HIỆU QUẢ LỌC MÁU LIÊN TỤC VỚI QUẢ OXIRIS TRONG KẾT HỢP ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG NGUY NGẬP HÔ HẤP CẤP (ARDS) TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA AN GIANG�
Phạm Ngọc Kiếu và CS
�ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng nguy ngập hô hấp cấp (ARDS) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở bệnh nhân tại khoa Hồi sức, mặc dù đã được điều trị với kháng sinh và các biện pháp hồi sức khác. Cơ chế bệnh sinh của ARDS là một chuỗi phức tạp các đáp ứng viêm và kháng viêm, các phản ứng dịch thể và tế bào, các bất thường về tuần hoàn…
�ĐẶT VẤN ĐỀ
Diễn tiến của ARDS là đi đến sốc nhiễm khuẩn (SNK), sốc không hồi phục, suy đa tạng và tử vong đôi khi tiến triển rất nhanh. Khi bệnh đã tiến triển nặng, suy đa tạng thì việc điều trị trở nên kém hiệu quả.
�ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong các biện pháp điều trị có hiệu quả là lọc máu hấp phụ với quả Oxiris. Lọc máu với quả lọc Oxiris có khả năng loại bỏ các cytokine tốt nhất, do đó cắt được vòng xoắn bệnh lý gây suy đa tạng, làm giảm tỉ lệ tử vong. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả lọc máu liên tục với quả lọc Oxiris trong điều trị ARDS tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang”.
Máy Prismaflex và màng lọc oxiris
��Mục tiêu nghiên cứu�
Đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục với quả lọc Oxiris trong kết hợp điều trị ARDS.
�PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các đặc điểm chung: tuổi, giới, tiêu điểm nhiễm trùng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (tt)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (tt)
�PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (tt)
-Các biến định lượng được trình bày theo giá trị trung bình và độ lệch chuẩn ( ± SD).
- Các biến định tính được trình bày theo tỷ lệ phần trăm (%)
-Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
��Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu lúc nhập Khoa ICU�
STT | Thông số | TB ± SD |
1 | Tuổi | 57,92 ±13,95 |
2 | Nữ / Nam | 28/23 |
3 | Điểm Glasgow | 10,47 ± 3,4 |
4 | Mạch | 110,07 ± 19,19 |
5 | HATB | 52,05 ± 8,35 |
6 | Nhiệt độ | 38,54 ± 0,8 |
7 | Nhịp thở | 28,76 ± 5,09 |
8 | Bạch cầu | 22,15 ± 8,06 |
9 | SOFA | 11,76 ± 1,6 |
10 | APACHE II | 25,76 ± 3,7 |
11 | CRP | 224,87 ± 136,71 |
12 | Procalcitonin | 55,35 ± 38,68 |
13 | GFR | 31,86 ± 18,53 |
14 | Lactate | 8,09 ± 4,01 |
15 | pH | 7,13 ± 0,16 |
16 | IL-6 | 2562,51 ± 1123,26 |
17 | D-dimer | 6156,87 ± 5184,94 |
18 | Tỷ lệ tử vong | 29.5% |
19 | Thời gian nằm ICU (ngày) | 10,33 ± 3,6 |
Nhận xét: các chỉ số đều ở mức độ nặng lúc vào viện
���
Stt | Bệnh nền | Số lượng | Tỷ lệ (%) |
1 | Đái tháo đường typ 2 | 18 | 35,3 |
2 | Suy thận | 13 | 25,5 |
3 | Tăng huyết áp | 7 | 13,7 |
4 | COPD | 7 | 13,7 |
5 | Xơ gan | 6 | 11,8 |
| Tổng số | 51 | 100 |
Nhận xét: Đái tháo đường typ 2 là bệnh nền chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là suy thận, tăng huyết áp COPD và xơ gan.
Bệnh nền
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Bệnh nền trong nghiên cứu của chúng tôi phần lớn là đái tháo đường type 2 (35,3%), tiếp theo là suy thận, tăng huyết áp COPD và xơ gan. Trong nghiên cứu của tác giả Joshua Dill cũng cho thấy đái tháo đường chiếm tỷ lệ cao nhất 35%.
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Nhận xét: Các nguyên nhân phần lớn từ đường hô hấp
Trong nghiên cứu của chúng tôi phần lớn các bệnh nhân ARDS có nguồn gốc tại phổi là 62,8% và ngoài phổi 28,2%, thấp hơn kết quả của Nguyễn Hữu Nhượng các bệnh có nguồn gốc tại phổi 87,5% và ngoài phổi 12,5%, Tác giả Wenmim Yang tại phổi 56,7% ngoài phổi 43,3%, cho thấy nguyên nhân ARDS chủ yếu từ đường hô hấp.
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Phân độ | Số lượng | Tỷ lệ (%) |
Độ 1 | 0 | 0 |
Độ 2 | 35 | 68,6 |
Độ 3 | 16 | 31,4 |
Nhận xét: Tất bệnh ARDS lúc nhập khoa ICU đều từ độ 2 và độ 3, không có độ 1
Các bệnh nhân ARDS lúc vào khoa có độ nặng từ trung bình (68,6%) đến nặng (31,4%), tương đương kết quả của Nguyễn Hữu Nhượng mức độ trung bình chiếm 62,5% và độ nặng là 37,5%. Tác giả Trịnh Xuân Khánh mức độ trung bình chiếm 52,3% và độ nặng là 47,7%. Wenmim Yang có mức độ trung bình 52,3% và độ nặng 47,7%, cho thấy các bệnh được chọn lọc máu thường có mức độ từ trung bình tới nặng.
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Thông số | Trước lọc TB ± SD | Sau lọc TB ± SD | p |
Điểm GCS | 7,76 ± 4,07 | 12,40 ± 2,6 | 0,00 |
HATB(mmHg) | 52,05 ± 6,35 | 70,98 ± 16,82 | 0,00 |
CRP | 224,87 ± 136,71 | 51,23 ± 17,42 | 0,00 |
Procalcitonin | 84,71 ± 16,41 | 6,18 ± 4,61 | 0,00 |
Lactate | 8,09 ± 4,01 | 2,18 ± 0,14 | 0,00 |
IL-6 | 2562,51 ± 1123,26 | 21,59 ± 13,65 | 0,00 |
GFR | 31,86 ± 18,53 | 56,53 ± 43,67 | 0,00 |
SOFA | 11,76 ± 1,6 | 3,97 ± 0,98 | 0,00 |
APACHE II | 25,76 3,7 | 9,33 ± 1,52 | 0,00 |
PaO2/FiO2 | 116.55 ± 3.72 | 231.38 ± 11.65 | 0,00 |
Liều Noradrenalin (µg/kg/phút) | 0,67± 0,16 | 0,29 ± 0,15 | 0,00 |
Nhận xét: Tất cả các chỉ số sau khi lọc máu đều cải thiện có ý nghĩa thống kế với p<0,05.
Thang điểm Glasgow trước lọc là 7,76 ± 4,07 điểm, sau lọc 12,40 ± 2,6 điểm sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Tương đương các tác giả Phạm Quốc Dũng], Lê Hữu Nhượng và Fang Han.
Nồng độ cytokin như IL-6 cũng giảm nhanh từ 2562,51 ± 1123,26 xuống còn 21,59 ± 13,65 sau lọc. Tuy nhiên chỉ giảm nhiều ở nhóm sống và giảm ít ở nhóm tử vong. Tương tự tác giả Lê Hữu Nhượng, Trịnh Xuân Khánh.
Các chất CRP, procalcitonin, giảm mạnh sau quá trình LMLT (Bảng 5), Tuy nhiên nhóm tử vong giảm ít hơn nhóm bệnh nhân còn sống. Kết quả của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của Lê Hữu Nhượng [2], Trịnh Xuân Khánh [1], Fang Han [9].
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Nồng độ lactate máu sau quá trình LMLT giảm từ 8,09 ± 4,01 mmol/l (ở thời điểm T0) xuống còn 2,18 ± 0,14 mmol/l (Te) sự giảm có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tác giả Lê Hữu Nhượng cho thấy nồng độ Lactat máu xu hướng giảm dần từ 2.31±1.08 xuống còn 1.28±0.62 mmol/l. Tuy nhiên ở nhóm tử vong nồng độ lactate giảm ít hơn nhóm sống.
Tỷ lệ PaO2/FiO2 cải thiện dần từ 116.55 ± 3.72 ở thời điểm T0 lên 268,29 ± 49,7 ở Te, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết của của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của lê Hữu Nhượng tỷ lệ PaO2/FiO2 cải thiện dần theo thời gian lọc máu bằng quả lọc phấp phụ cytokines, Các nghiên cứu của một số tác giả như Trịnh Xuân Khánh, Fang Han, Wenmin Yang cũng cho kết quả tương tự.
Liều Noradrenalin: Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết bệnh nhân có sốc nên cần sử dụng liều noradrenalin tương đối cao (0,67±0,16µg/kg/p) trước lọc, nhằm duy trì huyết động trước khi tiến hành lọc máu dù đã được hồi sức tích cực dịch truyền. Sau quá trình lọc máu liều Noradrenalin còn (0,29±0,15µg/kg/p) giảm nhanh hơn khi điều trị thường qui. Điều này tương đương với một số nghiên cứu như của Lê Hữu Nhượng, Fang Han và Wenmin Yang.
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Thang điểm SOFA giảm lần lượt là 11,76 ± 1,6 (thời điểm T0) xuống còm 3,97 ± 0,98 (ở thời điểm kết thúc lọc máu Te), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết của của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Lê Hữu Nhượng, Trịnh Xuân Khánh, Fang Han và Wenmin Yang.
Thang điểm APACHE II tại thời điểm T0 và Te lần lượt 26,67 ± 5,50 và 9,33 ± 1,52. Sự giảm có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết của của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Trịnh Xuân Khánh, Fang Han và Lê Hữu Nhượng.
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Thông số | Thời điểm | Sống (n=36) | Tử vong (n=15) | p |
IL-6 | T0 | 1625,75 ± 2069.83 | 4400,82 ± 1130,71 | 0,00 |
Te | 182,32 ± 598,95,26 | 1814,06 ± 777,76 | 0,00 | |
CRP | T0 | 208,77±133,48 | 260,89±140,6 | 0,21 |
Te | 51,72 ± 59,09 | 161,16 ± 57,15 | 0,00 | |
Lactate | T0 | 8,09± 4,18 | 8,8 ± 3,23 | 0,5 |
Te | 2,94 ± 2,6 | 5,79 ± 1,24 | 0,00 | |
PaO2/FiO2 | T0 | 111,04 ± 28,03 | 114,51±23,52 | 0,71 |
Te | 268,29 ± 49,7 | 119,45±41,8 | 0,00 | |
Liều Noradrenalin | T0 | 0,65 ±0,18 | 0,72 ± 0,09 | 0,1 |
Te | 0,12 ± 0,17 | 1,63 ± 0,46 | 0,00 | |
SOFA | T0 | 11,75 ±1,79 | 11,80±1,46 | 0,92 |
Te | 5.39 ± 3.36 | 9.67 ±1.79 | 0,00 | |
APACHE II | T0 | 25,53 ± 3,56 | 26,33± 2,94 | 0,47 |
Te | 12,03±4,79 | 19,73±5,16 | 0,00 |
Nhận xét: Các chỉ số ở hai nhóm sống và nhóm tử vong có sự thay đổi sau khi lọc máu (Te), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Kết của của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Lê Hữu Nhượng, Trịnh Xuân Khánh, Fang Han và Wenmin Yang.
�KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
*Kết quả điều trị
Trong 51 ca đưa vào nghiên cứu, tỷ lệ tử vong là 29,5%. Kết quả này gần với kết quả của Lê Hữu Nhượng là 31,20%, cao hơn Wenmin Yang trong nghiên cứu 30 ca tỷ lệ tử vong 25% , thấp so với nghiên cứu của Phạm Quốc Dũng 51,6%.
�KẾT LUẬN
Lọc máu liên tục với quả lọc Oxiris có hiệu quả tốt trong phối hợp điều trị ARDS. Quá trình lọc máu sẽ làm giảm các hóa chất trung gian gây viêm (IL-6), các marker phản ánh tình trạng viêm nhiễm (CRP, Procalcitonin), cải thiện tình trạng oxy hóa máu (PaO2/FiO2), cải thiên chức năng thận, cải thiện tri giác cũng như huyết áp trung bình thể hiện qua sự giảm thang điểm SOFA và APACHE II trước và sau khi lọc máu liên tục có ý nghĩa thống kê. Kết quả giảm tỷ lệ tử vong còn 29,5% so với tỷ lệ tử vong chung là 40-60% khi điều trị mà không có lọc máu.
��TÀI LIỆU THAM KHẢO�