DẪN NHẬP VÀO CỰU ƯỚC
6:30 – 8:30 PM
09.12.21
Wifi Password: Mht2021!
Đế quốc Babylon
Đế quốc Ba-tư
Đế quốc Hy-lạp
333 t.c.n. LXX (70)
Greek Septuagint
�ἡ δὲ γῆ ἦν ἀόρατος καὶ ἀκατασκεύαστος, καὶ σκότος ἐπάνω τῆς ἀβύσσου, καὶ πνεῦμα θεοῦ ἐπεφέρετο ἐπάνω τοῦ ὕδατος.
ἡ δὲ γῆ ἦν ἀόρατος καὶ ἀκατασκεύαστος, καὶ σκότος ἐπάνω τῆς ἀβύσσου, καὶ πνεῦμα θεοῦ ἐπεφέρετο ἐπάνω τοῦ ὕδατος.
Gặp được Lời Chúa, con đã nuốt vào, Lời Ngài làm cho con hoan hỷ,
làm vui thoả lòng con,
vì con được mang danh Ngài,
lạy ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh.
*** Xin mở Giê-rê-mi-a 15: 16
*** Jeremiah 15: 16
16Gặp được lời Chúa, con đã nuốt vào, lời Ngài làm cho con hoan hỷ,
làm vui thoả lòng con, vì con được mang danh Ngài, lạy ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh (Gr 15: 16).
16When I found your words, I devoured them; they became my joy and the happiness of my heart, Because I bore your name, O LORD, God of hosts (Jr 15:16).
Pk 2. Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài dạy con trong cuộc sống.
Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài từng theo bước đời con.
Xin cho con biết sẵn sàng chờ đợi và vâng nghe theo Chúa.
Xin cho con biết sẵn sàng thực lành Lời Chúa đã truyền ban.��
ÐK: Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con.
Lời Ngài là chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước.
Lời Ngài đượm chất ngất niềm vui, trọn vẹn ngàn tiếng hát đầy vơi.
Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời. Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai.
Thưa là:
Thánh Vịnh - Psalms
Bản văn Híp-ri
Bản văn Hy Lạp
ΙΗΣΟΥΣ ΧΡΙΣΤΟΣ Ιησούς Χριστός
IC XC
GIÊ-SU KI-TÔ
46Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: "Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni", nghĩa là "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
46And about three o'clock Jesus cried out in a loud voice, “Eli, Eli, lema sabachthani? which means, My God, my God, why have you forsaken me?”
Câu này trong Phúc Âm nào?
Chương mấy?
Câu mấy?
Google search:
"Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni“
“Eli, Eli, lema sabachthani”
46Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: "Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni", nghĩa là "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27: 46)
46And about three o'clock Jesus cried out in a loud voice, “Eli, Eli, lema sabachthani? which means, My God, my God, why have you forsaken me?” (Mt 27: 46)
2Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao? (Tv 22: 2)
2My God, my God, why have you abandoned me? (Ps 22: 2)
HAFIZ
حافظ
1 Sa-mu-en 2:1-10: Bài ca của An-na
Lu-ca 1: 46-55: Bài ca của Mẹ Ma-ri-a
45Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh (Lc 24: 45).
45Then he opened their minds to understand the scriptures (Lk 24: 45).
1Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ (Dt 1: 1).
1In times past, God spoke in partial and various ways to our ancestors through the prophets (Hb 1: 1).
20Nhất là anh em phải biết điều này: không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh.
20Know this first of all, that there is no prophecy of Scripture that is a matter of personal interpretation,
21Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa (2 P 1: 20-21).
21for no prophecy ever came through human will; but rather human beings moved by the Holy Spirit spoke under the influence of God (2 P 1: 20-21).
Cầu xin Chúa Thánh Thần �Người thương thăm viếng hồn con �Ban xuống cho con hồng ân chan chứa �Trau dồi cho đáng ngôi thánh đường. �Nguyện xin Chúa Ngôi Ba �Đoái nghe lời con thiết tha �Tình thương mến ấp ủ con ngày đêm �Nhuần thấm xác hồn tràn lan ơn thiêng. �
Chúng ta bắt đầu �mọi chuyện với �dấu chỉ của �“yêu thương,�yêu thương cho đến cùng” �(Gioan 13: 1). �
Và là dấu chỉ chiến thắng �sự chết �và sống lại.����
Dẫn chúng ta �vào sự hiệp thông thân mật với �Thiên Chúa Ba Ngôi.�� �
Nhân danh Cha
và Con
và Thánh Thần.
Amen.
Con xin phép dùng
Kinh Thánh
Trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước
do
Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ
thực hiện.
Tiếng Mỹ:
New American Bible
(dùng trong Phụng Vụ ở Mỹ)
New Revised American Bible
INTRODUCTION TO THE HEBREW SCRIPTURES (OT)
GOAL: The catechist will understand the Hebrew Scriptures (Old Testament) as revealing God’s saving love for humankind.
OBJECTIVES: By the end of this session the catechist will be able to:
1-Describe the central theme of the Hebrew Scriptures (OT).
CCC #121-123, 522
2-Explain the significance of the following key stories/events of salvation history
*Creation and Fall
Genesis 1:1 – 3:21 (in three chapters) ; CCC # 280-289 , 385-412
*Abraham
Genesis 22: 1-18 ; CCC # 59-61, 145-147, 1080
*Exodus
Exodus 14: 15 – 15:1 ; CCC # 1081
*Covenant
Exodus 19 – 20:17 (in two chapters) ; CCC # 62-63, 2057
*Exile and Prophets
Baruch 3: 9-15, 32 – 4:4 (in two chapters) ; Ezekiel 36: 16-28 ; CCC #64, 710, 1081
3-Compare the Exodus and Jesus’ saving event.
CCC # 112, 571, 608, 610-611, 2175
4-Describe how the central theme of the Hebrew Scriptures (OT) speaks to Christian today.
CCC # 121-123, 128-130 ; Vatican II’s Dei Verbum #16
5-Describe the use of the Hebrew Scriptures (OT) in liturgy.
CCC# 1093, 1156
1- Mô tả các chủ đề chính của Kinh Thánh Do Thái (Híp-ri) (Cựu Ước)
1- Describe the central theme of the Hebrew Scriptures (OT)
CCC #121-123, 522
Ἡ μετάφρασις τῶν Ἑβδομήκοντα�(Bản dịch của 70)�LXX��Giữa thế kỷ III, thế kỷ II t.c.n.
Thời Chúa Giê-su�(Yeshua) ישוע - ܝܫܘܥ (Isho) � ΙΗΣΟΥΣ (IESOUS)�
Thế kỷ IV, 1592
1979, 1986
46 Sách trong Kinh Thánh Do Thái�(Cựu Ước)
TaNaKa
120 (1117)
Truyền Thống các Tông Đồ giúp Hội Thánh phân định những văn bản nào phải được kể vào danh mục các Sách Thánh. Danh mục đầy đủ này được gọi là “Thư quy” Thánh Kinh. Thánh Kinh gồm 46 bản văn Cựu Ước (hoặc 45, nếu gom Giê-rê-mi-a và Ai Ca thành một) và 27 bản văn Tân Ước. Đó là:
46 Sách trong Kinh Thánh Do Thái�TORAH (Lời dạy, Luật) �Ngũ Kinh (5) Pentateuch πεντάτευχος (pentáteukhos)�
Genesis
Exodus
Leviticus
Numbers
Deuteronomy
Sáng Thế,
Xuất Hành,
Lê-vi,
Dân Số,
Đệ Nhị Luật
46 Sách trong Kinh Thánh Do Thái�Lịch Sử (16)�
Joshua
Judges
Ruth
1 Samuel
2 Samuel
1 Kings
2 Kings
1 Chronicles
Giô-suê
Thủ Lãnh
Rút
1 Sa-mu-en
2 Sa-mu-en
1 Các Vua
2 Các Vua
1 Sử Biên Niên
46 Sách trong Kinh Thánh Do Thái�Lịch Sử (16)�
2 Chronicles
Ezra
Nehemiah
Tobit
Judith
Esther
1 Maccabees
2 Maccabees
2 Sử Biên Niên
Ét-ra
Nơ-khe-mi-a
Tô-bi-a
Giu-đi-tha
Ét-te,
1 Ma-ca-bê
2 Ma-ca-bê
46 Sách trong Kinh Thánh Do Thái�Khôn Ngoan & Thi Ca (7)�
Job
Psalms
Proverbs
Ecclesiastes
The Song of Songs
Wisdom
Sirach (Ecclesiasticus)
Gióp
Thánh Vịnh
Châm Ngôn
Giảng Viên
Diễm Ca
Khôn Ngoan
Huấn Ca
46 Sách trong Kinh Thánh Do Thái�Ngôn Sứ (18) �
Isaiah
Jeremiah
Lamentations
Baruch
Ezekiel
Daniel
Hosea
Joel
Amos
I-sai-a
Giê-rê-mi-a
Ai Ca
Ba-rúc
Ê-dê-ki-en
Đa-ni-en
Hô-sê
Giô-en
A-mốt
46 Sách trong Kinh Thánh Do Thái�Ngôn Sứ (18) �
Obadiah
Jonah
Micah
Nahum
Habakkuk
Zephaniah
Haggai
Zachariah
Malachi
Ô-va-đi-a
Giô-na
Mi-kha
Na-khum
Kha-ba-cúc
Xô-phô-ni-a
Khác-gai
Da-ca-ri-a
Ma-la-khi.
Cựu Ước (121–123)
121 (1093)
Cựu Ước là một phần không thể thiếu được của Thánh Kinh. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng nên có một giá trị trường tồn, bởi vì Giao Ước cũ không hề bị thu hồi.
122 (702, 763, 708, 2568)
Thật vậy, “Nhiệm cục Cựu Ước được bố trí với mục đích chính yếu là để chuẩn bị cho ngày quang lâm của Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Độ muôn loài.” Các sách Cựu Ước, “tuy có nhiều bất toàn và tạm bợ”, vẫn làm chứng về phương pháp giáo dục của tình yêu cứu độ
của Thiên Chúa: các sách ấy
1- “diễn tả một cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa,
2- tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Ngài,
3- một khoa khôn ngoan hữu ích về đời sống con người,
4- và những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu;
5- sau cùng, trong đó ẩn chứa mầu nhiệm ơn cứu độ chúng ta.”
123
Các Ki-tô hữu tôn kính Cựu Ước với tính cách Lời đích thực của Thiên Chúa. Hội Thánh luôn cực lực chống lại ý kiến đòi gạt bỏ Cựu Ước, viện cớ là Tân Ước đã làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (chủ thuyết Marcion).
522 (711, 762)
Việc Con Thiên Chúa ngự đến trong thế gian là một biến cố hết sức trọng đại. Các nghi thức và các hy lễ, đến độ Thiên Chúa đã muốn chuẩn bị cho biến cố đó qua nhiều thế kỷ các hình ảnh và các biểu tượng của “Giao Ước Cũ”, tất cả đều được Thiên Chúa
làm cho hội tụ trong Đức Ki-tô: Chính Ngài loan báo Đức Ki-tô qua miệng các Tiên tri kế tiếp nhau ở Ít-ra-en. Ngoài ra, Ngài còn khơi dậy trong tâm hồn các người ngoại giáo một sự chờ đợi chưa rõ ràng việc Con Thiên Chúa ngự đến.
Thánh vịnh 22 (21)
I-sa-i-a chương 53
�Nghĩa của Kinh Thánh:��1- Nghiã văn tự�2- Nghĩa thiêng liêng��The Senses of the Scripture:��1- The literal sense.�2- The spiritual sense.��
2- Nghĩa Thiêng Liêng:�2a- Nghiã ẩn dụ dạy điều phải tin�2b- Nghiã luân lý dạy điều phải làm�2c- Nghiã thần bí dạy điều phải vươn tới. (CCC # 115-118)��2- The Spiritual Sense:�2a- The Allegory to faith;�2b- The Moral how to act;�2c- The Anagogy our destiny��
1- Nghiã văn tự dạy về biến cố�2a- Nghiã ẩn dụ dạy điều phải tin�2b- Nghiã luân lý dạy điều phải làm�2c- Nghiã thần bí dạy điều phải vươn tới. (CCC # 115-118)��1- The Letter speaks of deeds;�2a- Allegory to faith;�2b- The Moral how to act;�2c- Anagogy our destiny��
����1- Nghiã văn tự dạy về biến cố�2a- Nghiã ẩn dụ dạy điều phải tin�2b- Nghiã luân lý dạy điều phải làm�2c- Nghiã thần bí dạy điều phải vươn tới. ����
TÂM TÌNH HIẾN DÂNG�
ĐK. Biết lấy gì cảm mến,
biết lấy chi báo đền hồng ân Chúa cao vời Chúa đã làm cho con.�2. Trao cho con lời Chúa
dù đời con hoen úa.
Nguyện đời con đem
lời chân lý đến cho mọi nơi.
Ra đi đầy nguyện ước và này con gieo bước. Nguyện đời con đem
nguồn yêu mến đến cho người.
1- Open my eyes, Lord,
Help me to see your face,
Open my eyes, Lord,
Help me to see.
2- Open my ears, Lord,
Help me to hear your voice,
Open my ears, Lord,
Help me to hear.
3- Open my heart, Lord,
Help me to love like you,
Open my heart, Lord,
Help me to love.
2-Giải thích ý nghĩa của những câu chuyện / sự kiện chính sau đây của lịch sử cứu độ
2-Explain the significance of
the following key stories/events of salvation history
2A- Tạo Dựng và Sa Ngã
2A- Creation and Fall
Genesis 1:1 – 3:21 (in three chapters) ; CCC # 280-289 , 385-412
Is 43: 1
1Đây là lời ĐỨC CHÚA phán, lời của Đấng tạo thành ngươi, hỡi Gia-cóp, lời của Đấng nắn ra ngươi, hỡi Ít-ra-en: Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta! (Is 43: 1).
1But now, thus says the LORD, who created you, O Jacob, and formed you, O Israel: Fear not, for I have redeemed you; I have called you by name: you are mine (Is 43: 1).
280 (288, 1043)
Công trình tạo dựng là
Ngược lại, mầu nhiệm Đức Ki-tô là ánh sáng quyết định soi tỏ mầu nhiệm tạo dựng;
mầu nhiệm Đức Ki-tô mặc khải cùng đích của việc “lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã sáng tạo trời đất” (St 1:1): ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nhắm tới vinh quang của công trình tạo dựng mới trong Đức Ki-tô.
281 (1095)
Vì vậy, các bài Sách Thánh trong đêm Canh thức Vượt Qua, đêm mừng công trình tạo dựng mới trong Đức Ki-tô, bắt đầu bằng bài tường thuật công trình tạo dựng.
Trong phụng vụ Byzantin, bài tường thuật này luôn là bài đọc thứ nhất trong lễ vọng các đại lễ kính Chúa. Theo một chứng từ cổ xưa, việc dạy các dự tòng để chịu phép Rửa Tội cũng theo cùng một đường lối đó.
I. Dạy giáo lý về công trình tạo dựng (282–289)
282 (1730)
Việc dạy giáo lý về công trình tạo dựng là hết sức quan trọng. Nó liên quan đến chính nền tảng của cuộc sống làm người và làm Ki-tô hữu: vì nó đem lại câu trả lời của đức tin Ki-tô Giáo cho câu hỏi căn bản mà con người của mọi thời đại thường đặt ra cho mình:
Hai câu hỏi này, về nguồn gốc và cùng đích, không thể tách rời nhau.
Chúng có tính cách quyết định đối với ý nghĩa và định hướng cho cuộc đời chúng ta và cho cách thức hành động của chúng ta.
289 (390, 111)
Trong tất cả những lời Thánh Kinh nói về công trình tạo dựng, ba chương đầu của sách Sáng Thế có một chỗ đứng độc đáo. Về phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều nguồn khác nhau.
Các tác giả được linh hứng đã đặt các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn tả những chân lý - về công trình tạo dựng,
và niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của Chúa Ki-tô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn là nguồn chính yếu cho việc dạy giáo lý về những mầu nhiệm của “lúc khởi đầu”: việc tạo dựng, sự sa ngã, lời hứa ban ơn cứu độ.
2B- Áp-ra-ham
2B- Abraham
Genesis 22: 1-18 ;
CCC # 59-61, 145-147, 1080
Thiên Chúa chọn ông Áp-ra-ham (59–61)
59 (145, 2570)
Để quy tụ loài người đang tản mác về một mối, Thiên Chúa chọn ông Áp-ram và phán với ông: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi” (St 12,1); với ý định làm cho ông thành Áp-ra-ham, nghĩa là “cha của vô số dân tộc” (St 17,5): “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3).
60 (760, 762, 781)
Dân tộc phát sinh từ ông Áp-ra-ham sẽ được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa với các tổ phụ, tức là dân được Ngài tuyển chọn, họ được gọi để chuẩn bị cho việc quy tụ trong tương lai mọi con cái Thiên Chúa trong sự duy nhất của Hội Thánh; dân tộc này sẽ là gốc rễ mà các dân ngoại khi tin vào Thiên Chúa sẽ được tháp ghép vào.
61
Các tổ phụ, các tiên tri và những vĩ nhân khác của Cựu ước đã và sẽ luôn được tôn kính như những vị Thánh trong tất cả các truyền thống phụng vụ của Hội Thánh.
Ông Áp-ra-ham – “tổ phụ của tất cả những người tin” (145–147)
145 (59, 2570, 489)
Thư gửi tín hữu Do-thái, trong bài tán dương đức tin của các bậc tổ tiên, đã đặc biệt nhấn mạnh đến đức tin của ông Áp-ra-ham: “Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu”(Dt 11:8).
Nhờ đức tin, ông đã sống như kẻ mới nhập cư và người lữ hành trong Đất hứa. Nhờ đức tin, bà Xa-ra đã thụ thai người con của lời hứa. Cuối cùng, nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã dâng hiến con một mình làm hy lễ.
146 (1819)
Như vậy, ông Áp-ra-ham đã thực hiện điều Thư gửi tín hữu Do-thái định nghĩa về đức tin: “Đức tin là bảo đảm cho những điều hy vọng, là bằng chứng của những điều ta không thấy” (Dt 11:1).
“Ông Áp-ra-ham đã tin Thiên Chúa, và vì thế, được kể là người công chính” (Rm 4:3). “Nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh” (Rm 4:20), ông Áp-ra-ham trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4:11,18).
147 (839)
Cựu Ước rất phong phú về các chứng từ của đức tin ấy. Thư gửi tín hữu Do-thái tán tụng đức tin gương mẫu, “nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám” (Dt 11: 2,39).
Tuy nhiên, “Thiên Chúa đã trù liệu cho chúng ta một phần phúc tốt hơn”: đó là ơn được tin vào Con của Ngài, là “Chúa Giê-su, Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 11:40; 12:2).
1080
Từ lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã chúc lành cho các sinh vật, đặc biệt cho người nam và người nữ. Giao ước với ông Noê và với tất cả mọi sinh vật canh tân lời chúc lành sinh sôi nảy nở này, bất chấp tội lỗi của con người đã khiến đất đai “bị chúc dữ.”
Nhưng khởi từ tổ phụ Áp-ra-ham, lời chúc lành của Thiên Chúa mới đi sâu vào lịch sử loài người, một lịch sử đang hướng về cõi chết, để làm cho nó tiến về cõi sống, tiến về nguồn mạch của nó: nhờ đức tin của “cha các kẻ tin”, người đã đón nhận lời chúc lành, mà lịch sử cứu độ được khởi đầu.
*Không bao giờ một mình!
+Luôn luôn có Chúa
cùng mình!
*Never alone!
+For ever with God!
2C- Xuất Hành
2C- Exodus
Exodus 14: 15 – 15:1 ;
CCC # 1081
1081
Những lời chúc lành của Thiên Chúa được bày tỏ qua các biến cố kỳ diệu và có ý nghĩa cứu độ: đó là
Lề Luật, các Tiên tri và các Thánh vịnh, dệt nên phụng vụ của dân Chúa chọn, vừa nhắc nhớ những lời chúc lành của Thiên Chúa, vừa đáp lại những lời chúc lành đó bằng những câu ca ngợi và chúc tụng tạ ơn.
2D- Giao Ước
2D- Covenant
Exodus 19 – 20:17 (in two chapters) ; CCC # 62-63, 2057
62 (2060, 2574, 1961)
Sau thời các Tổ phụ, Thiên Chúa lập Ít-ra-en làm dân của Ngài khi cứu họ khỏi ách nô lệ Ai-cập. Ngài lập Giao ước Sinai với dân và ban Lề Luật của Ngài cho họ qua ông Mô-sê, để họ
- nhận biết và phụng sự Ngài với tư cách là Thiên Chúa duy nhất hằng sống và chân thật,
- là Cha quan phòng và là thẩm phán chí công,
- và để họ mong đợi Đấng Cứu Độ mà Ngài đã hứa ban.
63 (204, 2801, 839)
Ít-ra-en là dân tư tế của Thiên Chúa, được “mang danh ĐỨC CHÚA” (Đnl 28:10). Đó là dân của “những người đầu tiên được nghe lời Chúa phán dạy”, dân của “những người làm anh” trong đức tin của tổ phụ Áp-ra-ham.
2057 (2084, 2170)
Trước hết, Mười Điều Răn phải được hiểu trong bối cảnh của cuộc Xuất Hành, là biến cố giải phóng vĩ đại của Thiên Chúa, ở trung tâm của Giao Ước cũ.
Dù được viết với tính cách những mệnh lệnh tiêu cực, những cấm đoán, hay với tính cách những mệnh lệnh tích cực (như “ngươi hãy tôn kính cha ngươi và mẹ ngươi”), “Mười lời” chỉ ra những điều kiện cho một đời sống đã được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Mười Điều Răn là con đường của sự sống:
2E- Lưu Đày và Các Ngôn Sứ
2E- Exile and Prophets
Baruch 3: 9-15, 32 – 4:4 (in two chapters) ;
Ezekiel 36: 16-28 ;
CCC #64, 710, 1081
64 (711, 1965, 489)
Qua các tiên tri, Thiên Chúa đào tạo dân Ngài
Các Tiên tri loan báo ơn cứu chuộc triệt để cho dân của Thiên Chúa, ơn thanh tẩy khỏi mọi bất trung của họ, và ơn cứu độ ấy sẽ bao gồm tất cả các dân tộc. Đặc biệt những người nghèo khó và khiêm nhu của Chúa sẽ ấp ủ niềm hy vọng này.
Những phụ nữ thánh thiện như các bà Xa-ra, Rê-bê-ca, Ra-khen, Mi-ri-am, Đơ-vô-ra, An-na, Giu-đi-tha và Ét-te, đã gìn giữ cho niềm hy vọng cứu độ ấy của Ít-ra-en luôn sống động. Hình ảnh tinh tuyền nhất của niềm hy vọng này là Đức Ma-ri-a.
710
Việc quên lãng Lề luật và bất trung với Giao Ước dẫn đến cái chết: cuộc lưu đày có vẻ là sự thất bại của các Lời hứa, mà thật ra là sự trung tín bí nhiệm của Thiên Chúa, Đấng cứu độ, và là khởi đầu của cuộc phục hồi như đã hứa, nhưng theo Thần Khí.
Dân Thiên Chúa cần phải trải qua cuộc thanh tẩy này; cuộc lưu đày mang bóng dáng cây thập giá trong kế hoạch của Thiên Chúa, và số sót những người nghèo trở về từ cuộc lưu đày, là một trong những hình ảnh rõ ràng nhất của Hội Thánh.
1081
Những lời chúc lành của Thiên Chúa được bày tỏ qua các biến cố kỳ diệu và có ý nghĩa cứu độ: đó là
Lề Luật, các Tiên tri và các Thánh vịnh, dệt nên phụng vụ của dân Chúa chọn, vừa nhắc nhớ những lời chúc lành của Thiên Chúa, vừa đáp lại những lời chúc lành đó bằng những câu ca ngợi và chúc tụng tạ ơn.
�� 2Linh hồn con đã khát khao Ngài,�tấm thân này mòn mỏi đợi trông,�như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước (TV 63: 2)
“Khát”
Dậm, dậm, vỗ, dậm, vỗ
“Khát”
3- So sánh Xuất Hành và Sự kiện cứu rỗi của Chúa Giê-Su.
3- Compare the Exodus and
Jesus’ saving event.
CCC # 112, 571, 608, 610-611, 2175
112 (128, 368)
1. Phải hết sức chú ý đến “nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh”. Mặc dầu các sách hợp thành bộ Thánh Kinh có khác biệt nhau mấy đi nữa, Thánh Kinh vẫn là một,
- bởi kế hoạch của Thiên Chúa chỉ có một
“Hình ảnh ‘Trái tim Đức Ki-tô’ được hiểu về Thánh Kinh, vì Thánh Kinh bộc lộ trái tim của Người.
Trước cuộc khổ nạn, trái tim này còn đóng kín, bởi vì Thánh Kinh còn tối nghĩa. Nhưng sau cuộc khổ nạn, Thánh Kinh đã được mở ra, bởi vì từ lúc đó những ai hiểu Thánh Kinh sẽ biết suy xét và phân định các sấm ngôn phải được giải thích như thế nào.”
571 (1067)
Mầu nhiệm Vượt Qua, tức là mầu nhiệm thập giá và sự sống lại của Chúa Ki-tô, là trung tâm Tin Mừng mà các Tông Đồ, và sau các ngài là Hội Thánh, phải loan báo cho trần gian.
Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất “một lần cho mãi mãi” (Dt 9: 26) nhờ cái chết cứu chuộc của Con Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô.
608 (523, 517)
Sau khi chấp nhận làm phép rửa cho Chúa Giê-su giữa các tội nhân, ông Gio-an Tẩy Giả đã thấy và giới thiệu Người là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Như vậy, ông cho thấy rằng Chúa Giê-su đồng thời
-vừa là Người Tôi trung đau khổ,
- im lặng chịu đem đi làm thịt và mang lấy tội lỗi muôn người,
Cả cuộc đời của Đức Ki-tô diễn tả sứ vụ của Người: phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.
610 (766, 1337)
Chúa Giê-su đã diễn tả cách hết sức rõ ràng việc Người tự nguyện dâng hiến chính mình trong bữa tiệc Người ăn với mười hai Tông Đồ “trong đêm bị nộp” (1 Cr 11: 23). Hôm trước ngày chịu nạn, khi còn hoàn toàn tự do, Chúa Giê-su đã biến bữa Tiệc cuối cùng với
các Tông Đồ của Người thành lễ tưởng niệm việc Người tự nguyện dâng hiến chính mình cho Chúa Cha để cứu độ nhân loại: “Đây là Mình Thầy, bị nộp vì anh em” (Lc 22:19). “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:28).
611 (1364, 1341, 1566)
Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giê-su đã thiết lập lúc đó, sẽ là “việc tưởng niệm” hy tế của Người. Người bao gồm các Tông Đồ vào sự dâng hiến chính mình Người và dạy họ lưu truyền việc dâng hiến này mãi mãi.
Như vậy, Chúa Giê-su đã đặt các Tông Đồ của Người làm tư tế của Giao Ước Mới: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Ga 17: 19).
Ngày Chúa nhật – sự hoàn thành ngày sa-bát (2175–2176)
2175 (1166)
Ngày Chúa nhật khác biệt rõ ràng với ngày sa-bát. Đối với các Ki-tô hữu, các lề luật phụng vụ của ngày sa-bát được áp dụng vào ngày Chúa nhật là ngày tiếp nối ngày sa-bát mỗi tuần, xét về mặt thời gian.
Trong cuộc Vượt Qua của Đức Ki-tô, ngày Chúa nhật hoàn thành ý nghĩa thiêng liêng của ngày sa-bát Do-thái, và loan báo sự an nghỉ muôn đời của con người trong Thiên Chúa.
Thật vậy, phụng tự của Lề luật đã chuẩn bị cho mầu nhiệm của Đức Ki-tô, và điều gì đã được thực hiện trong phụng tự đó đều phác họa một nét nào đó quy hướng về Đức Ki-tô:
Frère: Giê-su 1, Giê-su 1
Tất cả: Ta với Chúa
Giê-su là một!
(A ha, 3 x)
Frère: Giê-su 2, Giê-su 3
Tất cả: Ta cùng leo lên
cây Chúa ta!
Frère: Giê-su 4, Giê-su 5
Tất cả: Đây là dấu Tình Yêu
muôn năm.
Frère: Giê-su 6, Giê-su 7
Tất cả: Trong Tình Yêu
ta luôn bay nhảy
Frère: Giê-su 8, Giê-su 9
Tất cả: Ta hô to
với niềm xác tín:
Chúa Giê-su (3x)
Frère: Khoan đã
Tất cả: Chờ một chút. (3 x)
Frẻre: Ta cùng nhớ Đức Ma-ri-a!
Tất cả: MA-RI-A (3 x)
4- Mô tả cách các chủ đề chính của Kinh Thánh Do Thái (Cựu ước) nói với Ki-tô-hữu hôm nay.
4- Describe how the central theme of the Hebrew Scriptures (OT)
speaks to Christian today.
CCC # 121-123, 128-130 ;
Vatican II’s Dei Verbum #16
Cựu Ước (121–123)
121 (1093)
Cựu Ước là một phần không thể thiếu được của Thánh Kinh. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng nên có một giá trị trường tồn, bởi vì Giao Ước cũ không hề bị thu hồi.
122 (702, 763, 708, 2568)
Thật vậy, “Nhiệm cục Cựu Ước được bố trí với mục đích chính yếu là để chuẩn bị cho ngày quang lâm của Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Độ muôn loài.” Các sách Cựu Ước, “tuy có nhiều bất toàn và tạm bợ”, vẫn làm chứng về phương pháp giáo dục của tình yêu cứu độ
của Thiên Chúa: các sách ấy
123
Các Ki-tô hữu tôn kính Cựu Ước với tính cách Lời đích thực của Thiên Chúa. Hội Thánh luôn cực lực chống lại ý kiến đòi gạt bỏ Cựu Ước, viện cớ là Tân Ước đã làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (chủ thuyết Marcion).
128 (1094, 489)
Ngay từ thời các Tông Đồ rồi sau đó trong suốt Truyền Thống của mình, Hội Thánh luôn làm sáng tỏ tính thống nhất của kế hoạch của Thiên Chúa trong hai Giao Ước nhờ cách đọc
tiên trưng (per typologiam).
Cách đọc này nhận ra trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu Ước những “hình ảnh báo trước” điều Thiên Chúa sẽ thực hiện lúc thời gian đến hồi viên mãn, nơi Người Con nhập thể của Ngài.
129 (681, 2055, 1968)
Do đó, các Ki-tô hữu đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô, Đấng đã chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Tuy nhiên, không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị riêng của nó trong mặc khải,
mà chính Chúa chúng ta đã xác nhận. Đàng khác, Tân Ước cũng cần phải được đọc dưới ánh sáng Cựu Ước. Việc dạy giáo lý Ki-tô Giáo thời sơ khai đã luôn trở về với Cựu Ước.
Theo một châm ngôn cổ, Tân Ước được ẩn tàng trong Cựu Ước, còn Cựu Ước được tỏ bày trong Tân Ước: “cái Mới tiềm ẩn trong cái Cũ, còn cái Cũ xuất hiện trong cái Mới.”
130
Cách đọc tiên trưng cho thấy tính năng động hướng tới việc hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa, lúc “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15:28).
Như vậy, thí dụ, việc kêu gọi các tổ phụ và cuộc Xuất Hành khỏi Ai-cập vẫn không mất đi giá trị riêng của chúng trong kế hoạch của Thiên Chúa, mặc dầu đồng thời, chúng là những giai đoạn trung gian trong kế hoạch ấy.
Frère: We’ve got Spirit,
All: We’ve got called!
Frère: Say “Yes”, ever’body
All: Give God all!
(“Yes”, stomp, stomp, clap,
stomp, “Yes”)
(2x)
Frère: We’ve got Spirit,
All: We’ve got called!
Frère: Called by name,
All: Yes, we’re all!
(“Yes”, stomp, stomp, clap,
stomp, “Yes”)
(2x)
Frère: We’ve got Spirit,
All: We’ve got called!
Frère: Stand up, ever’body
All: “Yes” to call!
(“Yes”, stomp, stomp, clap,
stomp, “Yes”)
(2x)
5- Mô tả việc sử dụng Kinh Thánh Do Thái (Cựu ước) trong phụng vụ.
5- Describe the use of the Hebrew Scriptures (OT) in liturgy.
CCC# 1093, 1156
1093 (762, 121, 2585, 1081)
Trong Nhiệm cục bí tích, Chúa Thánh Thần hoàn tất các hình bóng của Cựu Uớc. Bởi vì Hội Thánh của Đức Ki-tô “đã được chuẩn bị cách kỳ diệu trong lịch sử dân Ít-ra-en và trong Cựu Ước”, nên phụng vụ của Hội Thánh
giữ lại một số yếu tố của phụng tự Cựu Ước, xét như một phần không thể thiếu và không thể thay thế, coi đó là của mình:
1156
“Truyền thống âm nhạc của Hội Thánh phổ quát đã tạo nên một kho tàng vô giá, vượt trên các hình thức nghệ thuật khác, nhất là vì thánh ca gắn liền với các lời nói, nên đã trở thành một phần cần thiết hoặc không thể thiếu của phụng vụ trọng thể.”
Việc sáng tác và ca hát các Thánh vịnh được linh hứng, thường có các nhạc cụ phụ họa, đã gắn chặt với các cử hành phụng vụ của Cựu Ước. Hội Thánh tiếp tục và phát huy truyền thống này:
“Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5:19). “Hát là cầu nguyện hai lần.”
Những trang “tăm tối” của Kinh Thánh – The Dark Passages��Tông huấn Verbum Domini, # 42, ĐTC Bê-nê-đi-tô XVI, 30/11/2010
Trong bối cảnh tương quan giữa
Cựu Ước và Tân Ước, Thượng
Hội Đồng cũng đề cập đến vấn đề những trang Kinh Thánh tăm tối và khó hiểu, do nói về bạo lực và sự vô luân. Về vấn đề này, trước tiên cần lưu ý rằng Mạc khải Kinh Thánh cắm rễ sâu xa trong lịch sử.
Kế hoạch của Thiên Chúa được
biểu lộ tiệm tiến và thực hiện chầm chậm qua các giai đoạn nối tiếp nhau, dù gặp phải sự kháng cự của con người. Thiên Chúa đã chọn một dân riêng và nhẫn nại giáo dục dân ấy.
Mạc Khải thích ứng với trình độ
văn hóa và luân lý của các thời
đại xa xưa và do đó tường thuật lại những sự kiện và những tục lệ, chẳng hạn những hành động gian lận, những can thiệp bạo động, việc hủy diệt các dân tộc, mà không hiển nhiên tố cáo sự vô luân.
Điều này được lý giải bằng bối
cảnh lịch sử nhưng có thể làm cho độc giả thời nay ngỡ ngàng, nhất là khi người ta quên nhiều lối xử sự “tăm tối” mà qua dòng lịch sử con người vẫn mắc phải, kể cả thời chúng ta.
Trong Cựu Ước, các tiên tri đã
từng nặng lời với mọi hình thức
bất công và bạo lực, tập thể cũng như cá nhân, và đó là cách thức mà Thiên Chúa dùng như phương tiện giáo hóa Dân Ngài hầu chuẩn bị cho họ đón nhận Tin Mừng. Vì thế, hẳn sẽ là sai lầm nếu không coi các trang Kinh Thánh này đặt vấn đề cho chúng ta.
Tốt nhất chúng ta cần ý thức rằng
để hiểu những trang này, phải có
hiểu biết chuyên môn nhờ học hỏi cách đọc bản văn trong bối cảnh lịch sử-văn chương và theo chiều hướng Kitô giáo, có “Tin mừng và Luật mới được hoàn tất trong mầu nhiệm Vượt Qua” như chìa khóa tuyệt vời của chú giải.
Tôi khuyến khích những nhà
nghiên cứu và các mục tử nỗ lực giúp các tín hữu tiếp cận những trang Kinh Thánh này nhờ đọc và khám phá ý nghĩa dưới ánh sáng của Mầu nhiệm Đức Kitô.
8Người bảo họ: "Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu" (Mt 19: 8).
8He said to them, “Because of the hardness of your hearts Moses allowed you to divorce your wives, but from the beginning it was not so” (Mt 19: 8).
4Thiên Chúa làm như vậy, để sự công chính mà Luật đòi hỏi được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta, là những người không sống theo tính xác thịt, nhưng theo Thần Khí (Rm 8: 4).
4so that the righteous decree of the law might be fulfilled in us, who live not according to the flesh but according to the spirit (Rm 8: 4).
45Em thật có phúc, vì em đã tin.
45Blessed are you who believed.
Bài ca của An-na và của Đức Mẹ Ma-ri-a
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa�Lc 1: 46-55, 1 Sm 2: 1-10
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Đức Mẹ cầu nguyện với Lời Chúa
Magnificat, magnificat, *magnificat anima mea Dominum. Magnificat, magnificat, magnificat anima mea!
Magnificat: magnify, proclaim the greatness�Anima: Soul; Mea: My (Anima mea: My soul)�Dominum: Lord�
Magnificat, magnificat, *magnificat anima mea Dominum. Magnificat, magnificat, magnificat anima mea!
(My soul magnifies the Lord
Hồn tôi ngợi khen Chúa)
Sing out my soul Sing out my soul�*Sing out and glorify the Lord who sets us free.
�Sing out my soul Sing out my soul�Sing out and glorify the Lord God.
Mẹ ơi !! Đời con dõi bước theo Mẹ�Lòng con quyết noi gương Mẹ�Xin Mẹ dạy con hai tiếng:� Xin Vâng.�Mẹ ơi, �Đường đi trăm ngàn gian khó�Hiểm nguy dâng tràn đây đó�Xin Mẹ dạy con hai tiếng:� Xin Vâng.��ĐK:�Xin Vâng�Mẹ dạy con hai tiếng: Xin Vâng�Hôm qua hôm nay và ngày mai�Xin Vâng�Mẹ dạy con hai tiếng: Xin Vâng�Hôm nay tương lai và suốt đời .�
“Và
Đức
Mẹ
suy
đi
nghĩ
lại
trong
lòng
(Lu-ca 2:51)
Tình yêu Chúa cao vời biết bao,
Nào con biết đáp đền thế nào,
Để cho cân xứng Chúa ơi,
Để cho ân xứng Chúa ơi!
Far beyond the reach of endless sky,
Far below the depth of endless sea,
Your love that has no end,
Enflames my heart again.