1 of 16

ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ NHIỄM ĐỘC CẤP TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

HỒI CỨU 10 NĂM

TS.BS LÊ QUỐC HÙNG

Trưởng khoa Bệnh Nhiệt Đới – Bệnh viện Chợ Rẫy

Trưởng đơn vị Hồi Sức Chống Độc – Bệnh viện Chợ Rẫy

Phó Chủ nhiệm bộ môn Lao, Nhiễm – khoa Y, ĐH Nguyễn Tất Thành

2 of 16

TỔNG QUAN

  • Ngộ độc cấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật hay tử vong cho con người. WHO ước tính có khoảng 0,3 triệu người chết mỗi năm do các tác nhân ngộ độc khác nhau (2008)
  • Đặc điểm mô hình bệnh lý ngộ độc cấp có thể rất khác nhau ở các quốc gia, vùng miền. Tùy thuộc vào các yếu tố địa lý – khí hậu, kinh tế - xã hội, văn hóa dân tộc và trình độ kiến thức của người dân.
  • Tình hình kinh tế ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, đi kèm với sự thay đổi khí hậu rất có thể kéo theo sự thay đổi về đặc điểm của các bệnh lý ngộ độc cấp. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, một nghiên cứu hồi cứu trong vòng 10 năm (từ 2010 – 2019) đã được thực hiện
  • Bệnh viện Chợ Rẫy là một BV tuyến cuối tại miền Nam Việt Nam, tiếp nhận và điều trị cho những trường hợp ngộ độc cấp nặng được chuyển từ các BV địa phương phía Nam Việt Nam. Do đó đặc điểm của các trường hợp ngộ độc cấp tại BVCR có thể cơ bản phản ánh được đặc điểm loại bệnh lý này ở miền Nam Việt Nam.

Thundiyil, J. G., et al. (2008). Acute pesticide poisoning: a proposed classification tool. Bulletin of the World Health Organization, 86(3), 205–209.

D. D. D. D. Gummin et al., "2020 Annual Report of the American Association of Poison Control Centers' National Poison Data System. 2021. Toxicol (Phila), vol. 59, no. 12, pp. 1282-1501

T. H. Ha, "Acute poisoning in northern Vietnam: epidemiologic, diagnostic and therapeutic aspects," PhD, Dept of Clinical Science and Education, Karolinska Institutet, Södersjukhuset 2010.

H. T. Hung, ."Potentially hazardous environmental factors for poisoning in rural Vietnam: a community-based survey," . Southeast Asian J Trop Med Public Health, vol. 41, no. 4, pp. 1021-7, Jul 2010.

3 of 16

KẾT QUẢ - BÀN LUẬN

Chiếm 1% tổng số bệnh nhân nội trú của bệnh viện Chợ Rẫy chứng tỏ rằng ngộ độc cấp là một bệnh lý thường gặp.

Có xu hướng ngày càng tăng theo thời gian. Nguyên nhân có thể là:

  • Gia tăng khả năng tiếp xúc giữa con người và động thực vật có tính độc (thay đổi nơi cư trú và biến đổi khí hậu).
  • Áp lực tâm lý của người dân gia tăng và thay đổi thói quen sinh hoạt (trong bối cảnh kinh tế xã hội phát triển)
  • Nguồn độc ngày càng phong phú và sẵn có.
  • Thay đổi thói quen tới cơ sở y tế khám chữa bệnh
  • Giao thông phát triển giúp người dân dễ tiếp cân tới cơ sở y tế hơn

Lê Quốc Hùng, et all. (2024). BVCR

Số bệnh nhân ngộ độc cấp điều trị nội trú hàng năm

4 of 16

KẾT QUẢ - BÀN LUẬN

  • Phân bố theo giới tính nữ/nam = 1:2 (nam: 63%). nam giới là lao động chính chịu nhiều áp lực, có thể có liên quan tới sử dụng chất gây nghiện
  • Tuổi trung vị có xu hướng gia tăng dần theo thời gian: nguy cơ nhiễm độc ở mọi lứa tuổi kể cả người lớn tuổi
  • Lứa 20 – 29 tuổi có tỷ lệ bị ngộ độc cấp cao nhất (34,5%): áp lực tâm lý cao về học hành, việc làm và tâm thần chưa ổn định
  • Tỷ lệ bị NĐC giảm dần khi các nhóm tuổi tăng dần: tâm lý và việc làm dần ổn định, người VN >60 tuổi không có cảm giác “cô đơn” như ở phương Tây
  • Phần lớn bệnh nhân là người Kinh (97,8%), làm nghề nông (33,1%) và sống ở nông thôn (72,1%): người có trình độ học vấn không cao, nghèo thường là người dễ có hành vi tự hại khi gặp bế tắc trong cuộc sống. Tại sao số BN người dân tộc bị ngộ độc cấp rất thấp?

Cần chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe tâm thần của người dân để làm giảm tỷ lệ tự hại. Tại Việt Nam chưa có bác sỹ, chuyên gia tâm lý học. Kế hoạch phát triển ngành này trong tương lai?

Lê Quốc Hùng, et all. (2024). BVCR

5 of 16

PHÂN BỐ NHÓM BỆNH LÝ NGỘ ĐỘC CẤP

Nhóm ngộ độc cấp

Tỷ lệ %

Rắn và côn trùng độc cắn

47,5%

Ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật

30,6%

Ngộ độc thuốc điều trị

11,9%

Ngộ độc các loại ít gặp (khí, chất ăn mòn, rượu, thực phẩm, chất gây nghiện…)

10,4%

Ngộ độc chất không rõ loại

2,4%

Rắn/côn trùng độc cắn và ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật chiếm gần 80% trong tổng số các loại ngộ độc cấp. Cần xây dựng những biện pháp cụ thể để phòng ngừa các loại ngộ độc này để làm giảm nhanh tỷ lệ nhiễm độc cấp.

6 of 16

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÁNG CHÚ Ý Ở CÁC NHÓM NGỘ ĐỘC CẤP

7 of 16

NGỘ ĐỘC CẤP DO RẮN ĐỘC CẮN

Số BN bị rắn/côn trùng độc cắn chiếm gần ½ tổng số BN và có xu hướng ngày càng tăng:

  • Khá tương đồng với một số báo cáo ở TTCĐ phía Bắc, là đặc trưng cho các quốc gia vùng ĐN Á, là nhóm thường gặp nhất trong các loại ngộ độc cấp.
  • Chưa được chú trọng, phần lớn các cơ sở y tế tuyến đầu không có khả năng điều trị huyết thanh kháng nọc
  • Hiện tại Việt Nam chỉ chủ động tự sản xuất được huyết thanh kháng nọc rắn lục xanh và hổ đất.

SỐ BN BỊ RẮN ĐỘC CẮN QUA CÁC NĂM

  • Tăng cường tuyên truyền, thực hiện các biện pháp phòng ngừa
  • Tăng cường khả năng điều trị sớm từ các cơ sở y tế tuyến đầu
  • Đầu tư nghiên cứu và sản xuất các loại huyết thanh khác

8 of 16

ĐẶC ĐIỂM BN NGỘ ĐỘC THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

Là nhóm bệnh lý NĐC thường gặp thứ hai.

Đa số BN là nam giới, người Kinh, lứa tuổi 20 – 40, làm ruộng và sống ở nông thôn

Tác nhân gây độc thường gặp nhất là thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu phosphor hữu cơ.

Tỷ lệ tử vong cao nhất thuộc nhóm NĐ thuốc diệt cỏ paraquat/diquat hay các trường hợp can thiệp y tế trễ

Số bệnh nhân

4311

Tuổi (trung vị)

30

Nữ

1388

Nam

2923

Sống

3860

Chết

(%)

451

(10,5%)

Dân tộc Kinh

4243

Dân tộc khác

68

Nông thôn

3490

Thành thị

821

Trừ sâu

1413

Trừ cỏ

2560

Diệt chuột

279

Khác

59

Phospho hữu cơ/ carbamat

635

Paraquat/diquat

1659

Glyphosate

338

Glufosinat

8

  • Ngăn cấm sử dụng paraquat là quyết sách đúng
  • Tăng cường tuyên truyền, thực hiện các biện pháp phòng ngừa
  • Chú ý nghiên cứu, bồi dưỡng kiến thức về ngộ dộc cấp do glufosinat và tăng cường khả năng điều trị sớm từ các cơ sở y tế tuyến đầu

9 of 16

Phân bố theo giới và tuổi (trung vị)

ĐẶC ĐIỂM BN NGỘ ĐỘC THUỐC ĐIỀU TRỊ

Là nhóm NĐC thường gặp thứ 3

Số BN trung bình hàng năm khoảng 200 – 250 người

Đa số là BN nữ, trong lứa 20-30 tuổi, sống ở thành thị

Paracetamol và thuốc hướng thần là tác nhân gây độc thường gặp nhất. Cần chú ý vấn đề quản lý thuốc

Tỷ lệ tử vong cao nhất ở bệnh nhân ngộ độc thuốc hạ áp và uống nhiều loại thuốc cùng lúc

Lọc máu có thể là một giải pháp quan trọng trong HSCC những trường hợp ngộ độc nhiều loại thuốc hay không có thuốc giải độc đặc hiệu

10 of 16

ĐẶC ĐIỂM NGỘ ĐỘC RƯỢU VÀ CHẤT GÂY NGHIỆN

NGỘ ĐỘC RƯỢU

NGỘ ĐỘC CHẤT GÂY NGHIỆN

Phân bố theo giới và tuổi

Kết quả điều trị và tỷ lệ tử vong

  • Tỷ lệ nữ giới bị ngộ độc rượu và chất gây nghiện gia tăng theo thời gian
  • Ngộ độc rượu có xu hướng trẻ hóa
  • Tỷ lệ tử vong cao trong ngộ độc rượu là do tỷ lệ ngộ độc methanol tăng.

11 of 16

ĐẶC ĐIỂM NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM

  • Số lượng BN ngộ độc cấp do thực phẩm thấp
  • Tác nhân gây ngộ độc thực phẩm ngày càng nhiều chủng loại khác nhau
  • Xuất hiện các ca bệnh ngộ độc rất hiếm gặp (như botulinums, ngộ độc khế…vv)
  • Hầu hết không có sẵn thuốc giải độc, chủ yếu điều trị triệu chứng dẫn tới BN phải điều trị kéo dài trong các ICU với nhiều biến chứng.

12 of 16

ĐẶC ĐIỂM NGỘ ĐỘC CẤP KHÔNG XÁC ĐỊNH

  • Số lượng khoảng <50 ca bệnh mỗi năm
  • Chẩn doán dựa vào tổn thương tạng đột ngột, không giải thích được nguyên nhân
  • Không có khả năng xét nghiệm tìm độc chất do:
    • BS không phán đoán được độc chất
    • Khả năng xét nghiệm rất hạn chế
  • Tỷ lệ tử vong chung còn cao (khoảng 8%) do:
    • Không xác định được độc chất nên không dùng thuốc giải độc đặc hiệu
    • Điều trị thường chậm trễ do không được chẩn đoán ngộ độc cấp lúc ban đầu

13 of 16

TỶ LỆ TỬ VONG CỦA BN NGỘ ĐỘC CẤP

TỶ LỆ TỬ VONG PHÂN BỐ THEO THỜI GIAN

  • Tỷ lệ tử vong của BN ngộ độc cấp ngày càng giảm trong 10 năm qua
  • Những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ tử vong ở Bn ngộ độc cấp:
    • Trình độ chẩn đoán và điều trị (đặc biệt là áp dụng phương pháp can thiệp hiện đại) tốt hơn.
    • Khả năng cung cấp thuốc điều trị đặc hiệu tại bệnh viện CR có cải thiện

14 of 16

NHỮNG HẠN CHẾ VỀ CHẨN ĐOÁN & ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ NGỘ ĐỘC HIỆN NAY

TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

  • Số BN bị ngộ độc ngày càng gia tăng.
  • Các tác nhân gây ngộ độc ngày càng phong phú và xuất hiện nhiều tác nhân gây độc mới.
  • Các phương tiện xét nghiệm CLS hỗ trợ cho chẩn đoán xác định độc chất còn rất hạn chế.
  • Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp cấp cứu hồi sức với nhũng phương tiện hiện đại nhưng tỷ lệ tử vong còn chưa cải thiện, đặc biệt là ở nhóm BN ngộ độc không rõ tác nhân.
  • Thiếu thuốc giải độc đặc hiệu, đặc biệt là những loại ngộ độc hiếm gặp.
  • Thiếu các chuyên gia chuyên ngành độc học.
  • Công tác NCKH chưa được phát triển mạnh

TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC

  • Phần lớn các cơ sở y tế không có đơn vị /khoa chống độc riêng, mà lồng ghép chung trong các ICU. Không ít các trường hợp ngộ độc cấp không được phát hiện.
  • Không có mạng lưới hoạt động như các chuyên ngành khác.
  • Không có trung tâm lưu trữ các loại thuốc giải độc quý hiếm dẫn tới thiếu hoặc lãng phí.
  • Không có sự phối hợp giữa khối điều trị và các cơ quan có liên quan (như Viện HLKHVN…vv)
  • Phác đồ điều trị bệnh lý nhiễm độc chưa được thường xuyên cập nhât, bổ sung gây ra khá nhiều lúng túng cho BS điều trị.
  • Nghiên cứu khoa học, chủ động sản xuất các thuốc giải độc chưa đáp ứng được nhu cầu.
  • Công tác hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu rất hạn chế

15 of 16

HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI

  • Đặt nền tảng cho hệ thống mạng lưới hồi sức chống độc toàn quốc
  • Tăng cường khả năng xét nghiệm tầm soát/ xác định độc chất. Giải pháp trước mắt và lâu dài
  • Xây dựng mối liên hệ, hỗ trợ chẩn đoán các loại độc chất do động thực vật độc giữa các bệnh viện và Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam
  • Đặt mục tiêu ngắn hạn và dài hạn trong nghiên cứu sản xuất và đánh giá hiệu quả lâm sàng các loại huyết thanh kháng độc giữa các BV và Viện vaccine và sinh phẩm y tế (IVAC) Nha Trang.
  • Thảo luận về sự phối hợp điều chuyển các loại thuốc giải độc quý hiếm trên quy mô toàn quốc.
  • Soạn thảo, cập nhật, bổ sung các phác đồ điều trị nhiễm độc và đệ trình hội đồng khoa học và Cục Quản lý khám chữa bệnh xem xét và quyết định.
  • Phối hợp nghiên cứu khoa học với các trung tâm chống độc quốc tế (Anh Quốc, Đài Loan), đặc biệt tìm nguồn đào tạo bác sỹ trẻ về chuyên ngành hồi sức chống độc.

16 of 16