KINH TẾ QUỐC TẾ
Thầy Huỳnh Đạt Hùng
Khoa Quản trị Kinh doanh – Trường Đại học Công nghiệp TP HCM
Nội dung nghiên cứu của môn học
Chương 1: Những vấn đề chung về KTQT
Chương 2: Thương mại quốc tế
Chương 3: Lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển và tân cổ điển
Chương 4: Lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại
Chương 5: Đầu tư quốc tế
Chương 1: Những vấn đề chung về môn học kinh tế quốc tế
1. Giới thiệu khái quát về môn học kinh tế học quốc tế
2. Những đặc điểm mới của nền kinh tế tế giới
3. Cơ sở hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế
1.1. Giới thiệu khái quát về môn học kinh tế quốc tế
1/ Đối tượng nghiên cứu của môn học
1.2. Những đặc điểm của nền kinh tế thế giới
+ Là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia (QG)
+ Tác động qua lại thông qua phân công lao động quốc tế và quan hệ kinh tế quốc tế (KTQT)
- Các bộ phận của nền kinh tế thế giới (KTTG)
+ Các chủ thể kinh tế quốc tế
+ Các quan hệ kinh tế quốc tế
Các chủ thể của nền KTTG
+ Gồm 3 cấp độ: * Thứ nhất, các nền kinh tế QG và vùng lãnh thổ độc lập trên thế giới (TG) * Quan hệ giữa các chủ thể: Thông qua việc ký kết các hiệp định KT, VH và KH-CN giữa 02 QG hay từng nhóm QG.
+ Theo trình độ phát triển kinh tế, các quốc gia trên thế giới được chia thành 3 loại: * Các nước phát triển * Các nước đang phát triển * Các nước chậm phát triển (thu nhập thấp)
Thứ hai, các chủ thể ở cấp độ thấp hơn bình diện quốc gia
- Các chủ thể này có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thấp hơn cấp quốc gia: Đó là những công ty, xí nghiệp, tập đoàn, đơn vị kinh doanh.
- Quan hệ giữa các chủ thể: thông qua việc ký kết các hợp đồng thương mại , đầu tư trong khuôn khổ của những hiệp định được ký kết giữa các quốc gia
Thứ ba, các chủ thể kinh tế ở cấp độ quốc tế
Các Quan hệ KTQT
+ Thương mại quốc tế
+ Đầu tư quốc tế
+ Hợp tác quốc tế về kinh tế và khoa học công nghệ
+ Các dịch vụ quốc tế nhằm thu ngoại tệ
1.3. Cơ sở hình thành và phát triển các QH KTQT
1.3.1. Sự hình thành của các QHKTQT
QHKTQT ra đời là một tất yếu khách quan do:
1.3.2. Tính chất của các QHKTQT
1.3.3. Xu thế quốc tế hóa nền KTTG
- Quá trình QTH diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực SX, TM, đầu tư, tài chính, dịch vụ,….
- Vai trò ngày càng lớn của các hoạt động tài chính, các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc tế…
- WTO với 151 thành viên, đóng góp 95-98% thương mại của thế giới; là biểu hiện của tự do hoá thương mại toàn cầu.
- Xu thế khu vực hoá với sự phát triển của các liên kết kinh tế-thương mại khu vực như EU, ASEAN, NAFTA, APEC... và các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA - Free Trade Area) song phương làm sâu sắc thêm xu thế toàn cầu hoá.
Xu thế quốc tế hóa nền KTTG
+ Tích cực:
* Tăng tính liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia. * Tăng tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực trên quy mô toàn cầu.
* Tăng sự dịch chuyển các yếu tố phục vụ sản xuất, vốn và kỹ thuật trên thế giới. 🡪 Thực tế thì “Sự phát triển của văn minh thế giới 1/10 đựa trên sự sáng tạo còn 9/10 nhờ vào sự chuyển giao”.
* Tăng khả năng hợp tác và cạnh tranh quốc tế…
+ Hạn chế:
+ Gia tăng các rủi ro kinh tế (khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực, việc hình thành các “bong bóng” tài chính-tiền tệ .v.v…)
+ Tình trạng thất nghiệp gia tăng, phân hoá giàu nghèo gia tăng giữa các quốc gia.
+ Hiện tượng chảy máu chất xám diễn ra nhiều và dễ dàng hơn.
+ Gây nên sự phụ thuộc quá mức vào các trung tâm kinh tế lớn, các quốc gia có tiềm lực kinh tế lớn...
Một số vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt
- Đặc điểm:
Ngày càng tăng lên: nợ nước ngoài, ô nhiễm môi trường, thảm họa thiên nhiên, lương thực, thất nghiệp, bệnh dịch, phòng chống ma túy…
- Tác động: Những vấn đề có tính chất toàn cầu tác động đến tất cả các QG, yêu cầu phải có sự phối hợp hành động giữa các nước để cùng nhau giải quyết
Chương 2: �Thương mại quốc tế
2.1. Thương mại quốc tế
2.2. Các hoạt động của thương mại quốc tế
2.3. Chức năng của TMQT
2.4. Lợi ích của thương mại quốc tế
1/ Tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước.
2/ Có ý nghĩa sống còn đối với các nước tham gia vì nó cho phép các quốc gia gia tăng tiêu dùng các mặt hàng với chủng loại phong phú hơn so với chỉ sản xuất trong điều kiện đóng cửa nền kinh tế của nước đó
3/ Cho phép các quốc gia thay đổi cơ cấu các ngành nghề kinh tế, cơ cấu vật chất của sản phẩm theo hướng phù hợp với đặc điểm sản xuất của mình hơn. Cụ thể:
+ các nước có thể nhận thấy và khai thác được những thế mạnh, những tiềm năng của đất nước mình, từ đó có thể tiến hành phân công lại lao động cho phù hợp nhất.
+ thúc đẩy quá trình sản xuất trong nước phát triển trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ về KH-CN và sử dụng những hàng hoá, dịch vụ tốt, rẻ mà mình chưa SX được hoặc SX không hiệu quả.
+ góp phần thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế giữa các nước ngày càng chặt chẽ và mở rộng hơn, góp phần ổn định tình hình kinh tế và chính trị của các quốc gia và của toàn thế giới.
4/ Tạo điều kiện nâng cao khả năng tiêu dùng, tăng mức sống của dân cư. cho phép người tiêu dùng có thể tiêu dùng được nhiều hàng hoá, dịch vụ hơn, chủng loại phong phú hơn, giá rẻ hơn. Đó chính là cơ sở để nâng cao dần mức sống của dân cư các
5/ Góp phần làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước và mở rộng các mối quan hệ quốc tế.
Chương 3: �Lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển và tân cổ điển�
3.1. Lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương
3.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
2.3. Lý thuyết lợi thế tương đối
3.1. Lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương
- Đầu thế kỷ 17, vàng và bạc được sử dụng với tư cách là tiền tệ và là thước đo của cải của các nước. Một quốc gia được coi là phồn vinh hơn nếu như có được nhiều vàng hơn.
- Xuất khẩu sẽ kích thích sản xuất trong nước, đồng thời dẫn đến dòng kim loại quí đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia đó.
- Ngược lại, nhập khẩu là gánh nặng vì làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trong nước, và hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của cải của quốc gia do phải dùng vàng bạc chi trả cho nước ngoài.
Như vậy, của cải của một quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Trên cơ sở đó, trường phái trọng thương cho rằng nhà nước phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch, theo đuổi chủ nghĩa dân tộc về kinh tế. Cụ thể là nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp.
Ưu:
Lý thuyết trọng thương sớm đánh giá được tầm quan trọng của thương mại quốc tế, coi trọng vai trò chủ thể điều chỉnh quan hệ buôn bán với nước ngoài của Nhà nước.
Nhược:
- Quan điểm trọng thương về thương mại còn đơn giản, ít tính lý luận, nặng tính kinh nghiệm, chưa cho phép giải thích bản chất của thương mại quốc tế.
- Trường phái trọng thương chưa giải thích được cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế, chưa thấy được tính hiệu quả và lợi ích từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi,
3.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
- Đây là lý thuyết về thương mại quốc tế do Adam Smith khởi xướng trong tác phẩm nổi tiếng ``Của cải của các dân tộc`` được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1776
- Về bản chất, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith được phát biểu rất đơn giản: nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn so với quốc gia B, và quốc gia B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với quốc gia A, thì lúc đó mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia.
Theo Adam Smith, mỗi nước có lợi thế khác nhau nên chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối và đem trao đổi với nước ngoài lấy những sản phẩm mà nước ngoài sản xuất hiệu quả hơn thì các bên đều có lợi
Bảng 3.1: Chi phí lao động để sản xuất thép và cà phê ở VN và Hàn Quốc | ||
| Việt Nam | Hàn Quốc |
Thép | 5 | 3 |
Cà phê | 2 | 6 |
* Trong điều kiện tự cấp tự túc (Khi chưa có trao đổi thương mại quốc tế), Hàn Quốc là nước có hiệu quả cao hơn trong sản xuất thép vì để làm ra 1 đơn vị thép, nước này chỉ cần 3 lao động, trong khi Việt Nam phải cần tới 5 lao động
* Việt Nam có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cà phê và bất lợi tuyệt đối trong sản xuất thép. Ngược lại, Hàn Quốc có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất thép nhưng lại bất lợi tuyệt đối trong sản xuất cà phê.
Trong điều kiện có trao đổi thương mại quốc tế, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối, Hàn Quốc sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất thép còn Việt Nam chuyên môn hoá vào sản xuất cà phê rồi trao đổi cho nhau thì cả hai quốc gia đều thu được lợi ích.
Thương mại còn có thể làm tăng khối lượng sản xuất và tiêu dùng của toàn thế giới.
🡪 Cụ thể là tất cả 60 lao động ở Hàn Quốc tập trung vào sản xuất thép, và 60 lao động ở Việt Nam thì tập trung vào sản xuất cà phê, lúc đó sản lượng của toàn thế giới sẽ là 20 thép và 30 cà phê.
Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế tương đối.
Ông cho rằng, nếu mỗi nước chuyên môn hoá vào các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối (có hiệu quả sản xuất so sánh cao nhất) thì thương mại sẽ có lợi cho các bên. Nói cách khác, một quốc gia sẽ có lợi khi sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối hay giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia.
2.3. Lý thuyết lợi thế tương đối
Qui luật lợi thế tương đối
Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia. Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia.
Bảng 3.2: Chi phí lao động để sản xuất thép và cà phê ở VN và Hàn Quốc | ||
| Việt Nam | Hàn Quốc |
Thép | 5 | 6 |
Cà phê | 2 | 12 |
| * cà phê: 2/12 * Thép: 5/6 2/12 < 5/6 🡪 giá cà phê ở Việt Nam rẻ tương đối 🡪 cà phê có lợi thế tương đối hơn thép | * cà phê: 12/2 * Thép: 6/5 6/5 < 12/2 🡪 Thép HQ rẻ tương đối 🡪 thép có lợi thế tương đối hơn cà phê |
Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thì trong trường hợp này, Việt Nam sẽ chỉ xuất khẩu và Hàn Quốc sẽ chỉ nhập khẩu. Kết luận này là không thực thế vì sẽ không thể tồn tại trao đổi thương mại lâu dài giữa một nước chỉ xuất khẩu còn nước kia chỉ nhập khẩu.
Chi phí vận chuyển là không đáng kể và có thể coi như bằng 0; lao động là yếu tố đầu vào duy nhất có thể di chuyển được giữa các ngành của một nước nhưng không thể di chuyển được trên phạm vi quốc tế; cạnh tranh là hoàn hảo trên cả thị trường hàng hoá và thị trường các yếu tố sản xuất; không sử dụng tiền trong trao đổi; bổ sung thêm giả định là hiệu suất không đổi theo qui mô. Chi phí lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cà phê và thép tính theo lượng lao động cần thiết được cho trong bảng sau:
Lợi thế tương đối được xác định trên cơ sở so sánh các mức giá tương quan của hai hàng hoá. Giá tương quan giữa hai mặt hàng được định nghĩa một cách đơn giản là giá của mặt hàng này được tính bằng số lượng mặt hàng kia. Trong mô hình giản đơn trên, giá cả tương quan giữa cà phê và thép được xác định thông qua chi phí lao động
Bảng 3.3: Giá cả tương quan giữa hai hàng hoá | ||
| Việt Nam | Hàn Quốc |
Thép (1 đơn vị) | 2,5 cà phê | 0,5 cà phê |
Cà phê (1 đơn vị) | 0,4 thép | 2 thép |
Lợi thế của VN khi chuyển từ SX thép sang SX cà phê | |||
| Việt Nam | Hàn Quốc | |
Thép (1 đơn vị ) | 5 | 0 | 0,5 cà phê |
Cà phê (1 đơn vị ) | 2 | 2,5 Lời 4 thép 5 thép | 2 thép |
| | | |
Chương 4�LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
4.1. Lý thuyết chu kì sống sản phẩm và TMQT
4.2. Một số lý thuyết thương mại quốc tế mới khác
4.3. Lý thuyết về khả năng cạnh tranh cấp độ quốc gia
4.1. Lý thuyết chu kì sống sản phẩm và thương mại quốc tế
+ là nguyên nhân chính dẫn đến thương mại giữa các nước phát triển.
+ là cơ hội để các nước xuất khẩu các sản phẩm mới của mình sang nước có trình độ tương tự, mức thu nhập tương tự
Lý thuyết chu kì sống sản phẩm quốc tế
GĐ1
GĐ2
GĐ3
GĐ4
GĐ5
Xuất khẩu
Khối lượng
Giai đoạn 1 sản phẩm được sản xuất và tiêu dùng chỉ ở nước phát minh (khoảng thời gian OA). Chi phí triển khai và phát triển sản phẩm mới rất cao, làm cho chi phí sản xuất cao và dẫn đến giá thành sản phẩm cao. Giá bán cao nên chỉ được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường trong nước.
Giai đoạn 2 (giai đoạn tăng trưởng của sản phẩm, sản phẩm được hoàn thiện ở nước phát triển và nhu cầu về loại sản phẩm này tăng lên cả ở trong và ngoài nước. Và ở giai đoạn này chưa có nước nào ngoài nước phát minh có thể sản xuất được loại sản phẩm này, chính vì vậy nên nước phát minh có được sự độc quyền về sản phẩm cả trong và ngoài nước.
Giai đoạn 3 (Nhân rộng), sản phẩm đã được tiêu chuẩn hoá, hãng phát minh ra sản phẩm thấy rằng họ có lợi hơn khi họ cấp giấy phép cho các hãng trong và ngoài nước khác cũng có nhu cầu sản xuất sản phẩm này. Và một số nước khác bắt đầu sản xuất sản phẩm mới phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Giai đoạn 4 (Bảo hòa) nước ngoài có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn nước phát minh ra sản phẩm do họ có chi phí lao động thấp hơn và không mất chi phí phát triển sản phẩm, sản xuất ở nước phát minh giai đoạn này bắt đầu sụt giảm. Cạnh tranh về nhãn hiệu được thay thế bằng cạnh tranh về giá.
Cuối cùng, ở giai đoạn 5 (Suy vong), nước bắt chước công nghệ bán chính sản phẩm này sang nước phát minh. Sự tràn lan công nghệ, tiêu chuẩn hoá sản phẩm, và chi phí nhân công thấp làm cho sản phẩm dẫn đến suy giảm. Đây là lúc các nước có trình độ phát triển tập trung phát triển công nghệ mới và phát minh ra sản phẩm mới.
4.2. Một số lý thuyết thương mại quốc tế mới khác
4.2.1. Chi phí vận chuyển và thương mại quốc tế
Một hàng hoá được trao đổi trên thị trường quốc tế chỉ khi mức chênh lệch giá trước khi có thương mại giữa các nước cao hơn chi phí vận chuyển hàng hoá đó từ quốc gia này sang quốc gia khác. Những mặt hàng này được gọi là hàng hoá có thể thương mại (traded goods). Khi tính tới yếu tố chi phí vận chuyển sẽ thấy một số sản phẩm không được buôn bán trên thị trường quốc tế, những sản phẩm gọi là hàng hoá không thương mại được (nontraded goods). Hai khái niệm này chỉ áp dụng trong thương mại quốc tế.
4.2.1. Tác động của chi phí vận chuyển tới phân bố các ngành công nghiệp
* Một số ngành cần đặt gần với nguồn nguyên liệu đầu vào để giảm chi phí vận chuyển, ví dụ ngành khai khoáng có các nhà máy đặt gần các khu mỏ
* Những ngành có sản phẩm cuối cùng khó khăn trong vận chuyển cần đặt gần nơi tiêu thụ.
VD: Trong hai thập kỉ qua, hơn nghìn công ty của Hoa Kì đã đầu tư hàng triệu đôla vào Mêxico dọc theo biên giới Hoa Kì. Các khu Maquiladoras theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là thu phí cầu phà đã thu hút hơn 500 nghìn công nhân Mêxico đến làm việc tại các nhà máy lắp ráp của Hoa Kì, các sản phẩm sau khi được lắp ráp sẽ quay lại Hoa Kì. Các công ty Hoa Kì đặt nhà máy tại đây nhằm khai thác chi phí nhân công rẻ (lương chỉ bằng 1/6 lương công nhân Hoa Kì)
Nguồn: International Economics, Salvator, fifth edition, p. 174
4.3. Lý thuyết về khả năng cạnh tranh cấp độ quốc gia
Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF - World Economic Forum) đưa ra định nghĩa về tính cạnh tranh của một quốc gia, gọi là ``năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao`` trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.
Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index- GCI)
Năm 2019, Chỉ số GCI của Việt Nam đạt 61,5/100 điểm, xếp vị trí 67 trên tổng số 141 quốc gia và nền kinh tế.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Chính phủ - Ngày 17/12/2021.
Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam cải thiện đáng kể cả về điểm số và thứ hạng là một kết quả quan trọng, phản ánh sự đánh giá tích cực của WEF và cộng đồng quốc tế đối với nỗ lực và tiến bộ của Việt Nam trong hoàn thiện thể chế kinh tế, cải cách quy định, cải thiện môi trường kinh doanh.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Chính phủ - Ngày 17/12/2021.
Theo WEF (1997), tám nhóm nhân tố xác định tính cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế gồm:
1/ Độ mở cửa: Mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế giới và mức độ tự do hoá về ngoại thương và đầu tư
2/ Chính phủ: Vai trò và phạm vi can thiệp của chính phủ và chất lượng các dịch vụ do chính phủ cung cấp, tác động của chính sách tài chính
3/ Tài chính: Vai trò của các thị trường tài chính trong, hành vi tiết kiệm và tính hiệu quả của các trung gian tài chính trong việc chu chuyển nguồn tiết kiệm vào các đầu tư có hiệu quả (đầu tư và tiết kiệm, tỉ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân, rủi ro tài chính).
5/ Công nghệ: mức độ nghiên cứu và phát triển (R&D), trình độ công nghệ của một quốc gia (năng lực công nghệ nội sinh, năng lực tiếp nhận công nghệ mới).
6/ Quản trị: chiến lược cạnh tranh, phát triển sản phẩm, kiểm tra chất lượng, hoạt động tài chính công ty, nguồn nhân lực và khả năng tiếp thị.
4/ Kết cầu hạ tầng: Số lượng và chất lượng hệ thống giao thông vận tải, mạng viễn thông, điện cung ứng, bến bãi kho tàng và các điều kiện phân phối là cơ sở vật chất hạ tầng giúp nâng cao hiệu quả đầu tư.
7/ Lao động: Hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động
8/ Thể chế: Tính đúng đắn của các thể chế pháp lý và xã hội tạo cơ sở cho việc hỗ trợ một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, hiện đại, gồm luật lệ và mức độ bảo hộ quyền sở hữu.
Tất cả có khoảng 250 chỉ số định tính và định lượng được sử dụng để đánh giá tính cạnh tranh cấp quốc gia. Cách tiếp cận của WEF được các nhà lập chính sách rất chú trọng vì nó mang tính khái quát, bao quát được toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác nó lại thể hiện được sự gắn kết giữa môi trường kinh tế và các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tạo ra cái nhìn đồng bộ về tình hình kinh tế của mỗi nước. Và từ đó đưa ra những chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia trong từng thời kì nhất định.
CHƯƠNG 5: �ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
5.1. Đầu tư và di chuyển quốc tế các nguồn lực
5.2. Di chuyển quốc tế về vốn
5.3. Di chuyển quốc tế về lao động
5.1. Đầu tư và di chuyển quốc tế các nguồn lực
5.1.1. Đầu tư quốc tế
Khái niệm và nguyên nhân của đầu tư quốc tế "Đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ QG này sang QG khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia". Nguyên nhân của đầu tư quốc tế: - Do sự mất cân đối giữa các yếu tố sx của các QG - Do mối quan hệ giữa các bên tham gia - Giải quyết một số nhiệm vụ đặc biệt
Một số lý thuyết về đầu tư quốc tế
1/ Lý thuyết về lợi ích cận biên: Đầu tư QT làm cho tổng giá trị SP của toàn thế giới tăng lên; góp phần tăng khả năng phân phối và hiệu quả sử dụng nguồn lực của QG cũng như toàn TG
2/ Lý thuyết về chu kỳ sống đầu tư quốc tế
🡪 Tại sao phải chuyển hướng từ chỗ sản xuất và XK SP sang đầu tư ra nước ngoài?
3/ Lý thuyết về quyền lực thị trường
Đầu tư QT được thực hiện do những hành vi đặc biệt của các Cty độc quyền nhóm trên phạm vi QT
* Ngăn cản không cho các đối thủ khác thâm nhập vào ngành/thị trường
4/ Lý thuyết Chiết trung (Eclectic theory) của John Dunning (1977)
Các DN sẽ thực hiện đầu tư ra nước ngoài khi hội tụ đủ 3 lợi thế:
5.1.2. Khái niệm di chuyển nguồn lực quốc tế và các loại nguồn lực di chuyển quốc tế
Các đặc trưng cơ bản của việc di chuyển các nguồn lực quốc tế
- Di chuyển đa hướng với phạm vi ngày một rộng, có tính lan tỏa cao, khối lượng lớn và tốc độ nhanh.
5.2. Di chuyển quốc tế về vốn
5.2.1. Khái niệm và các đặc trưng của di chuyển quốc tế về vốn
Di chuyển quốc tế về vốn là quá trình vận động của vốn giữa các quốc gia nhằm đạt những mục đích, mục tiêu nhất định (có thể là lợi nhuận, có thể phi lợi nhuận, có thể cả hai mục tiêu này)
5.2.2. Các loại hình đầu tư quốc tế
1/ Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Foreign Direct Investment – FDI)
Khái niệm: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.
Ưu điểm và hạn chế của FDI
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư gián tiếp nước ngoài
(Foreign Portfolio Investment – FPI)
Khái niệm: Là loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người sở hữu vốn không trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Nguồn vốn hình thành (chủ sở hữu): Chủ yếu do các tổ chức quốc tế như: WB, IMF, ADB, các Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (NGOs). Vốn của các cá nhân rất nhỏ thường dưới dạng cổ phiếu, trái phiếu.
Đặc điểm: Các chủ đầu tư không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Nếu là vốn của các tổ chức quốc tế, Chính phủ thì thường đi kèm với các điều kiện ưu đãi và gắn chặt với thái độ của chính phủ. Nếu là vốn của tư nhân thì
Hình thức đầu tư: Viện trợ nước ngoài bao gồm hoàn lại và không hoàn lại; đầu tư chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu; Vay ưu đãi, vay thông thường (ODA)
- Tính chất: Phụ thuộc nhiều vào quan hệ chính trị giữa hai bên
Hỗ trợ phát triển chính thức
Official Development Assistance - ODA
Khái niệm: ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế tới các nước đang và chậm phát triển.
Phân loại ODA
- Theo tính chất: Viện trợ không hoàn lại (Các khoản vay cho không, không phải trả lại); Viện trợ có hoàn lại (Các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện “mềm”)), Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín dụng (cụ thể là ưu đãi hoặc thương mại)
Theo hình thức: Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi và Hỗ trợ phi dự án: bao gồm các loại hình như sau: Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ qua nhập khẩu; Hỗ trợ trả nợ; Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định mà không phải xác định một cách chính thức nó sẽ được sử dụng như thế nào.
Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển ODA giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực; giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế; góp phần tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển trong nước
5.3. Di chuyển quốc tế về lao động
5.3.1. Khái niệm di chuyển quốc tế về lao động
Di chuyển quốc tế về lao động: là một hiện tượng trong đó người lao động ở quốc gia này sang một quốc gia khác có kèm theo việc thay đổi chỗ ở tạm thời hoặc vĩnh viễn nhằm thực hiện các mục đích khác nhau ở nước ngoài.
5.3.2. Nguyên nhân và động lực thúc đẩy di chuyển quốc tế về lao động
Do chênh lệch cung – cầu về sức lao động (số lượng và chất lượng lao động) ở các quốc gia hoặc giá cả sức lao động. Động lực: Muốn tìm kiếm được tiền công và mức thu nhập cao hơn ở nước ngoài
5.3.3. Những tác động của di chuyển lao động quốc tế về mặt lý thuyết
• Tạo nên dòng người di cư từ quốc gia có thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập cao.
• Có sự phân phối thu nhập quốc dân đối với người lao động ở quốc gia có tiền công lao động thấp (có người di cư) và đối với nguồn nhân lực phi lao động ở quốc gia có tiền công lao động cao
Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp vốn của hai bên hoặc nhiều bên Việt Nam và nước ngoài. DN 100% vốn ĐTNN đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và/ hoặc với nhà ĐTNN để thành lập DN 100% vốn ĐTNN mới tại VN.Vốn pháp định: bên nước ngoài góp tối thiểu 30% vốn pháp định Hợp đồng hợp tác kinh doanh – BCC: Là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới. Hợp đồng hợp tác kinh doanh – BOT: Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
Các hình thức hợp tác
Hợp đồng hợp tác kinh doanh – BTO: Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh – BT: Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Đặc điểm của BOT, BTO, BT: Chỉ được ký kết với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Đầu tư vào hạ tầng cơ sở của Việt Nam: đường, cầu, cảng, sân bay,…; Được hưởng nhiều ưu đãi của Chính phủ Việt Nam về tiền thuê đất, thuế các loại, thời gian đầu tư dài tạo điều kiện cho nhà ĐTNN thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý; Hết thời gian hoạt động của Giấy phép, chủ đầu tư phải chuyển giao không bồi hoàn cho Chính phủ Việt Nam trong tình trạng hoạt động bình thường.
Kết thúc môn học Kinh tế quốc tế
Số điện thoại thầy Hùng: 0908385730