1
SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC
Giáo viên: PHẠM MINH HIẾU
Điện thoại: 093.3849789
Email: luckyhieu@gmail.com
TỔ BỘ MÔN CHĂN NUÔI THÚ Y
Sự sinh trưởng và phát dục
Sự sinh trưởng
Sự phát dục
Sự liên hệ giữa sinh trưởng và phát dục
Hai quá trình sinh trưởng và phát dục có mối liên quan mật thiết với nhau, chúng là hai mặt của một quá trình, quá trình phát triển của cơ thể.
Một cá thể, một giống, một loài muốn tồn tại, phát triển thì cả hai quá trình sinh trưởng và phát dục phải thể hiện một cách đầy đũ ngay từ thời gian đầu của phôi thai cho tới khi già cỗi .
Điều này là đúng bởi vì mỗi cá thể có sự phát triển bình thường mới có thể tồn tại được.
Các phương pháp nghiên cứu
Để có thể hiểu được khả năng và các quy luật sinh trưởng, người ta đã nghĩ ra các phương pháp đo lường, thu thập số liệu và cách tính toán các chỉ tiêu về sinh trưởng của từng loại mô, của mỗi cơ quan của cơ thể, hay của cá thể thú, hay tính trung bình để đại diện cho một dòng hay một giống một loài.
- Độ sinh trưởng tích luỹ
- Độ sinh trưởng tuyệt đối
- Độ sinh trưởng tương đối
Độ sinh trưởng tích lũy
Độ sinh trưởng tích lũy của thú ở mỗi thời điểm chính là số liệu mỗi lần theo dõi được về một chiều đo cụ thể nào đó trên thú ở thời điểm đó hoặc tính từ khi là hợp tử tới khi theo dõi hay theo các mốc thời gian theo dõi.
Các kết quả đo lường được sẽ cho chúng ta thấy độ sinh trưởng tích lũy của các chiều đo, hay trọng lượng, thể tích của thú ở các thời điểm đó . Dạng đồ thị của sự sinh trưởng tích lũy thường có dạng hình sin.
Độ sinh trưởng tuyệt đối (ĐSTTĐ)
- Vn là kết quả thu được về chiều đo , trọng lượng , dung tích của mô , hay cơ quan , hay toàn bộ cơ thể thú ở lần đo thứ n tức ở thời điểm tn.
- Các chiều đo , trọng lượng , dung tích của mô , hay cơ quan , hay toàn bộ cơ thể thú xin viết tắt là CĐ, TL, DT .
- V(n-1) là kết quả thu được về CĐ, TL, DT ở lần theo dõi thứ (n-1) nghĩa là trước lần thứ (n) tức ở thời điểm tn-1.
Độ sinh trưởng tuyệt đối (ĐSTTĐ)
- tn là thời điểm đo, theo dõi để có kết quả của Vn (nếu trong một giai đoạn ngắn của thí nghiệm nghĩa là thời điểm cuối của giai đoạn, tn có thể tính theo ngày, tháng hay tuổi của thú).
- t(n-1) thời điểm đo, theo dõi kết quả của V(n-1). Nếu trong giai đoạn ngắn của thí nghiệm nghĩa là thời điểm đầu của giai đoạn thí nghiệm, t(n-1) có thể tính theo ngày, tháng, hay tuổi của thú .
- Nếu tn - t(n-1)= 1 ngày, nghĩa là chúng ta đo mỗi ngày một lần, chúng ta có độ sinh trưởng tuyệt đối theo ngày. Đúng theo ý nghĩa là tuyệt đối cho mỗi ngày.
Độ sinh trưởng tuyệt đối (ĐSTTĐ)
Độ sinh trưởng tương đối (ĐSTTgĐ)
Độ sinh trưởng tương đối (ĐSTTgĐ)
Trong công thức :Vn, V(n-1) có các qui định giống với các qui định khi tính ĐSTTĐ.
Để dễ hiểu hơn chúng ta nhớ rằng phải thêm các mốc thời gian để làm rõ nghĩa hơn cho sự sinh trưởng tương đối .
CÁC QUY LUẬT SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC
Qua sự nghiên cứu về sinh trưởng và phát dục của gia súc, gia cầm , người ta đã tìm ra nhiều qui luật của nó . Chúng ta chỉ đi sâu vào phân tích 3 qui luật chính của sinh trưởng và phát dục là : qui luật phát triển theo giai đoạn (theo thời kỳ) qui luật phát triển không đồng đều và qui luật phát triển theo chu kỳ
- Quy luật phát triển theo giai đoạn
- Quy luật phát triển không đồng đều
- Quy luật phát triển theo chu kỳ
Qui luật phát triển theo giai đoạn
Qua nghiên cứu , các tác giả thống nhất ý kiến với nhau và họ đã chia toàn bộ cuộc sống của thú thành hai giai đoạn lớn là:
- Giai đoạn trong thai: ở giai đoạn này người ta lại chia nhỏ thành 3 giai đoạn nhỏ hơn và gọi là 3 thời kỳ: thời kỳ phôi, thời kỳ tiền thai, và thời kỳ thai nhi.
- Giai đoạn ngoài thai: Được tính từ khi cá thể được sinh ra (nở ra) cho đến khi già rồi chết. Người ta chia giai đoạn ngoài thai của thú ra làm bốn thời kỳ: Thời kỳ thú non (thời kỳ bú sữa); thời kỳ thành thục; thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi.
Giai đoạn trong thai
Ở giai đoạn này người ta lại chia nhỏ thành 3 giai đoạn nhỏ hơn và gọi là 3 thời kỳ:
- Thời kỳ phôi.
- Thời kỳ tiền thai.
- Thời kỳ thai nhi.
- Thời kỳ phôi:
Thời kỳ phôi được tính từ lúc trứng được thụ tinh trở thành hợp tử cho đến khi hợp tử đã bám chắc vào niêm mạc tử cung.
Sự phát dụ trong thời kỳ này là mạnh, sự sinh trưởng tích luỹ trong thời kỳ này rất nhỏ , sinh trưởng tuyệt đối cũng thấp và sự sinh trưởng tương đối cao tới.
Thời kỳ tiền thai được tính theo thời gian từ lúc hợp tử bám chắc vào niêm mạc tử cung cho đến khi xuất hiện các nét đặc trưng về giải phẫu , sinh lí và trao đổi chất ở các lá phôi đang phát triển.
Sự sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối có cao hơn ở thời kỳ trước, sinh trưởng tương đối giảm hơn. Sự phát dục mạnh.
Thời kỳ này được tính từ khi kết thúc thời kỳ tiền thai cho đến khi cá thể này được sinh ra ngoài .
Sự sinh trưởng tích lũy rất mạnh, sinh trưởng tuyệt đối mạnh và sinh trưởng tương đối giảm hơn ở giai đoạn trước . Người ta thấy rằng ¾ trọng lượng sơ sinh của cá thể được sinh ra trong thời kỳ này . Sự phát dục còn mạnh. Các đặc điểm về giống cũng được hình thành trong thời kỳ này.
Giai đoạn ngoài thai
Được tính từ khi cá thể được sinh ra (nở ra) cho đến khi già rồi chết . Người ta chia giai đoạn ngoài thai của thú ra làm bốn thời kỳ
- Thời kỳ thú non (thời kỳ bú sữa).
- Thời kỳ thành thục.
- Thời kỳ trưởng thành.
- Thời kỳ già cỗi.
Thú non còn phụ thuộc vào mẹ rất nhiều. Sự sinh trưởng phát dục chịu ảnh hưởng của điềukiện ngoại cảnh mạnh hơn.
Thú sẽ có sự sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối mạnh, lớn hơn ở giai đoạn trong thai nhiều. Sinh truởng tương đối đã giảm dần.
Sự phát dục không cao song về mặt chức năng, thú có nhiều thay đổi như: bộ máy tiêu hóa , bộ máy hô hấp, hệ thống điều hòa thân nhiệt, các bộ máy này gia tăng về khối lượng và về hoạt động .
Nối tiếp sau thời kỳ thú non đến khi trưởng thành. Khi thú có thể sinh sản được.
Sự sinh trưởng tuyệt đối mạnh nhất so với các thời kỳ khác kể cả các thời kỳ trong thai, sinh trưởng tích lũy ngày càng lớn. Sự sinh trưởng tương đối giảm hơn so với thời kỳ trước.
Sự phát dục còn mạnh ở cơ quan sinh dục và về mặt hình thù của thú. Các phần khác của cơ thể có sự phát dục yếu.
Được kể từ khi thú có thể sinh sản được cho đến khi con vật bắt đầu biểu hiện sự già cỗi.
Sự sinh trưởng tích lũy lên đến đỉnh cao. Độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối giảm dần sau đó coi như không còn nữa.
Sự phát dục coi như không còn bao nhiêu.
Tuy vậy đây là thời kỳ mà cá thể đã phát triển hoàn thiện nhất
Khi bắt đầu có sự suy giảm về sức khỏe.
Sự sinh trưởng và phát dục coi như ngừng hẳn trừ một số loại mô. Thể trạng và thể trọng của thú ngày càng giảm cho đến khi chết.
Bình thường người ta phải loại thú khi nó chuyển qua thơì kỳ già cỗi.
Quy luật phát triển không đồng đều
Cơ thể của thú không phải lúc nào, tuổi nào cũng phát triển theo một tỷ lệ cân đối từ đầu đến cuối.
Song sự phát triển không đồng đều này có lập lại ở các cá thể cùng loài hay chi tiết hơn là các cá thể ở cùng một giống.
Sự sinh trưởng phát dục của một cá thể tuân theo sự không đồng đều về phát triển mà tổ tiên nó đã thể hiện, quy luật phát triển như vậy người ta gọi là quy luật phát triển không đồng đều.
Quy luật phát triển không đồng đều
Quy luật phát triển không đồng đều về thể trọng: Lúc còn nhỏ gia súc tăng trọng ít, sau đó tăng trọng nhanh hơn, đến khi trưởng thành tăng trọng chậm lại và ổn định, sau đó thường bị giảm về thể trọng.
Quy luật sinh trưởng không đồng đều của hệ thống xương: Hệ thống xương có sự sinh trưởng không đồng đều ở các giai đoạn phát triển của cá thể . Các loại xương khác nhau cũng không có sự tăng trưởng giống nhau ngay cả trong cùng một thời điểm.
Quy luật phát triển không đồng đều
Quy luật phát triển không đồng đều thể hiện ở các mô, các cơ quan:
Cường độ sinh trưởng của các bộ phận tổ chức cũng tuân theo quy luật không đồng đều.
Người ta thấy rằng ở giai đoạn trong thai , cường độ sinh trưởng của da, cơ, xương, tim và ruột là cao nhất.
Kế đó là máu, dạ dày, thận, lách và lưỡi và có cường độ sinh trưởng thấp nhất là dịch hoàn, gan, phổi, khí quản và não.
Ở giai đoạn ngoài thai cường độ sinh trưởng của các bộ phận này có thay đổi: da, cơ máu, dạ dày và dịch hoàn có cường độ cao nhất.
Xương tim, thận, gan, phổi, khí quản có cường độ trung bình. Ruột, lách, lưỡi, não có cường độ sinh trưởng thấp nhất.
Quy luật phát triển theo chu kỳ
Sự phát triển của cá thể không chỉ tuân theo quy luật phát triển theo giai đoạn hay đồng đều mà còn tuân theo quy luật theo chu kỳ.
Tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng phát dục không phải là một hiện tượng lạ , mà là quá trình khá phổ biến trong thiên nhiên.
- Tính chu kỳ trong hoạt động sinh lí của cơ thể
- Tính chu kỳ trong sự tăng trọng của cơ thể
- Tính chu kỳ trong trao đổi chất
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC
Chúng ta thấy rằng sự sinh trưởng và phát dục của thú (kiểu hình của thú), theo công thức cơ bản của di truyền học là:
P = G + E
Trong đó P = kiểu hình
G = kiểu gen (kiểu di truyền).
E = yếu tố ngoại cảnh (môi trường)
Một số trục trặc trong sự sinh trưởng và phát dục của cá thể
Trạng thái phôi tử: là biểu hiện của sự phát triển suy yếu trong giai đoạn bào thai mà nguyên nhân trực tiếp là do thể chất của bố mẹ yếu, nhất là khi con mẹ bị nuôi dưỡng kém hay đã bị bệnh trong giai đoạn mang thai.
Ở loài bò, cá thể ở trạng thái phôi tử khi sinh ra thường nhỏ bé, có trọng lượng thấp đặc biệt chân ngắn hơn các con vật bình thường. Ở các khớp xương các đầu xương nhô lên rõ rệt.
Nhìn chung con vật có một thể trạng yếu hơn các thú bình thường và dạng hình cũng khác thường.
Một số trục trặc trong sự sinh trưởng và phát dục của cá thể
Trạng thái ấu trĩ: là biểu hiện của sự phát triển suy yếu của cá thể ở giai đoạn ngoài thai ngay thời kỳ đầu, thời kỳ thú non và có thể ở ngay thời gian đầu của thời kỳ thành thục.
Ở loài bò, thú ở trạng thái ấu trĩ thì khi dù đã trưởng thành, nó có chân cao, mông cao song có thân hình ngắn và lép, toàn thân nhìn thấy giống thú mới sanh được ít lâu, hay nói cách khác là dù đã trưởng thành nhìn thú thấy giống còn non.
Con vật ở trạng thái ấu trĩ có thể sinh sản bình thường được, song nếu điều kiện nuôi dưỡng xấu tác động lâu dài thì sẽ làm cho thú này mất khả năng sinh sản.
30
GIỐNG GIA SÚC GIA CẦM
Giáo viên: Th.S PHẠM MINH HIẾU
Điện thoại: 093.3849789
Email: luckyhieu@gmail.com
TỔ BỘ MÔN CHĂN NUÔI THÚ Y