư Lê Quang Vinh – BROSS & PARTNERS
Hà Nội, 25/10/2024
1. Tính nguyên gốc của tác phẩm
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật khoa học năm 1886 - và Hiệp định về các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (“Hiệp định TRIPs”) đều không định nghĩa tính nguyên gốc là gì dẫn tới thực tế là mỗi nước thành viên của Công ước Berne đều tự mình độc lập xây dựng tiêu chuẩn riêng về tính nguyên gốc trong pháp luật của mình.
Tính nguyên gốc và tính định hình là 2 yêu cầu bắt buộc làm phát sinh bảo hộ pháp lý đối với tác phẩm được bảo hộ QTG.
Có 3 trường phái xác định tính nguyên gốc:
tác phẩm 1
tác phẩm 2
Vụ việc 1
Tác phẩm 1 (logo CCC) và Tác phẩm 2 (logo Car Credit City) xin đăng ký tại USCO ban đầu đều bị từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký QTG dưới dạng tác phẩm mỹ thuật ứng dụng vì thuộc đối tượng loại trừ bảo hộ theo Mục 37 C.F.R §202.
Diễn biến chính
“QTG không bảo hộ cho biểu tượng, thiết kế quen thuộc, hình hình học cơ bản, từ, cụm từ ngắn chẳng hạn như tên, nhan đề, khẩu ngữ, hoặc các biến thể đơn thuần của trang trí kiểu chữ, chữ cái hoặc màu sắc”
Sự kiện: Nhà biên kịch Nicholas Martin được nêu tên là Tác giả kịch bản duy nhất của bộ phim hài Florence Foster Jenkins.
2. Tác giả và đồng tác giả
Vụ việc 2.1: Julia Kogan vs Nicholas Martin (UK)
Tòa sơ thẩm kết luận đóng góp của bà Kogan là chưa đạt ngưỡng được coi là đóng góp thích đáng hoặc thực chất dựa trên một số câu hỏi pháp lý:
(2) đóng góp này có tạo nên tư cách đồng tác giả theo ý nghĩa của điều 10.1 đạo luật bản quyền, kiểu dáng và sáng chế năm 1988 hay không và có làm cho bà Kogan có tư cách là đồng tác giả với ông Martin hay không?
Nội dung khởi kiện: nguyên đơn - nữ ca sĩ opera Julia Kogan khởi kiện đòi tòa án công nhận mình là đồng tác giả của kịch bản bộ phim này cùng với nhà biên kịch Nicolas Martin.
Tòa phúc thẩm cho rằng Tòa cấp sơ thẩm mắc nhiều sai lầm và không đưa ra được các nhận định trọng yếu từ các tình tiết của vụ việc vì xét theo bối cảnh vụ việc, đóng góp của Kogan không thể dễ dàng bị bác bỏ như vậy. Kịch bản phim phải được mô tả chính xác là tác phẩm sân khấu vì mục đích chính của nó nằm ở sự diễn xuất, trái với việc được đọc . 4 yếu tố sau cần được phân tích:
Vụ việc 2.1
Julia Kogan vs Nicholas Martin (UK)
(a) sự cộng tác: tác phẩm cộng tác khác với tác phẩm phái sinh, nghĩa là nếu một tác giả lấy tác phẩm của người khác (tác phẩm thứ nhất) làm xuất phát điểm rồi quyết định mô phỏng theo, tô điểm hoặc cải tiến nó thì kết quả thu được có thể được bảo hộ QTG (tác phẩm thứ hai) nhưng sẽ không được coi là đồng tác giả.
Phân tích 4 yếu tố
(b) tác giả: tập trung vào người viết kịch bản phim là sai lầm vì có sự khác biệt giữa việc tạo ra tác phẩm và biến nó thành dạng vật chất (định hình). Điều 3(2) quy định QTG không tồn tại ở tác phẩm trừ khi và cho đến khi nó được ghi lại bằng văn bản hoặc cách khác. Vì vậy, người cầm bút có thể không phải là tác giả duy nhất. Tòa nhận định thêm rằng tập trung quá nhiều vào người cầm bút có thể làm giảm sự chú ý đến những gì được bảo hộ và không biết tác giả là ai.
(c) sự đóng góp: sự đóng góp đồng tác giả phải là đóng góp mang tính “tác giả”. Kịch bản phim liên quan đến việc cung cấp cốt truyện và lời thoại giúp người xem hình dung được những gì sắp xảy ra trên màn hình. Tác giả quan tâm trực tiếp đến các vấn đề như lựa chọn nhân vật và tình tiết trong phim sẽ làm nổi bật và thể hiện cảm xúc của những nhân vật đó. Về nguyên tắc, các khía cạnh này của kịch bản phim có thể coi là sự đóng góp của tác giả.
(d) không có tính phân biệt: đóng góp của mỗi tác giả không khác biệt với đóng góp của tác giả kia, từ “khác biệt” ở Điều 10(1) đã được dùng thay cho từ “riêng biệt” ở Điều 11(3) Luật bản quyền năm 1956 => Nếu đóng góp của mỗi tác giả là “khác biệt” thì không cần có đồng tác giả. Mỗi tác giả có thể dựa vào QTG đó nếu có sự tồn tại trong phần “khác biệt” của mình. Khi những đóng góp của họ được hợp nhất thành một tổng thể thì điều này [phần khác biệt của mỗi tác giả] không thể thực hiện được nữa. (Luật bản quyền UK năm 1956. Section 11).
Vụ việc 2.2 : Thần Đồng Đất Việt
Họa sĩ LL (Nguyên Đơn) hợp tác với Công ty PT (Bị Đơn), đại diện bởi bà MH theo quan hệ hợp đồng lao động từ năm 2001 với vị trí là họa sỹ vẽ minh họa.
Nguyên Đơn đã sáng tác khoảng 30 nhân vật và trong số đó chỉ 4 hình tượng nhân vật TT, SE, DB và CM được chọn để sáng tác bộ truyện tranh có tên TĐĐV. Nguyên Đơn chấm dứt hợp đồng lao động với Bị Đơn sau khi hoàn thành đến tập 78.
Nguyên Đơn khởi kiện vụ án dân sự chống lại bà MH và Công ty PT), yêu cầu:
1. công nhận Nguyên Đơn là tác giả duy nhất của 4 hình tượng nhân vật kể trên được thể hiện từ tập 1-78;
2. bác yêu cầu công nhận tư cách đồng tác giả của bà Hạnh,
3. Đề nghị buộc Công ty PT chấm dứt việc tự tạo ra và sử dụng các biến thể của 4 hình tượng nhân vật trên ở các tập tiếp theo TDDV sau tập 78 và trên các ấn bản khác vì lý do việc tiếp tục sử dụng các biến thể đó xâm phạm quyền bảo vệ tính toàn vẹn tác phẩm.
SỰ KIỆN
Có 2 vấn đề pháp lý trung tâm trong vụ án:
1
Vụ việc 2.2 (tiếp theo)
Tòa án cả 2 cấp Sơ thẩm và Phúc thẩm đều nhận định:
Vụ việc 2.2 (tiếp theo)
Về bác bỏ/công nhận tư cách tác giả/đồng tác giả, cả 2 bản án có lập luận và nhận định tốt
Về tố tụng, tòa án xác định đúng thẩm quyền, từ chối đúng yêu cầu triệu tập người làm chứng Hội mỹ thuật và Cục bản quyền; bác bỏ đúng yêu cầu triệu tập Cục bản quyền với vai trò tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Tòa quyết định phần tác giả là chính xác vì QTG không bảo hộ cho ý tưởng mà chỉ bảo hộ cho hình thức thể hiện của ý tượng được bộc lộ ra thế giới bên ngoài. Hơn nữa, luật quy định rõ người góp ý, hỗ trợ không được công nhận là tác giả.
2
Vụ việc 2.2 (tiếp theo)
Vấn đề thứ 2 tòa án quyết định chưa thực sự hợp lý vì:
3
Vụ việc 2.2 – Bình luận
3. AI có thể là đồng tác giả?
Ngày 1/12/2021, hồ sơ tác đăng ký phẩm mỹ thuật 2 chiều có tên “Suryast”tại Cục bản quyền Mỹ (USCO), ông Sahni tuyên bố Tác phẩm xin đăng ký có Đồng tác giả gồm ông và tác giả thứ hai là ứng dụng vẽ tranh nhân tạo Raghav.
Vụ việc 3
Ảnh chụp gốc
(Hình 1 - Ảnh nội dung) | Bức họa “the Starry Night” của Vincent Van Gogh (Hình 2 - Ảnh phong cách) | Tác phẩm “recent entrance to paradise” (Hình 3 - Ảnh kết quả) |
| | |
4. Quyền sữa chữa cắt xén vs. quyền biến đổi tác phẩm
4. Xung đột quyền sữa chữa cắt xén và quyền biến đổi tác phẩm (TPPS)
Vụ việc 4.2: TDĐV
Nhìn chung điều kiện miễn trách nhiệm pháp lý cho ISP ở các quốc gia khác cũng tương tự như quy định của EVFTA
5. Trách nhiệm pháp lý của ISP
Miễn trừ trách nhiệm pháp lý của ISP hay còn gọi là “Bến an toàn” (Safe Harbor) thực chất mang tính chất miễn trừ có điều kiện vì ISP sẽ không được miễn trừ nếu ISP biết về thông tin số bất hợp pháp, và sau khi biết thông tin số là bất hợp pháp mà không có hành động nhanh chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập tới thông tin số đó
Nhìn chung điều kiện miễn trách nhiệm pháp lý cho ISP ở các quốc gia khác cũng tương tự như quy định của EVFTA
Khi xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với ISP (OSP), các tòa án ở Trung Quốc thường phân tích kỹ lưỡng và thận trọng các yếu tố sau:
Vụ việc 5: Trung Quốc
(2) Ý định xâm phạm;
(3) Thực chất đóng góp của ISP/OSP cho hành vi xâm phạm;
(4) năng lực và quyền kiểm soát việc truy nhập hoặc hành vi xâm phạm; và
(5) Lợi ích tài chính trực tiếp phát sinh từ hành vi xâm phạm.
(Nguồn ảnh:
Tài khoản WeChat của Tòa án internet Hàng Châu)
Vụ việc 5
Shenzhen Qice Diechu Cultural và Creative Co., Ltd., được ủy quyền bởi nghệ sĩ nổi tiếng Ma Qianli và Hangzhou Yuanyuzhou Technology Co., Ltd
SỰ KIỆN
Diễn biến
6. Copyright infringement vs. fair use
Nguyên đơn cho rằng Bị đơn đã sao chép tác phẩm của Nguyên đơn là bức ảnh (đen trắng) (Tác phẩm nhiếp ảnh) để dùng cho tác phẩm của Bị đơn là bức tượng điêu khắc (có màu đỏ và xanh là chủ đạo) (Tác phẩm điêu khắc) mà không được sự cho phép của Nguyên đơn. Tác phẩm điêu khắc có tên String of Puppies đã bán được ba bức với tổng số tiền là 367.000 USD.
Để chứng minh hành vi xâm phạm bản quyền, theo Luật bản quyền Mỹ, Nguyên đơn phải chứng minh mình thỏa mãn cả 2 điều kiện:
Khi xem xét liệu hành vi sao chép tác phẩm khác đã công bố có phải là sử dụng hợp lý hay không, các tòa án Hoa Kỳ xem xét 4 yếu tố::
(2) bản chất của tác phẩm được bảo hộ;
(3) số lượng và tính chất thực chất của phần được sử dụng liên quan đến toàn bộ tác phẩm được bảo hộ; và
(4) ảnh hưởng của việc sử dụng tác động đến thị trường tiềm năng
Vụ việc 6
Nhiếp ảnh gia người Mỹ Art Rogers kiện Nhà điêu khắc Jeff Koons (1989)
Tòa bác bỏ lập luận của Bị đơn cho rằng Tác phẩm nhiếp ảnh không đảm bảo tính nguyên gốc và hành vi sao chép của Bị đơn là fair use
1. Nguyên đơn có quyền sở hữu đối với Tác phẩm, và
2. Bị đơn đã sao chép Tác phẩm để tạo ra Tác phẩm khác.
Ngoài 2 điều kiện trên, vì Tòa án cũng phải xem xét hành vi sao chép Tác phẩm có/không phải là Fair Use (sử dụng hợp lý)
GET MORE
INFORMATION
PHONE
WEBSITE
ADDRESS
0903 287 057
21st Floor, Charm Vit Tower
117 Tran Duy Hung Str., Cau Giay, Hanoi, Vietnam.
THANK
YOU