1 of 32

GIÁ TRỊ CỦA CÁC MARKER TRONG CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ VÀ TIÊN LƯỢNG NHIỄM TRÙNG Ở TRẺ EM

PGS. TS. PHẠM VĂN THẮNG

2 of 32

ĐẶT VẤN ĐỀ

  • Nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong và bệnh tật ở trẻ em. Mặc dù nuôi cấy máu là chuẩn vàng nhưng cần nhiều thời gian để chẩn đoán, do đó cần phải dựa vào các dấu hiệu để chẩn đoán sớm như công thức máu, micro-ESR, CRP, procalcitonin
  • Bệnh nhân trong khoa chăm sóc tích cực (ICU) thường xuyên được điều trị bằng kháng sinh kéo dài hoặc thậm chí không cần thiết, điều này lựa chọn vi khuẩn kháng kháng sinh
  • Tuy nhiên thực tế lâm sàng vấn đề chẩn đoán và điều trị kháng sinh còn quá mức và phổ biến.
  • Vì vậy vai trò của biomarker trong chẩn đoán, điều trị và sử dụng kháng sinh trong nhiễm trùng?

3 of 32

NỘI DUNG

  1. Đại cương về cơ chế bệnh sinh của biomarker trong nhiễm trùng.
  2. Vai trò của một số biomarkers trong nhiễm trùng trẻ em.
  3. Biomarkers với vấn đề tiên lượng, dự đoán, và điều trị kháng sinh.

4 of 32

1. CƠ CHẾ BỆNH SINH

SLAATS J, TEN OEVER J, VAN DE VEERDONK FL, NETEA MG (2016) IL-1Β/IL-6/CRP AND IL-18/FERRITIN: DISTINCT INFLAMMATORY PROGRAMS IN INFECTIONS. PLOS PATHOG 12(12): E1005973. DOI:10.1371/ JOURNAL.PPAT.1005973

5 of 32

THE ACUTE INFLAMMATORY RESPONSE MEDIATED BY THE RELEASE OF PRO-INFLAMMATORY CYTOKINES.

  • Sau nhận diện PAMP hoặc DAMP, PRR kích hoạt phản ứng tiền viêm và kháng khuẩn bằng cách giải phóng một loạt các cytokine. Các cytokine tiền viêm nguyên mẫu TNF-α, IL-1β và IL-6 được giải phóng nhanh chóng khi PRR hoạt hóa ...
  • TNF-α và IL-1β điều phối việc giải phóng các chemokine và các phân tử kết dính BC trên nội mô mạch máu, thúc đẩy BC nhanh và hiệu quả đến các ổ viêm. TNF-α tác động tình trạng viêm gây giãn mạch và rò rỉ mạch máu (gây sưng). IL-1β gây ra tăng đau do viêm .
  • IL-6, là chất cảm ứng chính của quá trình sản xuất protein giai đoạn cấp tính bởi tế bào gan. PAMP, phân tử liên quan đến tác nhân gây bệnh; DAMP phân tử liên quan đến tổn thương.

6 of 32

BACTERIAL- AND VIRAL-INDUCED INFLAMMATION ARE CHARACTERIZED BY DIFFERENTIAL PLASMA LEVELS OF CRP AND FERRITIN.

A) Nồng độ TB hoặc trung vị của CRP và ferritin trong nhiều bệnh nhiễm trùng do VR và VK cho thấy bệnh nhiễm trùng do VR thường đặc trưng bởi nồng độ ferritin huyết tương caonồng độ CRP thấp trong nhiễm trùng do VK thường đặc trưng nồng độ CRP huyết tương cao

B) Tiết ra IL-1β/IL-6 để đáp ứng với nhiễm trùng do VK góp phần làm tăng nồng độ CRP , trong khi nhiễm trùng do VR được đặc trưng bởi phản ứng IL-18, dẫn đến tăng ferritin máu. IL-1/IL-6/CRP và IL-18/ferritin không phân biệt nhiễm trùng do vi khuẩn-vi-rút,

7 of 32

IL-1Β/IL-6/CRP AND IL-18/FERRITIN: DISTINCT INFLAMMATORY PROGRAMS IN INFECTIONS

  • Phản ứng viêm của vật chủ chống lại nhiễm trùng được đặc trưng bởi sự giải phóng các cytokine tiền viêm và protein giai đoạn cấp, thúc đẩy cả nhánh bẩm sinh và phản ứng miễn dịch mắc phải
  • Các mô hình riêng biệt của các cytokine lưu hành và phản ứng giai đoạn cấp đã được chứng minh là để hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh truyền nhiễm.
  • Thảo luận về các đặc điểm của các protein giai đoạn cấp và các cytokine lưu hành gặp phải trong các bệnh nhiễm trùng do vi-rút và vi khuẩn

Slaats J, ten Oever J, van de Veerdonk FL, Netea MG (2016) IL-1β/IL-6/CRP and IL-18/ferritin: Distinct Inflammatory Programs in Infections. PLoS Pathog 12(12): e1005973. doi:10.1371/ journal.ppat.1005973

8 of 32

IL-1Β/IL-6/CRP AND IL-18/FERRITIN: DISTINCT INFLAMMATORY PROGRAMS IN INFECTIONS

  • Tuy nhiên, mô hình này chưa phải là giải pháp chẩn đoán trực tiếp trong thực hành lâm sàng,
  • Vẫn còn nhiều tranh luận về lợi ích chẩn đoán của CRP và việc kết hợp CRP với các dấu ấn sinh học lưu hành khác (ví dụ: IL-6, IL-18 và procalcitonin) được cho là không cải thiện khả năng dự đoán nguyên nhân vi sinh ở những bệnh nhân nhiễm trùng .
  • Điều này nhấn mạnh việc sử dụng các dấu ấn huyết tương gây viêm như một phần không thể thiếu trong chẩn đoán,tuy nhiên cần dựa vào bệnh cảnh lâm sàng và tiền sử bệnh nhân

Slaats J, ten Oever J, van de Veerdonk FL, Netea MG (2016) IL-1β/IL-6/CRP and IL-18/ferritin: Distinct Inflammatory Programs in Infections. PLoS Pathog 12(12): e1005973. doi:10.1371/ journal.ppat.1005973

9 of 32

IL-1Β/IL-6/CRP AND IL-18/FERRITIN: DISTINCT INFLAMMATORY PROGRAMS IN INFECTIONS

  • Các nghiên cứu sâu hơn nên làm sáng tỏ độ nhạy và độ đặc hiệu của dấu ấn viêm huyết tương bao gồm IL-6, CRP, IL-18 và ferritin trong việc phân biệt giữa nhiễm trùng do vi-rút và nhiễm trùng do vi khuẩn.
  • Phải đánh giá mối tương quan trực tiếp giữa nồng độ IL-18 và ferritin lưu hành trong các bệnh nhiễm trùng do vi-rút, vì các nghiên cứu hiện tại chỉ tập trung vào IL-18 hoặc ferritin riêng biệt.
  • Cần phải nghiên cứu số lượng lớn các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và vi-rút.

Slaats J, ten Oever J, van de Veerdonk FL, Netea MG (2016) IL-1β/IL-6/CRP and IL-18/ferritin: Distinct Inflammatory Programs in Infections. PLoS Pathog 12(12): e1005973. doi:10.1371/ journal.ppat.1005973

10 of 32

So sánh trực tiếp giữa nhiễm trùng do vi-rút và vi khuẩn cho thấy:Dấu ấn viêm .. mức độ cao hơn trong nhiễm trùng do vi khuẩn . Dấu ấn IL-18..mức độ cao hơn trong nhiễm trùng do vi-rút.

11 of 32

CRP: PROTEIN PHẢN ỨNG C; SAA: AMYLOID A HUYẾT THANH; STREM-1: THỤ THỂ KÍCH HOẠT HÒA TAN ĐƯỢC BIỂU HIỆN TRÊN TẾ BÀO TỦY-1.

12 of 32

IL-1Β/IL-6/CRP AND IL-18/FERRITIN: DISTINCT INFLAMMATORY PROGRAMS IN INFECTIONS

  • Số lượng lớn các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và vi-rút nên được nghiên cứu, vì có thể mong đợi hai loại phản ứng viêm này.
  • (IL-1/IL-6/CRP so với IL-18/ferritin) sẽ không phân biệt được hoàn toàn nhiễm trùng do vi khuẩn-virus. Những bệnh nhân bị nhiễm cúm dường như có phản ứng viêm giống với nhiễm trùng do vi khuẩn hơn là nhiễm trùng do virus, sự khác biệt này cũng có thể được giải thích bằng phản ứng miễn dịch thay đổi do nhiễm trùng đồng thời do vi khuẩn (không phát hiện được)
  • Cần có nhiều nghiên cứu hơn về các bệnh nhiễm trùng khác nhau , các nhóm lớn hơn và cả nhiễm trùng do nấm và ký sinh trùng.

13 of 32

2. VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ BIOMARKERS TRONG NHIỄM TRÙNG

14 of 32

VERY HIGH SERUM FERRITIN LEVELS ARE ASSOCIATED WITH INCREASED MORTALITY AND CRITICAL CARE IN PEDIATRIC PATIENTS

  • Mục tiêu: Xác định liệu mức ferritin huyết thanh tăng cao có liên quan độc lập đến tỷ lệ tử vong và nhu cầu chăm sóc tích cực ở bệnh nhi hay không.
  • Thiết kế: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, dân số mở
  • Phân tích: Hồi quy Cox
  • Đối tượng: Tất cả bệnh nhân được xét nghiệm mức ferritin huyết thanh với mức ferritin ≥1000 ng/mL.
  • KẾt quả: Nguy cơ tử vong với ferritin đỉnh >3000 ng/mL là 4,32 (khoảng tin cậy 95% 2,21-8,47, p < .001) so với ferritin đỉnh 1000-3000 ng/mL. Nguy cơ nhập viện vào khoa ICU với ferritin đỉnh >3000 ng/mL là 2,49 (khoảng tin cậy 95% 1,53-4,05, p < .001) so với ferritin đỉnh 1000-3000 ng/mL. Cả hai đều được điều chỉnh cho ghép tủy xương, ghép tạng đặc, bệnh hemoglobin và bệnh thấp khớp .

14. Bennett TD, Hayward KN, Farris RW, Ringold S, Wallace CA, Brogan TV. Very high serum ferritin levels are associated with increased mortality and critical care in pediatric patients. Pediatr Crit Care Med. 2011;12(6):e233-6. doi:

15 of 32

STUDY OF SERUM LEVELS OF CRP AND PROCALCITONIN AS EARLY MARKER OF SEPSIS IN CHILDREN WITH SEPSIS ABOVE NEONATAL AGE GROUP

  • PCT là dấu hiệu đáng tin cậy hơn của NTH vì độ nhạy và độ đặc hiệu của PCT cao hơn CRP và AUC của PCT cao hơn đáng kể so với CRP.
  • PCT được phát hiện là dấu hiệu sớm vì AUC của CRP sau 24 giờ cao hơn đáng kể so với AUC của CRP khi nhập viện và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa AUC của PCT khi nhập viện và 24 giờ sau khi nhập viện.
  • Kết luận: Cả nồng độ CRP và PCT đều có thể xét nghiệm một cách thuận lợi nhưng PCT đáng tin cậy hơn. PCT tăng sớm hơn so với CRP.

Kumar, Vinaya & Neelannavar, Ramesh. (2019). Study of serum levels of CRP and procalcitonin as early marker of sepsis in children with sepsis above neonatal age group. International Journal of Contemporary Pediatrics. 6. 10.18203/2349-3291.ijcp20190037.

16 of 32

TÁC ĐỘNG CỦA TÌNH TRẠNG THIẾU HỤT VITAMIN D TRONG BIỂU HIỆN NHIỄM TRÙNG HUYẾT

  • Có mối tương quan gián tiếp và đáng kể đã được tìm thấy giữa nồng độ vitamin D3 trong huyết thanh và tỷ lệ tử vong .
  • Có vẻ như việc tiêu thụ các chất bổ sung vitamin D có thể hữu ích trong việc giảm tỷ lệ nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết và tử vong do nó gây ra
  • Tác động của tình trạng thiếu hụt vitamin D trong NTH và vai trò của nó như một chất trung gian quan trọng trong hệ thống miễn dịch đã nhận được sự chú ý

Vani, Kota Kavitha et al. “A STUDY ON PROGNOSTIC VALUE OF SERUM FERRITIN, SERUM VITAMIN D AND C REACTIVE PROTEIN LEVELS IN PAEDIATRIC SEPSIS.” (2022).

17 of 32

A STUDY ON PROGNOSTIC VALUE OF SERUM FERRITIN, SERUM VITAMIN D AND C REACTIVE PROTEIN LEVELS IN PAEDIATRIC SEPSIS

  • Đánh giá nồng độ ferritin huyết thanh được đo trong vòng 48 giờ sau khi nhập viện như một dấu hiệu tiên lượng
  • Có́ mối liên quan với các kết quả bất lợi ở quần thể bệnh nhân nhi bị NTH và tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt cao, trong đó dấu hiệu sinh học này được đo thường qui
  • Nồng độ ferritin huyết thanh ở ngưỡng thấp hơn dự đoán tỷ lệ tử vong cao ở trẻ em bị NTH tại ICU.

Vani, Kota Kavitha et al. “A STUDY ON PROGNOSTIC VALUE OF SERUM FERRITIN, SERUM VITAMIN D AND C REACTIVE PROTEIN LEVELS IN PAEDIATRIC SEPSIS.” (2022).

18 of 32

A STUDY ON PROGNOSTIC VALUE OF SERUM FERRITIN, SERUM VITAMIN D AND C REACTIVE PROTEIN LEVELS IN PAEDIATRIC SEPSIS

Mức CRP trung bình cao hơn ở nhóm cấy dương tính (71,93 ± 24,21) so với nhóm cấy âm tính (45,92 ± 24,88) khi nhập viện (p-0,000) và 48 giờ sau khi nhập viện (p0,013). Mức ferritin TB ở bệnh nhân cấy dương tính và cấy âm tính là 983,1 ± 596,7 và 495,3 ± 452,tại 0 giờ với giá trị p 0,000 cho thấy có ý nghĩa.

Tại 48 giờ sau nhập viện, ở bệnh nhân cấy dương tính cho thấy giá trị ferritin TB là 1299,3 ± 905,4 và bệnh nhân cấy âm tính cho 462,3 ± 437,5 với giá trị p có ý nghĩa là 0,016. khi so sánh nồng độ Vitamin D nhóm cấy dương tính và nhóm cấy âm tính tại 0 giờ và 48 giờ sau nhập viện, giá trị p lần lượt là 0,334 và 0,766, không có ý nghĩa thống kê.

19 of 32

Giá trị CRP trung bình ở nhóm NTH có sốc và không sốc là 80,47 ± 14,04 và 46,34 ± 25,69 tại 0 giờ nhập viện và 48 giờ sau nhập viện ở nhóm NTH có sốc và không sốc là 39,16 ± 21,0 và 22,78 ± 14,8 với p 0,00 .

Giá trị ferritin TB của nhóm NTH có sốc tại 0 giờ (1418 ± 282,0) cao hơn so với nhóm NTH không sốc (385,4 ± 333,5) ((p- 0,000). Sau 48 giờ, giá trị ferritin TB là 1539,4 ± 1492,9 và 490,9 ± 327,5 ở nhóm NTH có sốc và nhóm NTH không sốc với p <0,05

. Nồng độ vitamin D tại 0 giờ ở nhóm NTH có sốc và không sốc là 14,08 ± 6,79 và 14,56 ± 6,5 với P là 0,74 . Nồng độ vitamin D tại 48 giờ ở nhóm NTH có sốc và không sốc là 11,90 ± 7,1 và là 15,20±7,1 và P là 0,043 .

20 of 32

ĐỘ CHÍNH XÁC CHẨN ĐOÁN CỦA CRP, FERRITIN VÀ VITAMIN D. CRP Ở GIÁ TRỊ NGƯỠNG LỚN HƠN 40 MG/L CHO THẤY ĐỘ NHẠY LÀ 82,9%, ĐỘ ĐẶC HIỆU LÀ 45,8, PPV LÀ 51,5% VÀ NPV 79 % VỚI GIÁ TRỊ P LÀ 0,003. DIỆN TÍCH DƯỚI ĐƯỜNG CONG LỚN HƠN ĐỐI VỚI CRP TẠI 0 GIỜ SO VỚI 48 GIỜ. NỒNG ĐỘ FERRITIN TẠI NGƯỠNG 200NG/ML CÓ ĐỘ NHẠY LÀ 82,9% VÀ ĐỘ ĐẶC HIỆU LÀ 44,1%, PPV LÀ 50,7% VÀ NPV LÀ 78,8% VỚI P 0,005. ĐỘ NHẠY VÀ ĐỘ ĐẶC HIỆU CỦA VITAMIN D VỚI NGƯỠNG 15NG/ML CÓ ĐỘ NHẠY LÀ 43,9% VÀ ĐỘ ĐẶC HIỆU LÀ 37% VỚI P 0,99

21 of 32

DIỆN TÍCH DƯỚI ĐƯỜNG CONG ROC ĐỐI VỚI CRP TẠI 0 GIỜ -0,807 GIÁ TRỊ P – 0,00 VÀ TẠI 48 GIỜ – 0,635 GIÁ TRỊ P – 0,022

22 of 32

ĐƯỜNG CONG ROC THU ĐƯỢC CHO MỨC FERRITIN TẠI 0 GIỜ VÀ 48 GIỜ VỚI DIỆN TÍCH DƯỚI ĐƯỜNG CONG LỚN HƠN TẠI THỜI ĐIỂM 0 GIỜ (0,72, GIÁ TRỊ P 0,00) VÀ TẠI THỜI ĐIỂM 48 GIỜ (0,67, GIÁ TRỊ P 0,004).

23 of 32

PHÂN TÍCH ROC VỚI DIỆN TÍCH DƯỚI ĐƯỜNG CONG Ở MỨC VITAMIN D TẠI 0 GIỜ SO VỚI 48 GIỜ (AUC 0,56 GIÁ TRỊ P-0,29 VÀ 0,52, GIÁ TRỊ P-0,63) TƯƠNG ỨNG

24 of 32

MỐI TƯƠNG QUAN DƯƠNG GIỮA CRP VÀ FERRITIN TẠI THỜI ĐIỂM 0 GIỜ VÀ 48 GIỜ. TƯƠNG QUAN ÂM TẠI THỜI ĐIỂM 0 GIỜ VÀ TƯƠNG QUAN YẾU GIỮA CRP VÀ VITAMIN D TẠI 48 GIỜ TƯƠNG ỨNG . CÓ MỐI TƯƠNG QUAN YẾU GIỮA FERRITIN VÀ VITAMIN D TẠI 0 GIỜ VÀ TƯƠNG QUAN ÂM GIỮA FERRITIN VÀ VIT D TẠI 48 GIỜ.

25 of 32

A STUDY ON PROGNOSTIC VALUE OF SERUM FERRITIN, SERUM VITAMIN D AND C REACTIVE PROTEIN LEVELS IN PAEDIATRIC SEPSIS

  • CRP và Ferritin là những chỉ số tốt và sớm của nhiễm trùng huyết, với độ nhạy và độ đặc hiệu như nhau.
  • Ferritin ở thời điểm 48 giờ có khả năng dự đoán tốt bệnh nhân cần phải nằm viện lâu hơn để điều trị nhiễm trùng huyết.
  • Vitamin D cho thấy độ chính xác chẩn đoán kém hơn trong nghiên cứu này.
  • Hạn chế: Kết quả về tỷ lệ tử vong không được đưa vào nghiên cứu này và Đối tượng đối chứng không được đưa vào nghiên cứu nồng độ vitamin D.

Vani, Kota Kavitha et al. “A STUDY ON PROGNOSTIC VALUE OF SERUM FERRITIN, SERUM VITAMIN D AND C REACTIVE PROTEIN LEVELS IN PAEDIATRIC SEPSIS.” (2022).

26 of 32

3. BIOMARKERS VỚI TIÊN LƯỢNG, DỰ ĐOÁN, VÀ ĐIỀU TRỊ KHÁNG SINH

27 of 32

BIOMARKERS VỚI TIÊN LƯỢNG, DỰ ĐOÁN, VÀ ĐIỀU TRỊ KHÁNG SINH

Review Intensive Care Med. 2023 Feb;49(2):142-153. doi: 10.1007/s00134-022-06956-y. Epub 2023 Jan 2. How to use biomarkers of infection or sepsis at the bedside: guide to clinicians Pedro Póvoa 1 2 3,

28 of 32

HOW TO USE BIOMARKERS OF INFECTION OR SEPSIS AT THE BEDSIDE: GUIDE TO CLINICIANS

  • 250 dấu ấn sinh học đã được xác định và đánh giá nhưng không có dấu ấn sinh học nào phân biệt chính xác giữa NTH và hội chứng giống NTH. Sử dụng dấu ấn sinh học để xác định tác nhân gây bệnh, chẩn đoán lâm sàng và tối ưu hóa điều trị bằng kháng sinh.
  • Việc sử dụng các dấu ấn sinh học đặc hiệu tác nhân gây bệnh và các dấu ấn sinh học phản ứng với vật chủ được sử dụng nhiều nhất, PCT và CRP, để cải thiện việc đánh giá lâm sàng cho bệnh nhân NTH. Động học của dấu ấn sinh học hữu ích hơn các giá trị đơn lẻ trong việc dự đoán NTH, khi đưa ra chẩn đoán và đánh giá đáp ứng với liệu pháp kháng sinh.
  • Dùng thuật toán tổ hợp dấu ấn sinh học có thể hứa hẹn cải thiện cả chẩn đoán và tiên lượng NTH.Cung cấp dữ liệu về lâm sàng của các dấu ấn sinh học đặc hiệu cho tác nhân gây bệnh và đáp ứng với vật chủ

Review Intensive Care Med. 2023 Feb;49(2):142-153. doi: 10.1007/s00134-022-06956-y. Epub 2023 Jan 2. How to use biomarkers of infection or sepsis at the bedside: guide to clinicians Pedro Póvoa 1 2 3,

29 of 32

PROS AND CONS OF USING BIOMARKERS VERSUS CLINICAL DECISIONS IN START AND STOP DECISIONS FOR ANTIBIOTICS IN THE CRITICAL CARE SETTING

  • Bệnh nhân ICU thường xuyên được điều trị bằng kháng sinh kéo dài hoặc không cần thiết, điều này lựa chọn vi khuẩn kháng kháng sinh. Trong thập kỷ qua, đã có sự quan tâm lớn đến các dấu ấn sinh học, đặc biệt là PCT, để giảm phơi nhiễm kháng sinh trong ICU.

  • Các dấu ấn sinh học chưa đáp ứng có thể xác định một cách đáng tin cậy và sớm những bệnh nhân cần điều trị bằng kháng sinh, phân biệt giữa những người đáp ứng và những người không đáp ứng và giúp tối ưu hóa các quyết định điều trị kháng sinh ở những bệnh nhân nguy kịch. Bằng chứng hiện có cần được kết hợp tốt hơn với lâm sàng quá trình ra quyết định.

Review Intensive Care Med. 2015 Oct;41(10):1739-51. doi: 10.1007/s00134-015-3978-8. Epub 2015 Jul 21. Pros and cons of using biomarkers versus clinical decisions in start and stop decisions for antibiotics in the critical care setting Werner C Albrich 1, Stephan Harbarth 2

30 of 32

PROS AND CONS OF USING BIOMARKERS VERSUS CLINICAL DECISIONS IN START AND STOP DECISIONS FOR ANTIBIOTICS IN THE CRITICAL CARE SETTING

  • Các dấu ấn sinh học có thể tạo điều kiện cho việc ngừng kháng sinh an toàn ở những bệnh nhân bệnh nặng không bị nhiễm trùng do vi khuẩn.
  • Sử dụng một thuật toán với dấu ấn sinh học để giảm việc sử dụng kháng sinh quá mức ở những bệnh nhân mắc hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS) không bị nhiễm trùng do vi khuẩn tại PICU . Thuật toán gợi ý rằng các bác sĩ lâm sàng PICU ngừng kháng sinh nếu (1) CRP<4 mg và PCT <1 ng and PCT <1 ng/mL ở khởi đầu SIRS và (2) không có bằng chứng nhiễm khuẩn qua khám /hoặc test ở 48 giờ.

Review Intensive Care Med. 2015 Oct;41(10):1739-51. doi: 10.1007/s00134-015-3978-8. Epub 2015 Jul 21. Pros and cons of using biomarkers versus clinical decisions in start and stop decisions for antibiotics in the critical care setting Werner C Albrich 1, Stephan Harbarth 2

31 of 32

PROS AND CONS OF USING BIOMARKERS VERSUS CLINICAL DECISIONS IN START AND STOP DECISIONS FOR ANTIBIOTICS IN THE CRITICAL CARE SETTING

Kết luận:

  • Hiện tại các dấu ấn sinh học được sử dụng nhiều nhất: PCT và CRP.

  • Các bác sĩ lâm sàng có thể sử dụng các dấu ấn sinh học đặc hiệu để chẩn đoán tác nhân gây bệnh và để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân nhiễm trùng huyết.
  • Đánh giá động học của dấu ấn sinh học hữu ích hơn các giá trị đơn lẻ và đáp ứng của bệnh nhân với liệu pháp kháng sinh trong việc chẩn đoán,điều trị nhiễm trùng huyết.

Review Intensive Care Med. 2015 Oct;41(10):1739-51. doi: 10.1007/s00134-015-3978-8. Epub 2015 Jul 21. Pros and cons of using biomarkers versus clinical decisions in start and stop decisions for antibiotics in the critical care setting Werner C Albrich 1, Stephan Harbarth 2

32 of 32

TRÂN TRỌNG CÁM ƠN