1 of 101

GV: Nguyễn Thị Phương Thảo

Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM

Email: thaontp@hcmue.edu.vn

2 of 101

MỤC ĐÍCH

Trang bị cho học viên một số kiến thức thiết thực và cơ bản để góp phần hình thành tay nghề cho người giáo viên tương lai.

Xây dựng cho học viên cách nhìn nhận, đánh giá học sinh tiểu học một cách khoa học. Trên cơ sở đó, rèn luyện cho học viên những kỹ năng cơ bản vận dụng những điều đã học vào công tác giảng dạy và giáo dục ở trường tiểu học.

Hình thành quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học theo quan điểm hiện đại của Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm. Hình thành nhân cách người giáo viên tiểu học.

3 of 101

NỘI DUNG

Chương 1: Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em

Chương 2: Bậc tiểu học trong nền giáo dục hiện đại

Chương 3: Các hoạt động của học sinh tiểu học

Chương 4: Một số vấn đề về nhân cách người giáo viên tiểu học

4 of 101

1. Xác định đúng vị trí và vai trò của tâm lý học tiểu học trong hệ thống các môn học

MỘT SỐ GỢI Ý CÁCH HỌC

5 of 101

1. Xác định đúng vị trí và vai trò của tâm lý học tiểu học trong hệ thống các môn học

6 of 101

2. Trong quá trình học Tâm lý học, học viên nhất thiết phải liên hệ với cuộc sống và thực tiễn giáo dục

7 of 101

3. Nắm chắc đặc điểm của môn học trong mối quan hệ của nó với cách hướng dẫn của cán bộ giảng dạy

8 of 101

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

TÂM LÝ TRẺ EM

9 of 101

I. TRẺ EM THỜI ĐẠI NGÀY NAY

1. Quan niệm về trẻ em:

Định nghĩa trẻ em theo Công ước Quyền trẻ em thì: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi”.

Định nghĩa trẻ em theo luật pháp Việt Nam: “Trẻ em là công dân dưới 16 tuổi”.

Theo tài liệu phục vụ công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em do Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em Việt Nam phát hành năm 2002 thì: “Trẻ em là công dân đặc biệt: vì trẻ em có các quyền và bổn phận được hệ thống luật pháp công nhận; cho nên tuy nhỏ tuổi nhưng trẻ em cũng có quyền công dân về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cần được tôn trọng. Do trẻ em chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực cho nên cần phải có người bảo vệ và chăm sóc đặc biệt...”.

10 of 101

1. Quan niệm về trẻ em:

- Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, trẻ em là trẻ em.

- Trẻ em là con đẻ của thời đại.

- Khả năng bỏ ngỏ của trẻ em (học sinh) còn lớn hơn thực có của người lớn (thầy giáo).

Do đó, định nghĩa trẻ em, phán xét trẻ em thông qua người lớn là phương pháp tư duy sai lầm trong lí luận giáo dục hiện đại.

Trong công tác giáo dục phải quan niệm giáo dục trẻ em là một hoạt động nhằm tác động vào toàn bộ tâm lý của chúng. Không đem ý muốn chủ quan của người lớn áp đặt cho trẻ em. Không hiểu trẻ em ngày nay mà cứ than phiền hoặc ca ngợi quá đáng sẽ khó thực hiện mục tiêu giáo dục, sẽ không tạo được tính độc lập cho trẻ.

11 of 101

2. Một số qui luật phát triển - sinh lý của trẻ em:

- Càng nhỏ, trẻ phát triển càng nhanh, càng mạnh, càng lớn lên thì tốc độ phát triển càng chậm dần, yếu dần đi.

- Về mặt sinh lý trẻ em phát triển cũng không đồng đều. Người ta gọi sự phát triển này là phát triển theo kiểu làn sóng.

- Sự phát triển của từng cơ quan, từng bộ phận trong cơ thể trẻ là không đồng đều, không cân đối. Mỗi cơ quan, mỗi bộ phận phát triển với tốc độ riêng, khi nhanh, khi chậm, khi mạnh, khi yếu...

- Tuổi thơ là một giai đoạn của cuộc đời, sự phát triển tâm - sinh lý của nó đầy biến động và rất nhanh chóng, tháng này khác tháng trước.

Trẻ em hiện đại là một sản phẩm của xã hội hiện đại chưa hề có trong quá khứ. Muốn giáo dục trẻ thì phải hiểu nó, ngược lại muốn hiểu nó thì phải tiến hành giáo dục nó. Làm một lúc cả hai việc đó là cách thực nghiệm giáo dục.

12 of 101

3. Trẻ em ngày nay:

Trẻ em ngày nay có sự gia tốc phát triển, đó là sự phát triển nhanh về sinh lý, tâm lý của trẻ em. Sự phát triển sớm về trí tuệ, sự gia tăng khối lượng tri thức ở trẻ em ngày nay có thể xem như là sự gia tốc phát triển tâm lý của trẻ em. Mặt khác, khuynh hướng nhận thức của trẻ em ngày nay được mở rộng, năng khiếu, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, thẩm mĩ... trở nên phong phú và đa dạng. Trẻ em ngày nay còn được tiếp nhận những lượng thông tin nhờ sự tăng dần đáng kể các phương tiện thông tin đại chúng qua báo chí, truyền hình, internet... Với những đặc điểm này, việc giáo dục trẻ em cũng dễ hơn và cũng khó hơn trước. Dễ là vì trẻ em ngày nay tiếp thu nhanh hơn, có khả năng và điều kiện để vận dụng những điều đã học được. Khó hơn vì tầm suy nghĩ của các em rộng hơn, những vấn đề các em đặt ra cũng phong phú hơn và phức tạp hơn.

13 of 101

II. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM

Thuyết nguồn gốc sinh vật

Thuyết nguồn gốc xã hội

Thuyết hội tụ hai yếu tố

Phái nhi đồng học

L.X. Vưgôtxki và tâm lý học hoạt động

Di truyền là yếu tố có tác dụng quyết định đến phát triển tâm lý trẻ, coi môi trường là yếu tố điều chỉnh, biểu hiện của tính di truyền.

Môi trường xã hội là nhân tố quyết định sự phát triển của trẻ em.

Mỗi tác động qua lại giữa môi trường và di truyền quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em.

Dùng các trắc nghiệm để xác lập chỉ số thông minh (IQ) của học sinh.

L.X. Vưgôtxki coi giáo dục có tác dụng quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ em.

Là cơ sở lý luận của “giáo dục tự phát”, “giáo dục tự do”.

Phủ nhận tính tích cực của con người.

Phủ nhận hoạt động tích cực riêng của cá nhân.

Tâm lý học hoạt động: động lực của sự phát triển nằm ngay trong chính hoạt động tích cực của bản thân đứa trẻ.

14 of 101

III. VAI TRÒ CỦA DẠY HỌC, GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ

Dạy học và giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ em vì nó có khả năng:

- Vạch ra chiều hướng cho sự phát triển nhân cách, kích thích và dẫn dắt sự hình thành phát triển tâm lý học sinh theo chiều hướng đó.

- Tạo điều kiện thuận lợi để những tiềm năng sinh vật của trẻ được bộc lộ, phát triển, để có thể biến “khả năng” của trẻ thành hiện thực.

- Giúp trẻ bù đắp những thiếu hụt do khuyết tật hoặc bệnh tật đem lại.

- Uốn nắn những nét tâm lý xấu được hình thành do ảnh hưởng tự phát của môi trường.

15 of 101

III. VAI TRÒ CỦA DẠY HỌC, GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIẺN TÂM LÝ

L.X. Vưgôtxki khi phân tích sự phát triển tâm lý học sinh đã nêu lên luận điểm quan trọng: “Dạy học phải đi trước sự phát triển, dạy học phải thúc đẩy sự phát triển chứ không phải sử dụng cái đã đạt được ở trẻ em”.

Khả năng của dạy học và giáo dục rất rộng nhưng không vô hạn, muốn tâm lý trẻ phát triển đúng đắn rất cần có sự tự giáo dục của trẻ trong tất cả các thời kỳ của cuộc đời.

III. VAI TRÒ CỦA DẠY HỌC, GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ

16 of 101

IV. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ

Lứa tuổi

Hoạt động chủ đạo

Hướng tâm lý

Đặc trưng tâm lý

Sơ sinh

(0-2 tháng)

Tuổi “ăn, ngủ”, cần được bế, ẵm

Ngoại

Động tác bộc phát

Hài nhi

(3-12 tháng)

Giao lưu cảm xúc trực tiếp

Nội

Cộng sinh cảm xúc, động tác biểu cảm

Nhà trẻ

(13 tháng - 3 tuổi)

Chơi với đồ vật

Ngoại

- Tìm tòi “khám phá sự vật.

- Bắt chước hành động sử dụng đồ vật.

Mẫu giáo

(3-6 tuổi)

Chơi với bạn cùng tuổi (đặc biệt là trò chơi sắm vai)

Nội

- Bắt đầu hình thành ý thức về bản thân mình, phân định chủ quan với khách quan.

- Nhạy cảm đạo đức - thẩm mĩ, tư duy trực quan - hình tượng.

17 of 101

IV. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ

Lứa tuổi

Hoạt động chủ đạo

Hướng tâm lý

Đặc trưng tâm lý

Tiểu học

(7-11 tuổi)

Học tập phát triển trí tuệ

Ngoại

- Lĩnh hội nền tảng của tri thức và phương pháp, công cụ nhận thức.

- Ham tìm tòi, khám phá.

- Hiếu động.

Thiếu niên

(12-15 tuổi)

Học tập, giao lưu “nhóm bạn thân”

Nội

- Dậy thì.

- Quan hệ tâm tình, bè bạn.

- “Cải tổ” nhân cách và định hình bản ngã.

- Muốn được đối xử như người lớn.

Thanh xuân

(15-18 tuổi)

Học tập hướng nghiệp

Ngoại

- Hình thành thế giới quan, tự ý thức.

- Định hướng chuẩn bị nghề nghiệp.

- Ham hoạt động xã hội.

- Tình bạn thân và mối tình đầu.

18 of 101

CHƯƠNG II

BẬC TIỂU HỌC TRONG NỀN GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI

19 of 101

1. Hiện trạng giáo dục ở Việt Nam:

Việt Nam cam kết thực hiện Công ước về quyền trẻ em, thể hiện 8 nội dung cơ bản (theo công thức 4 - 3 - 1) sau:

- Bốn nhóm Quyền:

+ Quyền được sống còn

+ Quyền được bảo vệ

+ Quyền được phát trển

+ Quyền được tham gia

- Ba nguyên tắc:

+ Công ước quốc tế quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi.

+ Tất cả các quyền và nghĩa vụ được nêu trong công ước đều được áp dụng bình đẳng cho mọi trẻ em mà không có sự phân biệt đối xử.

+ Mọi hoạt động được thực hiện đều vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em.

20 of 101

1. Hiện trạng giáo dục ở Việt Nam:

- Một quá trình:

+ Việc thực hiện quyền trẻ em là một quá trình phối hợp nhiều hoạt động can thiệp hỗ trợ và tất cả mọi người, kể cả trẻ em, đều có trách nhiệm giúp Nhà nước thực hiện và theo dõi quá trình thực hiện công ước.

Trẻ em 6 tuổi phải được học lớp 1 ngay từ đầu năm học và không được đi học muộn hơn 11 tuổi, trừ những trường hợp dưới đây:

- Không đủ điều kiện sức khỏe, phát triển chậm về thể lực, trí lực hoặc ốm đau đột xuất được tổ chức y tế xác nhận.

- Do hoàn cảnh gia đình có khó khăn đặc biệt được chính quyền cơ sở xác nhận.

- Cư trú ở những vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và các vùng có khó khăn.

21 of 101

1. Hiện trạng giáo dục ở Việt Nam:

Thực trạng:

- Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành (Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006).

- Một số kết quả nổi bật:

+ Được đánh giá cao trong khu vực ASEAN.

+ Các mục tiêu Quốc gia đối với giáo dục tiểu học được duy trì, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.

+ Cơ sở vật chất được quan tâm và đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh trong độ tuổi và thực hiện đổi mới giáo dục ở cấp tiểu học.

+ Đánh giá chất lượng đội ngũ: đạt chuẩn 99,9%; tỉ lệ trung bình trên cả nước là 1,38 giáo viên/lớp, đủ để dạy các môn và 2 buổi/ngày.

+ Đổi mới hiệu quả các phương thức dạy học.

22 of 101

1. Hiện trạng giáo dục ở Việt Nam:

Hạn chế:

- Việc đầu tư cho giáo dục tiểu học chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu, đội ngũ giáo viên gặp nhiều khó khăn, việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên chưa đáp ứng được những yêu cầu của đổi mới giáo dục.

- Mặc dù trong những năm gần đây đã có sự chuyển biến lớn trong cách dạy “lấy người học làm trung tâm” nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Nhưng việc dạy ở cấp tiểu học chủ yếu vẫn do giáo viên tiến hành bằng các tiết giảng nhằm mục đích truyền thụ kiến thức do chương trình quy định vào đầu áo học sinh. Cách dạy, cách học hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội “văn minh tri thức” hiện nay là đào tạo được thế hệ trẻ thông minh, năng động, sáng tạo và dễ thích ứng với những đòi hỏi của cuộc sống xã hội hiện đại ngày nay.

- Nhận thức chưa đúng về trẻ em hiện đại. Người lớn thường lấy bản thân mình để phán xét và dạy dỗ trẻ em.

23 of 101

2. Giáo dục tiểu học là cấp học nền tảng

Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

24 of 101

25 of 101

26 of 101

Tóm lại, mọi công dân đều phải qua phổ cập tiểu học, hoạt động học ở cấp học này là hoạt động chủ đạo đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ em. Chính ở cấp học này, những đặc điểm tâm lý, đặc điểm sinh lý của trẻ em phát triển mạnh mẽ và hình thành nền nếp và thói quen học tập, nhu cầu và hứng thú nhận thức được hình thành mạnh mẽ ở lứa tuổi này; ở cấp tiểu học ảnh hưởng và tác dụng của giáo viên đối với học sinh rất lớn... Vì lẽ đó, dạy học và giáo dục ở cấp học này sẽ không chỉ đặt nền móng giáo dục phổ thông, mà còn đặt nền móng cho toàn bộ sự hình thành nhân cách con người, đặt nền móng cho sự sáng tạo của học sinh.

27 of 101

3. Giáo dục tiểu học trong xã hội hiện đại

Xây dựng xã hội học tập vừa là một nhiệm vụ cấp bách, vừa là một yêu cầu chiến lược, nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của nền giáo dục nước nhà, quyết định sự thành công, phát triển của đất nước.

Dạy học và giáo dục trong xã hội hiện đại phải mở ra toàn không gian sống của con người trong xã hội thông tin. Để đáp ứng nhu cầu ấy, nền giáo dục không chỉ phải thay đổi về nội dung, mà cả phương pháp cho thích hợp với thời đại. Nền giáo dục hiện đại xem trẻ em là nhân vật trung tâm, là linh hồn của nhà trường, lấy sự phát triển cả trí tuệ, nhân cách và hạnh phúc ngay ngày hôm nay của trẻ em làm lẽ sống của mình.

28 of 101

3. Giáo dục tiểu học trong xã hội hiện đại

Nhà trường tiểu học trong xã hội hiện đại không phải là sự kéo dài ra quá trình dạy dỗ trẻ em của gia đình trong 6 năm đầu của cuộc đời trẻ. Nhà trường phải dạy cho trẻ em những khái niệm khoa học chứ không phải những kinh nghiệm sống, dạy cho trẻ em cách học (phương pháp làm việc trí óc).

Phải xem xét vai trò của giáo viên và học sinh trong nhà trường theo hướng giáo viên là người tổ chứchướng dẫn, học sinh tiến hành các hoạt độngphát triển, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, người tổ chức cho học sinh hoạt động, học sinh phải tự làm ra sản phẩm giáo dục. Theo quan niệm này thì học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể của giáo dục.

29 of 101

3. Giáo dục tiểu học trong xã hội hiện đại

Nền giáo dục hiện đại phải tô đậm tính nhân văn, giáo viên hướng tới sự tạo dựng phát triển các phẩm chất nhân cách của học sinh: Đào tạo hàng loạt nhân cách nhưng lại vun trồng từng học sinh, làm nảy nở hết các bản sắc riêng biệt ở mỗi học sinh để các em trở thành những người có cá tính.

Học sinh tiểu học là những thực thể hồn nhiên, tiềm ẩn những khả năng phát triển vô cùng to lớn. Đồng thời, thế giới tâm hồn của các em cũng hết sức nhạy cảm và rất dễ bị tổn thương. Vì thế, mọi tác động từ phía giáo viên đến học sinh không chỉ đòi hỏi khoa học cao mà còn phải đạt tới trình độ nghệ thuật.

30 of 101

3. Giáo dục tiểu học trong xã hội hiện đại

Các phẩm chất, năng lực và tri thức, kỹ năng của người giáo viên tiểu học được cụ thể hóa thành những mục tiêu của người giáo viên tiểu học, đó là:

Thứ nhất, có hình thức phù hợp với học sinh tiểu học, được các em chấp nhận (hình thể, trang phục, cử chỉ...).

Thứ hai, am hiểu sâu sắc những vấn đề của giáo viên tiểu học (mục tiêu, nội dung, phương pháp...).

Thứ ba, nắm vững và vận dụng có hiệu quả những tri thức về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học các môn học ở tiểu học... vào trong thực tiễn công tác của mình.

31 of 101

3. Giáo dục tiểu học trong xã hội hiện đại

Thứ tư, ngôn ngữ (kể cả nói và viết) phải chuẩn xác về tất cả các phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả... để có thể lôi cuốn, hấp dẫn học sinh.

Thứ năm, có lòng yêu nghề, yêu trẻ.

Tình yêu trẻ là động lực thôi thúc giáo viên tiểu học sáng tạo, kiên nhẫn, miệt mài trong công việc. Còn lòng yêu nghề giúp giáo viên tiểu học khắc phục khó khăn để luôn luôn được gần gũi, tiếp xúc với học sinh, mãi mãi giữ cho tinh thần hăng hái, trí tuệ minh mẫn, tình cảm nhạy bén để dạy cho học sinh cái mà xã hội hiện đại đòi hỏi. Để xứng đáng là đại diện cho trí tuệ thời đại, người giáo viên tiểu học phải học suốt cuộc đời.

32 of 101

4.1. Đặc điểm thể chất:

a) Chiều cao và trọng lượng:

- Chiều cao: 6 - 7 tuổi: khoảng 7 - 10 cm/năm

8 - 10 tuổi: khoảng 3 - 5 cm/năm

Trong cùng một nhóm, các em nam và nữ có chiều cao xấp xỉ nhau; ở 6, 7 tuổi các em nam trội hơn các em nữ, mức tăng hàng năm không đồng đều ở các lứa tuổi.

- Trọng lượng: 2 - 2,5 kg/năm.

Trong cùng nhóm, sự phát triển cân nặng của các em nam và nữ xấp xỉ nhau.

Ở lứa tuổi tiểu học, trẻ có dáng người cân đối do sự phát triển hài hòa giữa các bộ phận trong cơ thể.

4. Tiền đề của sự phát triển tâm lý học sinh tiểu học

33 of 101

4.1. Đặc điểm thể chất:

b) Hệ xương:

Bộ xương đang trong thời kỳ cốt hóa. Xương còn nhiều mô sụn mềm, tỷ lệ chất hữu cơ nhiều hơn chất vô cơ nên xương ở trẻ còn dẻo và mềm. Cột sống có những thay đổi lớn: độ cong ở cổ, ở ngực, ở thắt lưng hình thành tạo linh hoạt hơn trong cử động.

Sự cốt hóa của các đốt ngón tay kết thúc ở tuổi 9 - 10, còn cốt hóa ở cổ tay kết thúc ở tuổi 10 - 12.

c) Hệ cơ:

- Cơ bắp và dây chằng được tăng cường, nhưng cơ còn chứa nhiều nước, lượng Protit dùng để co cơ ít, cơ bị mỏng.

- Cơ lưng yếu nên không thể giữ lâu tư thế đúng.

- Cơ lớn phát triển hơn cơ nhỏ.

34 of 101

4.1. Đặc điểm thể chất:

d) Hệ tuần hoàn:

- Tim trẻ ở lứa tuổi tiểu học đập nhanh 84 - 90 nhịp/phút, người lớn 70 - 72 nhịp/phút.

- Cơ tim của học sinh tiểu học phát triển mạnh, mạch máu tương đối nở rộng so với các lứa tuổi nhỏ hơn, việc cung cấp máu cho tất cả các tế bào trong cơ thể hầu như gấp 2 lần ở người lớn.

Như vậy, hoạt động của hệ tuần hoàn làm tăng năng lực làm việc của não, hoạt động nhận thức, học tập ở học sinh tiểu học.

e) Hệ hô hấp:

- Hình dáng lồng ngực thay đổi (hình nón ngược)

- Chuyển từ kiểu thở bụng sang thở ngực

- Nhìn chung cấu trúc cơ quan hô hấp chưa phát triển đầy đủ: cơ hoành nằm cao, cơ xương sườn đứng nên thở chưa sâu, hô hấp của trẻ dồn dập và nông...

35 of 101

4.1. Đặc điểm thể chất:

g) Hệ thần kinh:

- Học sinh tiểu học có khối lượng não bằng hơn 83% so với người lớn.

- Cấu trúc của vỏ não ở học sinh tiểu học đã có 6 lớp và các vùng, rãnh, hồi... tương tự như người lớn, đặc biệt thùy trán rất phát triển, tạo điều kiện cho việc hình thành những chức năng tâm lý bậc cao.

- Ở lứa tuổi tiểu học, quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế, do đó khả năng tự kiềm chế ở học sinh tiểu học còn yếu.

- Hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế ở lứa tuổi học sinh tiểu học.

36 of 101

4.1. Đặc điểm thể chất:

Từ các đặc điểm sinh lý đã nêu ở trên, lứa tuổi tiểu học có tư duy trực quan hình tượng, quá trình nhận thức cảm tính, không chủ định là chủ yếu.

Tóm lại, so với trẻ mẫu giáo, lứa tuổi này đang diễn ra một sự kiện toàn đáng kể về cơ thể: não bộ, hệ xương, hoạt động của hệ tim mạch, hệ thần kinh. Đây là những tiền đề vật chất rất quan trọng tạo điều kiện cho trẻ chuyển sang hoạt động khác về chất so với hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo, đó là hoạt động học tập.

37 of 101

4.2. Đặc điểm cuộc sống nhà trường tiểu học:

Gia nhập cuộc sống nhà trường, học sinh tiểu học tiến hành hoạt động học tập - hoạt động chủ đạo có vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lý lứa tuổi này, đó là hoạt động nghiêm chỉnh, có kỷ cương với những yêu cầu nghiêm ngặt. Nhà trường tiểu học giúp học sinh tiếp thu những khái niệm khoa học, những gì không thể có được trong 6 năm đầu của cuộc đời trẻ. Chẳng hạn, trẻ biết nói nhưng chưa biết cấu tạo của tiếng nói, biết nói nhưng chưa biết viết, biết đọc, biết đếm mà không biết cấu tạo của số...

38 of 101

4.2. Đặc điểm cuộc sống nhà trường tiểu học:

Tổ chức hoạt động học tập của học sinh được tiến hành bằng phương pháp nhà trường; Có tổ chức trường, lớp; giáo viên được đào tạo một cách chuyên biệt; Có nội dung, chương trình giảng dạy phù hợp từng cấp, lớp.

Nhờ phương pháp nhà trường, học sinh lĩnh hội được cách làm việc trí óc, các em phải tự làm ra sản phẩm giáo dục, tự phải làm hết sức nhưng không quá sức, từ đó cảm nhận được niềm vui trong học tập.

39 of 101

4.3. Tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ em vào học lớp một:

a) Tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ vào lớp một:

Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi, vào học lớp một là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ, trẻ có sự chín muồi về các phẩm chất và khả năng tâm lý (tâm lý sẵn sàng đi học) sau:

- Sự thích thú đến trường, lòng mong muốn trở thành người học sinh, thích thú học tập, thích tham gia một hoạt động mới mang tính nghiêm chỉnh, được đánh giá bằng điểm hay bằng lời, nhằm thu nhận những hiểu biết mới, những thao tác mới, những kỹ năng, kỹ xảo và xúc cảm mới.

40 of 101

a) Tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ vào lớp một:

- Sự phát triển ngôn ngữ đạt tới mức hiểu đúng những lời giảng giải của giáo viên có phần gần với kinh nghiệm sống hàng ngày của các em nhưng cũng có phần tương đối khái quát, trừu tượng. Mặt khác, các em có khả năng diễn đạt đúng, rõ ràng và tương đối gãy gọn những ý nghĩ, tình cảm của mình muốn nói ra cho người khác.

- Có khả năng điều khiển các hoạt động tâm lý của bản thân, biết tuân theo nội quy của nhà trường tiểu học và thực hiện những yêu cầu của thầy cô giáo, như ngồi im chăm chú nghe cô giảng, không tự do chạy nhảy, tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 đến 35 phút...

41 of 101

a) Tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ vào lớp một:

- Phát triển độ tinh nhạy và sức bền của vận động bàn tay để có thể thực hiện được một cách gọn gàng, lâu mỏi các thao tác vận động của bàn tay khi tập viết, vẽ và nặn...

Bốn yếu tố trên tạo ra tâm lý “sẵn sàng đi học” của học sinh lớp một. Trong bốn yếu tố này, quan trọng nhất là sự thích thú đi học của trẻ em. Đầu tiên trẻ em còn thiên về bề ngoài của hoạt động đi học như thích thú đi học vì ngôi trường đẹp, có cặp sách mới, sách vở đẹp, quần áo mới... nhưng phải nhanh chóng làm cho các em thích thú những cái thuộc về nội dung hoạt động học, những tri thức mới, xúc cảm đẹp đẽ, cách giải quyết vấn đề thông minh, những khám phá bất ngờ. Sở dĩ như vậy vì yếu tố này vừa được hình thành, đồng thời vừa là cơ sở để hình thành ba yếu tố còn lại.

42 of 101

b) Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh đầu bậc tiểu học:

- Thứ nhất, thích ứng xã hội, là sự thích ứng với các mối quan hệ xã hội mới ở lớp học, trường học. Trong đó, ba mối quan hệ sau đây là nổi bật hơn cả:

+ Quan hệ giữa học sinh với thầy giáo, cô giáo.

+ Quan hệ giữa học sinh với nhau.

+ Quan hệ giữa cá nhân học sinh với các nhóm bạn, tổ học tập, lớp học, trường học.

- Thứ hai, thích ứng với hoạt động học tập, là sự thích ứng với chính những đòi hỏi của học tập. Thể hiện tập trung ở nề nếp, hứng thú, kỹ năng học tập như đi học chuyên cần, đúng giờ, học bài, làm bài đầy đủ, lễ phép, cẩn thận, chăm chỉ, biết vâng lời, thích học hỏi các kỹ năng đọc, viết, tính toán, v.v....

43 of 101

b) Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh đầu bậc tiểu học:

Ở học sinh xuất hiện những tình cảm tích cực, những rung động thẩm mỹ đẹp đẽ đối với học tập khi trường, lớp mà các em học hàng ngày có những điều kiện vệ sinh môi trường đảm bảo, khang trang, sạch đẹp. Các em cảm thấy an tâm, thoải mái khi đến trường học cũng như khi trở về nhà mà không bị ai dọa dẫm, đánh đập. Tình yêu, niềm tự hào về trường, lớp, về thầy cô giáo, bạn bè là một trong những yếu tố tâm lý quan trọng giúp các em nhanh chóng hòa nhập, thích ứng với môi trường và hoạt động mới.

44 of 101

b) Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh đầu bậc tiểu học:

Phương pháp dạy học ở lớp 1, lớp 2 phải thể hiện tính chuyển tiếp rõ rệt từ giáo dục theo phương pháp người mẹ của giáo dục mẫu giáo sang giáo dục theo kiểu nhà trường, văn hóa học đường. Để học sinh thích ứng tốt với phương thức học mới cần có những giáo viên dạy lớp 1 có tay nghề cao, có kinh nghiệm dạy lớp 1, giàu tình thương yêu học sinh, có tác phong lao động cần cù, tỉ mỉ. Như vậy, các em sẽ gặp nhiều thuận lợi trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng này, sẽ thành công ngay từ đầu trong học tập và niềm vui, hạnh phúc đi học sẽ đến với các em.

45 of 101

5. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- TRI GIÁC: Học sinh bậc tiểu học tri giác mang tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không chủ động. Các em khó phân biệt chính xác sự giống nhau hay khác nhau giữa các sự vật. Về tri giác độ lớn, các em có khó khăn khi phải quan sát các vật có kích thước lớn hoặc quá nhỏ. Ví dụ, các em cho rằng quả đất to bằng mấy tỉnh, con vi trùng to bằng hạt tấm. Về tri giác thời hạn, các em khó hình dung “ngày xưa”, “thế kỷ”... Vì thế, trong giáo dục nên vận dụng các điều sau đây: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”.

46 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- TRÍ NHỚ: Ở học sinh tiểu học, cả ghi nhớ có chủ định và không chủ định đều đang phát triển. Ở cuối bậc học, ghi nhớ có chủ định của các em phát triển mạnh. Tuy vậy ở lứa tuổi này, ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng. Học sinh lớp 1, lớp 2 thường học thuộc bài một cách máy móc, chưa biết sử dụng ghi nhớ có điểm tựa, chưa biết cách phân chia tài liệu, dùng hình vẽ, sơ đồ để hỗ trợ cho việc ghi nhớ. Ở những lớp này các em thường ghi nhớ một cách máy móc. Thầy cô giáo cần hướng dẫn cách em biết ghi nhớ có ý nghĩa để tránh các em học vẹt.

47 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- TƯỞNG TƯỢNG:

Đây là tuổi thơ mộng giàu tình cảm. Tuy nhiên tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức. Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững. Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn.

Về mặt cấu tạo hình tượng trong tưởng tượng, các em chỉ lập lại hoặc thay đổi chút ít về kích thước, về hình dạng những hình tượng đã tri giác trước đó.

48 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- TƯỞNG TƯỢNG (tt):

Từ những đặc điểm này, người giáo viên cần tổ chức cho học sinh quan sát sự vật, hiện tượng cụ thể. Mặt khác, giáo viên cần hình thành những biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ. Ngôn ngữ chính xác, giàu thiện cảm, khớp với động tác của giáo viên là yêu cầu bắt buộc.

Trong dạy học, giáo viên cần cố gắng sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học và tài liệu học tập. Vd: phim tài liệu về sự nảy mầm, trao đổi chất dinh dưỡng của cây xanh.

49 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- CHÚ Ý:

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh. Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy (được khen thưởng, được điểm cao...).

Trong lứa tuổi học sinh tiểu học, chú ý không chủ định chiếm ưu thế. Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em, không có sự nỗ lực của ý chí.

50 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- CHÚ Ý (tt): Sự tập trung chú ý của học sinh lớp 1, lớp 2 còn yếu, thiếu bền vững. Điều này có căn nguyên là quá trình ức chế ở bộ não của các em còn yếu. Do vậy, chú ý của các em còn bị phân tán. Vì vậy các em sẽ quên đều cô giáo dặn khi cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ, bỏ sót từ trong câu. Nhiều công trình nghiên cứu chú ý đã khẳng định, học sinh tiểu học thường chỉ tập trung và duy trì sự chú ý liên tục trong khoảng từ 30 đến 35 phút. Sự chú ý của học sinh tiểu học còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập. Nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý.

51 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- TƯ DUY: Tư duy của trẻ em ở bậc tiểu học chuyển dần từ tính cụ thể trực quan sang tính trừu tượng khái quát. Học sinh lớp 1, lớp 2 khi tiến hành phân tích tổng hợp, khái quát, thường căn cứ vào những đặc điểm bề ngoài cụ thể, trực quan. Vd: định nghĩa quả của các em thường kể tên cụ thể (quả mít, quả chuối, quả xoài...) hay “dũng cảm” là dám nhảy từ trên cao xuống.

52 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- TƯ DUY (tt): Trong sự phát triển tư duy ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện rõ ở các lớp đầu cấp. Vd: ta ra cho các em bài toán: Nếu con vịt có 5 chân, như vậy 3 con vịt có bao nhiêu chân? các em sẽ lúng túng, chúng thắc mắc làm gì có con vịt có tới 5 chân, tư duy của các em chưa thoát khỏi tính cụ thể, chưa nhận thức được ý nghĩa của từ “nếu”. nếu con vịt có 5 chân là một giả định không có thật, các em không biết suy luận từ giả định này để rút ra kết luận. Đặc điểm này của tư duy ở trẻ em tiểu học thường làm cho chúng mắc sai lầm.

53 of 101

5.1. Đặc điểm của các quá trình nhận thức:

- TƯ DUY (tt): Các em học sinh tiểu học đã biết phân loạiphân hạng trong nhận thức. Sự phân loại là căn cứ vào dấu hiệu chung chia các cá thể vào các lớp vốn được coi là các khái niệm. Sự phân hạng là sự sắp xếp các cá thể dựa vào các dấu hiệu có thể biến thiên. Vd: cho 10 que tính với 10 độ dài khác nhau (có thể hơn nhau đều đặn), trẻ có thể xếp theo thứ tự tăng dần hoặc giảm dần.

Người giáo viên cần chú ý đảm bảo tính trực quan trong dạy học nhưng không nên lạm dụng nó quá mức, cần dạy các em biết phân tích, tổng hợp, so sánh và suy luận. Chú trọng ngay từ lớp 1, lớp 2 đã tổ chức hoạt động học để hình thành cách thao tác trí óc (biết cách lao động trí óc) cho học sinh.

54 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

- TÍNH CÁCH: Học sinh bậc tiểu học thường dễ bị kích động bởi những kích thích bên trong và bên ngoài. Do vậy trẻ dễ có hành vi bột phát. Các em học sinh ở lứa tuổi này có tính vị tha và sự hồn nhiên. Hồn nhiên trong quan hệ với người lớn, với thầy, cô giáo, với bạn bè. Hồn nhiên nên rất cả tin tin vào sách vở, tin vào lời người lớn, tin vào khả năng của bản thân. Tất nhiên niềm tin này còn cảm tính, chưa có lý trí sói sáng. Người giáo viên nên tận dụng niềm tin này để giáo dục các em: thầy, cô giáo phải làm mẫu đúng, lời nói phải đi đôi với việc làm, phải giáo dục các em thế nào để các em dần dần hết “ngây” nhưng còn giữ được chất “thơ”.

55 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

- TỰ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÁNH GIÁ: Học sinh tiểu học tự đánh giá còn mang nặng tính cảm tính, chưa biết căn cứ vào chuẩn để đánh giá. Vì thế trẻ thích cô giáo cho điểm bằng số thật to, coi thầy cô giáo là thần tượng, có gì cũng nhờ thầy cô giáo phân xử đúng sai. Các em cũng biết đánh giá người khác.

Giáo dục các em biết đánh giá và tự đánh giá là nhiệm vụ rất quan trọng của các thầy cô giáo. Khi các em biết tự đánh giá đúng mức thì nó là sức mạnh tinh thần giúp các em từ chối sự chiếu cố, sự châm chước của giáo viên, ngay cả khi các em “thất bại”, các em sẽ dễ dàng chấp nhận đúng mình để vươn cao hơn trong học tập.

56 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

- TÌNH CẢM: Đặc trưng cơ bản trong đời sống tình cảm của các em là các em rất dễ xúc động, sống nhiều bằng tình cảm. Tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực quan và giàu cảm xúc. Vd: các em thấy thầy cô giáo đưa đồ dùng học tập mới, một bức tranh, các em reo lên “đẹp quá”, “thích quá”, được điểm tốt các em vui sướng, hân hoan ra mặt, bị điểm kém các em buồn lắm. Tình cảm của các em dễ nảy sinh nhưng chưa được bền vững, đi về cùng thôn, ấp... là thành bạn. Tuy vậy, có gì “trục trặc” nho nhỏ là dễ bất hòa, nhưng tất cả nhanh chóng quên đi và lại làm lành một cách hồn nhiên.

57 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

TÌNH CẢM (tt):

- Tình cảm trí tuệ:

+ Đi học các em học sinh tiểu học đã dần dần quan tâm, lo lắng đến kết quả học tập. Từ lớp 1, các em đã chú ý thi đua với bạn, cố gắng học tập để đạt kết quả tốt. Điểm số tốt hay xấu đối với các em rất quan trọng. Thái độ của thầy cô giáo và cha mẹ đối với kết quả học tập của các em có ảnh hưởng rõ rệt đến sự cố gắng học tập của các em hoặc cũng có thể làm cho các em nản chí trong học tập, tùy theo cách đánh giá đó như thế nào.

58 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

TÌNH CẢM (tt):

- Tình cảm trí tuệ:

+ Tính tò mò và ham hiểu biết là đặc điểm rõ nét nhất trong tình cảm trí tuệ của học sinh tiểu học. Việc tò mò tìm hiểu những sự vật và hiện tượng mới lạ trong tự nhiên và xã hội, các em muốn được giải đáp đầy đủ vấn đề thắc mắc nên thường hay hỏi, hay đặt ra vấn đề để tìm hiểu. Các giáo viên và phụ huynh cần khuyến khích tính tò mò, ham hiểu biết đó của các em, khiêu gợi thêm vấn đề để các em tìm cách giải đáp, giúp cho trí tuệ của chúng phát triển nhanh hơn. Tình cảm trí tuệ của các em chỉ phát triển mạnh khi nào những nhu cầu về mặt tinh thần được thỏa mãn.

59 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

TÌNH CẢM (tt):

- Tình cảm trí tuệ:

+ Đọc sách trở thành nhu cầu của việc tìm tòi, hiểu biết và bắt đầu trở thành một hoạt động ham thích ở học sinh tiểu học.

+ Dễ dàng phát triển khiếu thẩm mĩ ở học sinh tiểu học bằng cách khiêu gợi cho các em lòng yêu thích nghe nhạc, hát và vẽ các loại tranh.

+ Có thể hình thành ở học sinh tiểu học thái độ thẩm mỹ với nghệ thuật dân gian, các vật trang hoàng, các bức tranh thêu và dạy cho các em sử dụng các nhạc cụ dân tộc.

60 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

TÌNH CẢM (tt):

- Tình cảm đạo đức:

+ Học sinh tiểu học dần dần hiểu được các khái niệm đạo đức, cách đánh giá. Trên cơ sở các tri thức, hiểu biết, nhờ cách đánh giá nhất định của người lớn, các em tập xây dựng những phán đoán đạo đức riêng của mình.

+ Các hoạt động nhóm, tập thể, hoạt động cùng nhau trong học tập và sinh hoạt làm phát triển tình cảm tập thể, tình bạn ở học sinh tiểu học. Tình bạn làm nảy nở tinh thần giúp đỡ lẫn nhau, trách nhiệm đối với mình và đối với người khác, quan tâm đến trách nhiệm phải hoàn thành của lớp, của Đội.

+ Học sinh tiểu học đủ sức phân tích và khái quát những sự việc gây cảm xúc trong hành vi của con người. Các em biết lừa dối là xấu.

61 of 101

5.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:

- TÌNH CẢM (tt): Thầy cô giáo cần triệt để khai thác những hình ảnh trực quan để tạo cho các em những xúc cảm tích cực, tận dụng văn học, nghệ thuật làm phương tiện giáo dục tình cảm cho các em (phim, kịch, sách, báo, tranh ảnh...).

Tổ chức cho các em hoạt động như sinh hoạt tập thể, sinh nhật... Đối với học sinh, dùng tình cảm để cảm hóa và tác động đến các em, tránh thuyết lý một cách cứng nhắc, áp đặt. Tất cả những việc làm trên đây phải thực hiện theo phương châm: thương yêu các em nhưng vẫn nghiêm. Thương mà không nghiêm hoặc ngược lại đều không đem lại hiệu quả giáo dục.

62 of 101

5.3. Sự phát triển của năng khiếu:

- Học sinh tiểu học thường bộc lộ năng khiếu thơ ca, nghệ thuật (múa, hát, vẽ). Những em này thường thích vẽ, nhạc, hát. Các công trình nghiên cứu của L.V. Đubrôvina đã chứng tỏ rằng ở tuổi học sinh tiểu học có thể thấy cả những biểu hiện ban đầu của những năng khiếu trí tuệ đặc biệt. Trong tâm lý học người ta gọi thời kỳ trẻ bộc lộ năng khiếu là “thời kì phát cảm”. Các nhà tâm lý học L.X. Vưgôtxki, A.N. Lêônchiev cho rằng đây là thời kỳ tối ưu cho sự phát triển năng khiếu. Nếu người lớn tác động một cách đúng lúc và phù hợp thì sẽ tạo điều kiện cho năng khiếu phát triển.

63 of 101

5.3. Sự phát triển của năng khiếu:

- Phát hiện năng khiếu bằng các cách:

+ Sử dụng trắc nghiệm để phát hiện năng khiếu.

+ Giáo viên tiểu học thông qua các hoạt động phát hiện năng khiếu của học sinh.

64 of 101

5.3. Một số hện tượng rối loạn tâm lý ở lứa tuổi tiểu học:

a) Tình trạng học kém: Ở cấp tiểu học, các vấn đề học kém, lưu ban, bỏ học có liên quan đến nhau.

* Nguyên nhân học kém:

- Nguyên nhân xã hội - tâm lý:

+ Không được chuẩn bị tâm lý trước khi đến trường

+ Chán hoặc sợ học...

- Nguyên nhân sinh lý:

+ Ốm đau luôn nghỉ học

+ Trí Tuệ thiểu năng

+ Khuyết tật

65 of 101

5.3. Một số hện tượng rối loạn tâm lý ở lứa tuổi tiểu học:

a) Tình trạng học kém:

Khó khăn trong học tập bao gồm những khó khăn trong việc tiếp thu các kỹ năng học tập đặc trưng, có 3 dạng chính: khó khăn trong tập đọc; khó khăn trong tập viết, bao gồm các vấn đề liên quan đến đánh vần và viết cú pháp; và khó khăn trong toán học, bao gồm các vấn đề về nhận dạng các ký tự toán học và hoàn thành các phép toán. Mỗi dạng cũng bao gồm sự nghèo nàn về các kỹ năng tri giác.

66 of 101

5.3. Một số hện tượng rối loạn tâm lý ở lứa tuổi tiểu học:

b) Sai lệch hành vi tâm lí:

Ở trẻ tiểu học chủ yếu là sai lệch thụ động, các em không nhận thức đầy đủ hoặc nhận thức sai các chuẩn mực đạo đức, nên có những hành vi không bình thường so với chuẩn mực chung của xã hội.

Người ta chia trẻ chưa ngoan thành 5 loại sau:

+ Không vâng lời, đỏng đảnh, bướng bỉnh.

+ Vô kỷ luật, xấc xược, ngổ ngáo, gây gổ.

+ Lười biếng.

+ Dối trá.

+ Dễ xúc động (hoặc là vênh váo, tự cao, anh hùng rơm; hoặc là dễ hờn giận, mất lòng, dễ tổn thương)

Cần giáo dục uốn nắn, phòng ngừa các hành vi lệch chuẩn xã hội ngay từ khi các em còn nhỏ.

67 of 101

5.3. Các nhân tố chi phối sự hình thành nhân cách học sinh tiểu học:

a) Giáo dục nhà trường:

Trong trường tiểu học, người giáo viên đại diện cho trình độ phát triển của xã hội đương thời, người được xã hội giao trọng trách hình thành nhân cách cho trẻ em theo mục tiêu giáo dục. Người thầy có kiến thức, kinh nghiệm, am hiểu các em và có uy tín tuyệt đối đối với các em học sinh tiểu học. Chính vì thế, có thể nói nhà trường là nơi tổ chức chuyên biệt quá trình hình thành nhân cách của các em.

Nhân cách của các em được hình thành bằng hoạt động tập thể, trong đó giao tiếp là phương tiện chủ yếu để cả tập thể hướng tới mục đích chung, có ý nghĩa xã hội giữa các thành viên của tập thể, phân công trách nhiệm liên đới đối với kết quả hoạt động cùng nhau, đánh giá lẫn nhau, tạo nên sự thông cảm và đồng cảm.

68 of 101

5.3. Các nhân tố chi phối sự hình thành nhân cách học sinh tiểu học:

b) Giáo dục gia đình:

Trong gia đình, quan hệ cha mẹ - con cái là tác động qua lại mang tính chất xã hội đầu tiên trong cuộc đời đứa trẻ. Quan hệ này mang tính chất trực tiếp và có tầm quan trọng đặc biệt. Vì thế gia đình là nơi xã hội hóa đứa trẻ đầu tiên, là nơi truyền thụ nền văn hóa xã hội ngay từ khi trẻ cất tiếng khóc chào đời, là nơi bộc lộ hết thảy và nguyên dạng toàn bộ nhân cách của mỗi thành viên trong gia đình.

Muốn giáo dục nhân cách cho con em, gia đình phải tiến hành đồng bộ các việc sau: Tổ chức cuộc sống và hoạt động của các em sao cho các em luôn luôn có dịp thực hiện các vai trò nhất định; Hình thành ở các em tình cảm cao đẹp, trước hết là đối với những người ruột thịt, đối với thầy cô giáo và những người xung quanh; Giảng giải cho các em quy tắc, chuẩn mực đạo đức phù hợp với lứa tuổi.

69 of 101

5.3. Các nhân tố chi phối sự hình thành nhân cách học sinh tiểu học:

c) Trẻ em hoạt động và giao tiếp trong những điều kiện nhất định:

Cho đến nay, các nhà tâm lý học đã khẳng định, nhân cách của con người - của học sinh tiểu học cũng vậy - phải được hình thành trong hoạt động và dưới quy định của những điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể tương ứng, chứ không phải do di truyền học hoặc “cha mẹ sinh con trời sinh tính”, hoặc thụ động theo hoàn cảnh “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, hoặc do cả mấy yếu tố đó cộng lại một cách giản đơn.

70 of 101

5.3. Các nhân tố chi phối sự hình thành nhân cách học sinh tiểu học:

c) Trẻ em hoạt động và giao tiếp trong những điều kiện nhất định:

Nói hoạt động ở đây bao gồm một hệ thống việc làm, những xử sự hành vi... của mỗi học sinh và phải sử dụng các công cụ nhất định, những phương tiện, phải tuân theo từng quy tắc, chuẩn mực của xã hội nhằm đảm bảo cho cá nhân trẻ tồn tại và phát triển trong các nhóm xã hội. Như vậy, cả hoạt động và giao tiếp đều có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách của các em. Các em “học làm người” thông qua một hệ thống hoạt động và việc làm. Giáo dục nhân cách muốn có hiệu quả phải tổ chức cho các em hoạt động vui chơi, lao động, chính trị xã hội.

71 of 101

CHƯƠNG III

CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA

HỌC SINH TIỂU HỌC

72 of 101

1. Hoạt động học:

1.1. Khái niệm về hoạt động học:

- Một đứa trẻ không biết cầm đũa để lấy thức ăn, trẻ quan sát người lớn cầm đũa và tập cầm. Sau ít bữa, trẻ đã làm được. Đứa trẻ đã học được cách cầm đũa.

- Một người không biết đi xe đạp, anh ta luyện tập và đã đi được xe đạp. Chúng ta nói anh ấy đã học được cách đi xe đạp.

- Bắt đầu môn Toán ở lớp 1, học sinh mới biết nhận diện các hình (như hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác) vậy mà hết tiểu học, học sinh đã biết tính chu vi, tính diện tích của các hình cơ bản nói trên. Học sinh đã học được các công thức tính chu vi, công thức tính diện tích của các hình.

Ở trên là phân tích về “học”.

I. HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

73 of 101

1.1. Khái niệm về hoạt động học:

Thực tiễn đòi hỏi con người phải có những khái niệm khoa học, các quy luật khoa học và năng lực thực tiễn mới nên cần phải có một hoạt động đặc biệt mà mục đích chính của nó là Học - hoạt động học, học có chủ định.

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu: Học (hoạt động học) là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị.

Với các kiểu như trên thì hoạt động học chỉ được tạo ra trong nhà trường, nơi mà người ta dạy cho trẻ các nguyên lý khoa học và nơi mà người ta hình thành cho trẻ thế giới quan khoa học.

74 of 101

1.2. Bản chất của hoạt động học:

Bản chất của hoạt động học là việc con người lĩnh hội những tri thức xác định, những hành động và hành vi xác định do các tri thức đó chế ước, trong các tình huống xác định.

Thứ nhất, đối tượng của hoạt động học là tri thức và các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.

Thứ hai, hoạt động học hướng vào chủ thể và làm thay đổi chính chủ thể hoạt động (người học).

Thứ ba, hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

Thứ tư, cái đích của hoạt động học hướng vào việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hướng cả vào việc lĩnh hội phương pháp tìm ra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

75 of 101

1.2. Bản chất của hoạt động học:

Học sinh tiểu học đã có khả năng thực hiện và điều chỉnh hoạt động học của mình. Vd: học sinh tiểu học có sự sắc bén và tươi sáng trong tri giác, lòng ham hiểu biết, tính rõ ràng của tưởng tượng, sự chú ý tương đối lâu dài vào đối tượng, có kinh nghiệm điều chỉnh sự chú ý, độc lập tổ chức sự chú ý...; Ngôn ngữ phát triển (biểu đạt rõ ràng về mặt ngữ pháp, có khả năng diễn đạt ý nghĩa của mình một cách mạch lạc), có khả năng thực hiện các thao tác trí tuệ cơ bản (so sánh, khái quát hóa, rút ra kết luận); Thể lực của học sinh tiểu học phát triển tương đối êm ả và đồng đều về chiều cao, cân nặng, sức dẻo dai.

76 of 101

1.2. Bản chất của hoạt động học:

Tổ chức hoạt động học tập cho học sinh tiểu học một cách hiệu quả cần chú ý đến tính hấp dẫn, tính phong phú, tính thực tiễn (tích hợp tri thức bài dạy với kinh nghiệm của đời thực) và sâu sắc của tài liệu học tập, vì điều này kích thích tính tò mò, ham hiểu biết vốn có ở lứa tuổi tiểu học, thúc đẩy tư duy độc lập và năng lực nhận thức, làm cho việc học trở nên thú vị hơn.

Giáo viên tiểu học không được đánh mất uy tín của mình, không được làm mất danh dự của giáo viên trước mặt học sinh, cũng như không được phê bình giáo viên trước mặt học sinh. Có như vậy mới giáo dục tính tổ chức, lòng yêu lao động, thái độ tốt đối với các giờ học ở học sinh.

77 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

a) Hình thành động cơ học tập:

Động cơ là nhu cầu đã bắt gặp đối tượng có thể thỏa mãn nó. Hoạt động học tập được điều khiển bởi nhiều động cơ:

- Động cơ xa là mục đích cuối cùng của hoạt động. Vd: Sinh viên say mê học tập để lập nghiệp trong tương lai.

- Động cơ gần là mục đích bộ phận - mục đích của từng hành động. Vd: tự giác tích cực học để đạt điểm cao trong bài kiểm tra hết học phần.

78 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

a) Hình thành động cơ học tập:

- Động cơ bên trong là những động cơ lôi kéo tới mục đích. Biểu hiện ở loài động cơ này có thể là sự hứng thú đối với bản thân tri thức, sự khát khao mở rộng, hoàn thiện tri thức của bản thân và nắm vững những kỹ năng nhất định, sự say mê với quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập...

Giáo viên là người biết phải dạy cái gì và dạy như thế nào? Giáo viên chọn và tổ chức bài học để nó:

+ Kích thích hứng thú của học sinh ngay từ đầu bài học,

79 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

a) Hình thành động cơ học tập:

- Động cơ bên trong (tt)

+ Duy trì sự tò mò của học sinh và thu hút sự tham gia vào công việc bằng cách sử dụng sự ngạc nhiên, sự nghi ngờ, hay sự lúng túng, các tư liệu quen thuộc và các phương pháp đa dạng thú vị.

+ Cung cấp những cơ hội thao tác tích cực.

+ Cho phép sự tự chủ của học sinh trong công việc tổ chức thời gian và cố gắng.

+ Cung cấp sự lựa chọn để đáp ứng các yêu cầu của bài học.

80 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

a) Hình thành động cơ học tập:

- Động cơ bên ngoài:

Động cơ bên ngoài tập trung vào các chiến lược nhận thức, các hoạt động tăng cường sự thành công và giảm sự thất bại. Động cơ bên ngoài là tất cả những yếu tố kích thích thúc đẩy từ bên ngoài vươn tới mục đích, như trách phạt và khen thưởng, đe dọa và yêu cầu, thi đua và áp lực, khen ngợi và kêu gọi lòng hiếu danh, mong đợi hạnh phúc và lợi ích tương lai.

81 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

a) Hình thành động cơ học tập:

- Động cơ bên ngoài (tt):

Một số nguyên tắc được giáo viên sử dụng để tăng cường động cơ bên ngoài như:

+ Cung cấp những hướng dẫn rõ ràng. Vd: nội dung học cần lĩnh hội và mức độ đạt đến, đường hướng kiểm tra và đánh giá.

+ Đảm bảo sự tương xứng về mặt nhận thức. Động cơ của học sinh cao nhất khi học sinh giải quyết những nhiệm vụ hay những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh.

82 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

a) Hình thành động cơ học tập:

- Động cơ bên ngoài (tt):

+ Cung cấp hồi âm trực tiếp. Hồi âm về sự thể hiện (hành vi) của học sinh phải tức thời và có tính xây dựng.

+ Liên hệ việc học trước đó với việc học hiện tại.

+ Thường xuyên cung cấp phần thưởng. Khen là một phần thưởng đặc biệt, có giá trị, nhất là khi nó được nói bằng giọng tự nhiên cho những học sinh có những cố gắng đạt những kết quả cụ thể.

+ Tạo cho học sinh những kỳ vọng hay những viễn cảnh do việc học đem lại.

83 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

a) Hình thành động cơ học tập:

Làm thế nào để hình thành động cơ học tập ở học sinh? Động cơ học tập không tự có, cũng không được áp đặt từ bên ngoài vào, mà phải được hình thành dần dần trong quá trình học sinh đi sâu vào chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên.

Nếu trong quá trình dạy học, thầy giáo luôn tổ chức thành công các tình huống dạy học, trong đó, học sinh tự mình phát hiện ra những điều mới lạ, (cả về mặt tri thức và phương pháp tiếp cận tri thức), giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ học tập, tạo ấn tượng tốt đẹp đối với việc học thì nhu cầu đối với tri thức khoa học dần được hình thành ở học sinh.

84 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

b) Hình thành mục đích học tập:

Mục đích chỉ thực sự có khi con người bắt tay vào hành động. Mặc dù trước khi hành động, con người đã có hình ảnh về sản phẩm tương lai ở trong đầu.

Đối tượng của hoạt động học là nơi hiện thân của động cơ. Hoạt động học tập thực hiện được động cơ thì đối tượng học tập phải được cụ thể hóa thành hệ thống các khái niệm của môn học, và việc chiếm lĩnh từng khái niệm trong từng bài học là mục đích của hoạt động học tập.

Hình thành mục đích học tập được tiến hành thông qua việc tổ chức cho học sinh tác động vào đối tượng, làm cho mục đích dần hiện ra và định hướng cho hành động. Bằng các hành động, học học sinh lĩnh hội được các khái niệm.

85 of 101

1.3. Hình thành hoạt động học:

c) Hình thành các hành động học:

Hành động học tập giữ một vị trí đặc biệt trong hoạt động học tập của học sinh, vì nếu thiếu chúng, sự lĩnh hội của học sinh chỉ mang tính hình thức bằng cách học thuộc các đặc điểm của khái niệm, hoặc các biện pháp để giải các bài toán. Nhờ các hành động học tập mà học sinh tái tạo và lĩnh hội tài liệu học tập một cách chân chính.

Có các loại hành động: hành động phân tích, hành động mô hình hóa, hành động cụ thể hóa, hành động kiểm tra, hành động đánh giá. Các loại này thông qua các dạng: vui chơi, lao động, hoạt động xã hội, hoạt động văn hóa nghệ thuật.

86 of 101

CHƯƠNG IV

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

87 of 101

I. ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

Người thầy giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục. Thầy giáo là cầu nối liền giữa nền văn hóa dân tộc và nhân loại, với sự tái sản xuất nền văn hóa ấy trong chính đứa trẻ.

- Đối với lao động trực tiếp của người giáo viên là trẻ em ở nhà trường tiểu học.

- Nghề dạy học là nghề lao động trí óc chuyên nghiệp.

- Nghề yêu cầu về phẩm chất năng lực rất cao ở giáo viên.

- Nghề có ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn vì giáo dục tạo ra sức lao động mới trong từng con người theo quy trình phức tạp tinh tế và công phu.

- Nghề đòi hỏi khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo.

88 of 101

II. HOẠT ĐỘNG DẠY - HOẠT ĐỘNG ĐẶC TRƯNG CỦA

NGƯỜI GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

Dạy học bậc tiểu học thực chất là tổ chức hoạt động học cho học sinh để biến năng lực của loài người thành năng lực của mỗi trẻ em.

Những người lớn (cha mẹ, anh chị, những người lớn xung quanh khác) đều có thể dạy dỗ trẻ em theo nghĩa thông thường (được tiến hành bằng phương pháp truyền tay, kèm cặp). Kết quả của sự dạy dỗ này là trẻ em hình thành được những kinh nghiệm đủ sống bình thường.

89 of 101

II. HOẠT ĐỘNG DẠY - HOẠT ĐỘNG ĐẶC TRƯNG CỦA

NGƯỜI GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

Việc dạy học xã hội đã giao phó cho người thầy giáo được tiến hành bằng phương pháp nhà trường, có qui trình kỹ thuật xác định nhằm hình thành cho các em những khái niệm khoa học chính thống theo yêu cầu của xã hội đương thời (dạy học theo nghĩa này chỉ có thầy giáo mới làm được).

Hoạt động dạy của người giáo viên có những đặc điểm nổi bật: giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy, có nhiệm vụ tái tạo ở trẻ những khái niệm khoa học, những tri thức và kỹ năng: giáo viên không có nghĩa vụ sáng tạo ra những tri thức mới, bởi lẽ nội dung của dạy học vẫn nằm trong nền văn minh nhân loại, đã được các nhà sư phạm, các nhà khoa học “tinh chế” đưa vào nhà trường.

90 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

1. Cấu trúc nhân cách của người giáo viên:

Nhân cách của người giáo viên tiểu học bao gồm hệ thống các phẩm chất, năng lực và tri thức, kỹ năng đáp ứng các yêu cầu của hoạt động dạy học, giáo dục, tự hoàn thiện và hoạt động xã hội.

91 of 101

Cấu trúc nhân cách người giáo viên tiểu học

Hệ thống năng lực

- Năng lực dạy học

- Năng lực giáo dục

- Năng lực tự hoàn thiện

- Năng lực tổ chức

Hệ thống phẩm chất

- Đạo đức

- Lý tưởng nghề dạy học

- Tư duy giáo dục

- Yêu nghề

- Yêu trẻ

Hệ thống tri thức, kĩ năng

- Tri thức về đường lối quan điểm giáo dục của Đảng.

- Vốn văn hóa chung

- Vốn văn hóa sư phạm

- Kỹ năng thiết kế, tổ chức, nhận thức, giao tiếp (kỹ năng nền tảng)

- Kỹ năng dạy học, giáo dục tự học (kỹ năng chuyên biệt)

92 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

2. Phân tích một số phẩm chất

Người giáo viên cũng là những công dân, cho nên những phẩm chất đạo đức chung cho bất cứ ai trong xã hội ngườigiáo viên cũng phải có.

Lý tưởng nghề dạy học bao gồm nhận thức về tầm quan trọng của nghề giáo một cách sâu sắc nhất, có tình cảm yêu nghề một cách mãnh liệt nhất, thể hiện ra ở hiệu quả của công tác giáo dục và giảng dạy.

Người giáo viên cần phải có tư duy giáo dục. Tất cả lời nói, việc làm, hành vi, cử chỉ của mình đều được người giáo viên cân nhắc về hậu quả phương diện giáo dục của nó.

93 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

2. Phân tích một số phẩm chất

Các hoạt động của người giáo viên nhằm mục đích thay đổi bản thân học sinh. Do đó, quan hệ thầy trò có một vị trí đặc biệt, thầy giáo phải có sự khéo xử sự sư phạm. Trong những tình huống sư phạm phức tạp, ai không yêu quý học sinh, không biết cách làm việc với học sinh thì chẳng bao giờ có sự khéo xử sự sư phạm.

Người giáo viên tiểu học phải xây dựng được uy tín thật trước các em học sinh và phụ huynh học sinh.

94 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

3. Phân tích năng lực sư phạm của giáo viên

* Nhóm năng lực dạy học:

- Năng lực hiểu học sinh: là năng lực thâm nhập vào thế giới bên trong của các em.

- Năng lực chế biến tài liệu: là năng lực gia công về mặt sư phạm của giáo viên, nhằm làm cho tài liệu thích hợp tối đa với trình độ và đặc điểm nhân cách học sinh của mình, để các em lĩnh hội được những yêu cầu tối thiểu, nhưng lại tạo điều kiện để cho những em có điều kiện lĩnh hội được những tri thức, khái niệm mức độ cao hơn đại trà.

95 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

3. Phân tích năng lực sư phạm của giáo viên

* Nhóm năng lực dạy học:

- Năng lực tổ chức hoạt động của học sinh: Người giáo viên có năng lực này là người biết giao cho học sinh hệ thống việc làm, biết tổ chức, hướng dẫn các em tiến hành các việc làm đó, theo dõi, kiểm tra và đánh giá những hành động của các em để kịp thời uốn nắn những sai sót (nếu có), giúp các em gặp khó khăn để em nào cũng đạt kết quả.

96 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

3. Phân tích năng lực sư phạm của giáo viên

* Nhóm năng lực dạy học:

- Năng lực hiểu biết sâu rộng: Người giáo viên có năng lực hiểu sâu và rộng nắm vững nội dung, chương trình sách giáo khoa và có các tài liệu hướng dẫn đối với các môn học mà mình phụ trách, có năng lực bồi dưỡng để hoàn thiện tri thức, có nhu cầu mở rộng vốn văn hóa chung và văn hóa sư phạm để tiến hành có hiệu quả công tác dạy học và giáo dục.

97 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

3. Phân tích năng lực sư phạm của giáo viên

* Nhóm năng lực giáo dục:

Năng lực giáo dục là năng lực hiểu được đối tượng giáo dục và làm cho học sinh hiểu, nghĩ, nói và làm theo yêu cầu của xã hội., gồm những năng lực sau:

- Năng lực hiểu nhân cách của học sinh tiểu học.

- Năng lực cảm hóa học sinh.

- Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh.

- Năng lực kéo xử sư phạm.

98 of 101

III. PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

3. Phân tích năng lực sư phạm của giáo viên

* Nhóm năng lực tổ chức:

Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm là năng lực biết tổ chức, cổ vũ học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau của công tác dạy học và giáo dục ở trên lớp, ngoài giờ lên lớp cho từng học sinh và tập thể học sinh.

99 of 101

IV. CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH PHẨM CHẤT NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO

1. Do đặc điểm của nghề dạy học, ngay từ lớp một học sinh đã tiếp xúc với những công việc của thầy giáo mình. Dù chưa tự giác nhưng phong cách làm việc của người giáo viên đã ít nhiều ảnh hưởng đến học sinh. Không ít những học sinh sau khi tốt nghiệp lớp 12, vào học các trường sư phạm rồi ra làm giáo viên đã chịu ảnh hưởng nhiều của phong cách giảng dạy và giáo dục của thầy giáo mình trước đây. Vì lẽ đó, công tác hướng nghiệp để các học sinh có nguyện vọng làm nghề dạy học có những hiểu biết sơ bộ về lao động sư phạm cần được các thầy cô giáo ở trường phổ thông trung học, gia đình và xã hội quan tâm thực hiện.

100 of 101

IV. CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH PHẨM CHẤT NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO

2. Trường sư phạm đào tạo giáo viên có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành các phẩm chất, năng lực cho người giáo viên tương lai.

3. Phẩm chất của người giáo viên được hình thành và hoàn thiện trong quá trình hành nghề của người giáo viên.

Tóm lại, để người giáo viên tiểu học thực hiện được những nhiệm vụ cao cả của mình, mỗi giáo viên phải có tinh thần phấn đấu bền bỉ, liên tục, lâu dài với sự nghiệp giúp đỡ của Nhà nước.

101 of 101

Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe!