BỘ SÁCH GIÁO KHOA
SỬ DỤNG THỐNG NHẤT TOÀN QUỐC
LỚP 1
TẬP HUẤN, BỒI DƯỠNG
GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MĨ THUẬT LỚP 1
BỘ SÁCH SỬ DỤNG THỐNG NHẤT TOÀN QUỐC
Tổng chủ biên:
PGS.TS ĐINH GIA LÊ
Chủ biên:
PGS.TS TRẦN THỊ BIỂN
Tác giả:
ThS. PHẠM DUY ANH
ĐỘI NGŨ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN SGK MĨ THUẬT 1
Phần 1. NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN SÁCH GIÁO KHOA MĨ THUẬT
III. Đối sánh cấu trúc chủ đề/ bài học các bộ SGK Mĩ thuật
IV. Những lưu ý tổ chức hoạt động trong SGK Mĩ thuật
V. Những lưu ý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
VI. Hướng dẫn sử dụng nguồn tài nguyên sách và các học liệu điện tử của NXB Giáo dục Việt Nam
Phần 2. NHỮNG NỘI DUNG KHÁC
I. Dạy học Mĩ thuật tích hợp, lồng ghép với giáo dục STEAM
II. Dạy học Mĩ thuật tích hợp, lồng ghép với năng lực số
III. Dạy học Mĩ thuật tích hợp, lồng ghép với AI
Phần 3. THẢO LUẬN
NỘI DUNG TẬP HUẤN SGK MĨ THUẬT 1
I. CHƯƠNG TRÌNH MĨ THUẬT CẤP TIỂU HỌC
Phần 1. NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN SÁCH GIÁO KHOA MĨ THUẬT
Một số điểm mới trong Chương trình GDPT 2018
Về mục tiêu
Chương trình GDPT 2018 được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Về nội dung
Tinh giảm về nội dung, giảm tính hàn lâm, tăng tính thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực học sinh (so với Chương trình GDPT 2006)
Phương pháp dạy học
Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy sự chủ động, tự lực của học sinh trong học tập, rèn luyện và vận dụng kiến thứctheo yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh
Vai trò của sách giáo khoa
Sách giáo khoa cụ thể hóa nội dung, yêu cầu cần đạt quy định trong Chương trình GDPT
Thiết bị dạy học, học liệu
Là phương tiện cho học sinh thực hiện hoạt động học để chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức theo yêu cầu cần đạt của chương trình
Giáo viên
Có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của học sinh
Nhà trường
Chủ động trong việc xây dựng và thực hiện chương trình phù hợp với điều kiện cụ thể về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường
| Chương trình Mĩ thuật 2006 | Chương trình Mĩ thuật 2018 |
Nội dung | Theo các phân môn | Tích hợp, lồng ghép trong các chủ đề/ bài học |
Phương pháp | Dạy học theo phân môn | Đa dạng, linh hoạt theo nội dung của mỗi chủ đề |
Sản phẩm mĩ thuật | Theo các phân môn | 2D, 3D theo năng lực, sở thích của mỗi học sinh phù hợp với yêu cầu ở mỗi chủ đề/ bài học |
Thời gian tổ chức | - Tổ chức dạy học cơ bản theo phân phối chương trình đã được xác định (đúng theo số tiết/tuần đã được quy định trong chương trình); không phải xây dựng lại phân phối chương trình (cơ bản theo trình tự nội dung đã có trong SGK; việc điều chỉnh nếu có là không nhiều). | - Chương trình "mở" (chỉ quy định số tiết/năm học) đòi hỏi giáo viên phải tham gia xây dựng phân phối chương trình, cùng nhà trường và tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học môn học. |
Định hướng chủ đề trong Chương trình môn Mĩ thuật cấp Tiểu học
Mĩ thuật tạo hình | |||||
Định hướng chủ đề | Lớp | ||||
1 | 2 | 3 | 4 | 5 | |
Thiên nhiên | X | X | X | X | X |
Con người | X | X | X | X | X |
Gia đình | X | X | X | X | X |
Nhà trường | X | X | X | X | X |
Xã hội |
| X | X | X | X |
Quê hương |
|
| X | X | X |
Đất nước |
|
|
| X | X |
Thế giới |
|
|
|
| X |
Mĩ thuật ứng dụng (Thủ công) | |||||
�Định hướng chủ đề | Lớp | ||||
1 | 2 | 3 | 4 | 5 | |
Đồ chơi | X | X | X | X | X |
Đồ dùng học tập | X | X | X | X | X |
Đồ dùng cá nhân | | X | X | X | X |
Đồ lưu niệm | | | X | X | X |
Đồ gia dụng | | | | X | X |
Đồ trang trí nội thất | | | | | X |
Mạch nội dung trong môn Mĩ thuật cấp Tiểu học
Mạch nội dung | Lớp 1 | Lớp 2 | Lớp 3 | Lớp 4 | Lớp 5 |
Lí luận và lịch sử mĩ thuật | + | + | + | + | + |
Điêu khắc | X | X | X | X | X |
Hội họa | X | X | X | X | X |
Đồ họa (tranh in) | X | X | X | X | X |
Thủ công | X | X | X | X | X |
Các chủ đề trong SGK Mĩ thuật cấp Tiểu học
Lớp | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 |
Dẫn nhập | Chủ đề 1: Mĩ thuật trong nhà trường | Chủ đề 1: Mĩ thuật trong cuộc sống | Chủ đề 1: Em yêu Mĩ thuật |
|
|
Nguyên lí/ yếu tố tạo hình | Chủ đề 2: Sáng tạo từ những chấm màu Chủ đề 3: Nét vẽ của em Chủ đề 4: Sáng tạo từ những hình cơ bản Chủ đề 5: Màu cơ bản trong mĩ thuật Chủ đề 6: Sáng tạo từ những khối cơ bản | Chủ đề 2: Sự thú vị của nét Chủ đề 3: Sự kết hợp của các hình cơ bản Chủ đề 4: Những mảng màu yêu thích Chủ đề 5: Sự kết hợp thú vị của khối | Chủ đề 2: Hoa văn trên trang phục của một số dân tộc Chủ đề 3: Màu sắc em yêu Chủ đề 4: Vẻ đẹp của khối Chủ đề 5: Một số vật liệu sử dụng trong thực hành, sáng tạo mĩ thuật | Chủ đề 1: Vẻ đẹp trong điêu khắc đình làng Việt Nam Chủ đề 2: Một số dạng không gian trong tranh dân gian Việt Nam | Chủ đề 1: Yếu tố tạo hình trong thực hành, sáng tạo theo chủ đề |
Thiên nhiên | Chủ đề 7: Hoa, quả | Chủ đề 6: Sắc màu thiên nhiên | Chủ đề 7: Cảnh vật quanh em | Chủ đề 3: Cảnh đẹp quê hương | |
Con người | Chủ đề 8: Người thân của em | Chủ đề 7: Gương mặt thân quen | Chủ đề 8: Chân dung người thân trong gia đình | Chủ đề 4: vẻ đẹp trong cuộc sống | Chủ đề 2: Hình tượng anh hùng dân tộc trong mĩ thuật tạo hình Việt Nam |
Gia đình | Chủ đề 8: Bữa cơm gia đình | Chủ đề 9: Sinh hoạt trong gia đình | Chủ đề 5: Những kỉ niệm đẹp | Chủ đề 3: Gia đình | |
Nhà trường | Chủ đề 9: Em là học sinh lớp 1 | Chủ đề 9: Thầy cô của em | Chủ đề 6: Biết ơn thầy cô | Chủ đề 6: Mái trường yêu dấu | Chủ đề 4: Những hoạt động yêu thích ở trường em |
Xã hội |
| Chủ đề 10: Đồ chơi từ tạo hình con vật | Chủ đề 10: An toàn giao thông | Chủ đề 7: Môi trường xanh – sạch – đẹp | Chủ đề 5: Những việc làm bình dị mà cao quý trong cuộc sống |
Quê hương |
|
|
| Chủ đề 8: Quê hương thanh bình | Chủ đề 6: Cảnh sắc quê hương |
Đất nước |
|
|
| Chủ đề 7: Việt Nam đất nước, con người | |
Thế giới |
|
|
|
| Chủ đề 8: Vì một thế giới hòa bình |
Thời lượng dành cho nội dung giáo dục: Mĩ thuật tạo hình: 60 %. Mĩ thuật ứng dụng: 30 %. Đánh giá định kì: 10 %. | |||||
Như vậy, về cơ bản, giáo dục mĩ thuật trong nhà trường phổ thông góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và các năng lực chung, trọng tâm là khơi dậy và phát triển năng lực mĩ thuật – biểu hiện của năng lực thẩm mĩ với các thành phần sau:
Quan sát và nhận thức thẩm mĩ
Sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ
Phân tích và đánh giá thẩm mĩ
Cấu trúc: Kết hợp tuyến tính và cấu trúc đồng tâm
Hoạt động: Thảo luận và thực hành nghệ thuật
Nội dung: Mĩ thuật tạo hình, Mĩ thuật ứng dụng (Thủ công)
Mục tiêu: Phát triển hài hoà về đức, trí, thể, mĩ cho mọi học sinh, đồng thời phát hiện, bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu
Trong giai đoạn giáo dục cơ bản
Bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9
Khả năng quan sát và cảm thụ nghệ thuật, nhận thức và biểu đạt thế giới
Làm quen và trải nghiệm thông qua nhiều hình thức hoạt động
Khả năng cảm nhận và tìm hiểu, thể nghiệm các giá trị văn hoá, thẩm mĩ trong đời sống và nghệ thuật
II. GIỚI THIỆU BỘ SGK MĨ THUẬT VÀ SGK MĨ THUẬT 1
2.1. Quan điểm biên soạn
- Ở cấp Tiểu học, SGK môn Mĩ thuật biên soạn bám sát Chương trình Giáo dục phổ thông Mĩ thuật năm 2018, tiếp nối sự hình thành, phát triển năng lực mĩ thuật đã có ở lớp học trước.
- Các hoạt động trong sách được tổ chức theo hình thức trải nghiệm và bám sát môn Mĩ thuật, giúp HS dễ tiếp cận kiến thức, kĩ năng trong thực hành, sáng tạo;
- Nội dung trong sách giúp HS hiểu thêm về mối quan hệ chặt chẽ giữa mĩ thuật và đời sống, góp phần nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật trong cuộc sống hằng ngày.
- Bộ SGK Mĩ thuật chú trọng đến việc xác định đúng đối tượng của môn học trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong giáo dục mĩ thuật.
STT (1) | Chủ đề - Bài (2) | Số tiết (3) |
1 | Chủ đề 1: Mĩ thuật trong nhà trường | 1 |
2 | Chủ đề 2: Sáng tạo từ những chấm màu | 4 |
3 | Chủ đề 3: Nét vẽ của em | 3 |
4 | Chủ đề 4: Sáng tạo từ những hình cơ bản | 4 |
5 | Chủ đề 5: Màu cơ bản trong mĩ thuật | 4 |
6 | Kiểm tra/ đánh giá Học kì I | 1 |
7 | Chủ đề 6: Sáng tạo từ những khối cơ bản | 4 |
8 | Chủ đề 7: Hoa, quả | 4 |
9 | Chủ đề 8: Người thân trong gia đình | 4 |
10 | Chủ đề 9: Em là học sinh lớp Một | 4 |
11 | Kiểm tra/ đánh giá Học kì II | 1 |
12 | Trưng bày cuối năm | 1 |
| Tổng cộng | 35 tiết |
2.2. Các chủ đề trong SGK Mĩ thuật 1
SGK Mĩ thuật 1 gồm 9 chủ đề. Các chủ đề được xây dựng có tính đến yếu tố văn hoá phù hợp lứa tuổi, thể hiện kết hợp hình ảnh minh hoạ và lời văn, thiết kế linh hoạt, đơn giản, dễ hiểu, bước đầu đảm bảo được mục tiêu giáo dục đặt ra, phù hợp với bối cảnh đất nước, với HS ở các vùng miền và cơ sở giáo dục trên toàn quốc, đặc biệt là thể hiện tính liên ngành với các môn học khác.
2.3. Cấu trúc chủ đề trong SGK Mĩ thuật 1
Cấu trúc thể hiện tính hệ thống trong xây dựng nội dung, cũng chính là sự thống nhất trong cấu trúc của tổng thể bộ sách.
2.4. Các dạng bài chính
Các chủ đề trong SGK Mĩ thuật 1 được xây dựng theo 2 dạng bài chính:
Dạng bài hình thành khái niệm
Dạng bài sử dụng khái niệm
Trong đó, các khái niệm yếu tố tạo hình đưa vào SGK Mĩ thuật nói chung và SGK Mĩ thuật 1 trên cơ sở phát triển đối tượng của chuyên ngành mĩ thuật:
Chấm chuyển động tạo ra nét, nét chuyển động tạo ra hình, hình chuyển động tạo ra diện, kết hợp thành khối. Màu xuất hiện ngay từ đầu nhưng đưa vào sau khái niệm hình để giải quyết khái niệm yếu tố tạo hình trên mặt phẳng 2 chiều, để chuyển sang khối trong không gian 3 chiều.
Chấm
Nét
Hình
Màu
Khối
Điều này thể hiện tính khoa học, tường minh khi lựa chọn đối tượng trong SGK Mĩ thuật 1, giúp giáo viên và học sinh thuận tiện trong việc dạy và học.
Việc tổ chức các hoạt động dạy học được biên soạn trong SGV theo một quy trình cụ thể, khoa học.
Giáo viên trên cơ sở các bước lên lớp được biên soạn trong sách giáo viên lựa chọn hình thức tổ chức trên lớp phù hợp với thực tế học sinh, cơ sở vật chất nhà trường. Từng bước chủ động xây dựng các tuyến bài thực hành phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Kế hoạch bài dạy
2.5. Lưu ý trong dạy học dạng bài hình thành khái niệm
- Phân tích tình huống sư phạm và hướng giải quyết.
Chủ đề 5. Màu cơ bản trong Mĩ thuật
Quan sát: Căn cứ vào điều kiện thực tế của lớp học, GV cho quan sát từng màu cơ bản và nói đồ vật có màu tương ứng. HS phát biểu đồ vật theo màu tương ứng thì cho vẽ luôn vào phần giấy thực hành. Tuỳ vào thời gian tổ chức trong thực tế buổi dạy, GV có thể cho HS vẽ đủ 3 đồ vật với 3 màu cơ bản hoặc chỉ vẽ 1 đồ vật (tuỳ thuộc vào sự hứng thú/ khả năng diễn đạt đối tượng của HS trong lớp). Như vậy, mục c/ Hoạt động: Quan sát sẽ nối liền với câu lệnh của Hoạt động: Thể hiện.
Thể hiện: GV quan sát HS thực hành, gợi ý đối với từng trường hợp HS khó khăn trong việc quan sát, liên tưởng đến đồ vật có màu cơ bản đã học, không làm thay bằng cách gọi tên, vẽ/ xé dán đồ vật giúp HS
Như vậy, tiến trình tổ chức chủ đề này ở 2 phần này cơ bản sẽ theo các bước:
- Nhận biết, gọi tên màu cơ bản (mục a/ Hoạt động: Quan sát).
- Nhận biết màu cơ bản trong tranh vẽ (mục b/ Hoạt động: Quan sát).
- Quan sát, liên tưởng màu cơ bản với đồ vật trong cuộc sống (mục c/ Hoạt động: Quan sát).
- Vẽ/ xé dán đồ vật có màu cơ bản ra phần giấy thực hành (Hoạt động: Thể hiện). GV tổ chức cho HS có thể vẽ/ xé dán 2 đồ vật/ 2 màu cơ bản hoặc 3 đồ vật/ 3 màu cơ bản, cũng như 1 đồ vật có cả 3 màu cơ bản tuỳ theo thực tế dạy học trên lớp.
Như vậy, qua 2 hoạt động Quan sát, Thể hiện đã giúp HS có hiểu biết về nội dung cốt lõi của chủ đề này, đó là xác định được màu cơ bản trong mĩ thuật và liên hệ với vật có màu cơ bản trong cuộc sống. Ở đây, GV cần lưu ý mức độ hoàn thành bài thực hành của HS là Đạt và không đạt. Ở mức độ Đạt được thể hiện:
- Đại trà: HS vẽ được 1 vật và vật đó có 1 màu cơ bản.
- Phân hóa: HS vẽ được 3 vật và mỗi vật có 1 màu cơ bản.
- Năng khiếu: HS vẽ 3 vật có 3 màu cơ bản hoặc vẽ một vật trong đó thể hiện đủ 3 màu cơ bản.
Thảo luận: GV căn cứ theo các câu hỏi gợi ý trong SGK Mĩ thuật 1, giúp HS củng cố kiến thức đã học về màu cơ bản, đồ vật có màu tương ứng trong cuộc sống và thể hiện cảm xúc của mình trước các bài thực hành của các bạn trong nhóm/ lớp. Tuỳ vào số lượng HS trong lớp, GV cho HS tiến hành thảo luận theo nhóm/ dãy và mời đại diện nhóm/ dãy (hoặc từng HS) phát biểu thể hiện quan điểm của mình đối với sản phẩm mĩ thuật đã được thực hiện ở Hoạt động: Thể hiện. Lưu ý rằng, chủ đề này được biên soạn cho thời gian học 4 tiết nên GV tuỳ điều kiện thực tế của hợp học, dành nhiều thời gian cho HS thực hành ở Hoạt động: Thể hiện, sao cho mỗi HS ít nhất có được 1 bài vẽ hoàn thành.
Vận dụng: GV căn cứ theo nội dung ở phần tham khảo để giới thiệu cho HS các bước trang trí một món đồ chơi cũ, trong đó sử dụng yếu tố tạo hình đã học ở 4 chủ đề trước như: màu cơ bản, chấm màu, nét, hình,… Điều này gợi mở cho HS chủ động lựa chọn yếu tố tạo hình mình yêu thích để trang trí một món đồ chơi cũ đã chuẩn bị từ trước theo cách vẽ, xé dán. Lúc này, GV quan sát và đưa ra những gợi ý cho từng HS, nhằm phát huy khả năng của từng cá nhân đối với những món đồ chơi cụ thể.
+ GV lưu ý 2 điểm chính
- Kế hoạch bài dạy
2.6. Lưu ý trong dạy học dạng bài sử dụng khái niệm
- Phân tích tình huống sư phạm và hướng giải quyết
Chủ đề 7. Hoa, quả
Quan sát: GV chuẩn bị những loại quả, hoa đặc trưng của địa phương theo mùa, hoặc giao cho mỗi nhóm HS chuẩn bị loại hoa, quả có sẵn ở vườn, nhà, và hôm học chủ đề này bày trên bàn (hoa cắm vào lọ và quả bày ra đĩa).
Ở những câu hỏi về hình dáng, màu sắc của hoa, quả, GV cần chuẩn bị những phương án trả lời phù hợp với đặc điểm bên ngoài của hoa, quả như: quả chôm chôm có râu, quả na có mắt,… và chỉ vào vật khi trao đổi với HS để tăng cường tính trực quan đối với hoạt động quan sát của HS.
Thể hiện: Khi HS thực hành, GV quan sát, gợi ý với từng trường hợp HS. Đối với HS khó khăn trong việc quan sát, liên tưởng đến hình dạng loại hoa, quả thì GV không làm thay mà có thể cho HS thực hiện lại hoạt động Quan sát như: mô tả hình dáng bên ngoài, màu sắc của loại quả/ hoa mà mình cần thể hiện.
Như vậy, qua 2 hoạt động này, HS có hiểu biết và bước đầu hình thành được ý thức về hoa, quả có nhiều hình dáng và màu sắc. Trong mĩ thuật, hoa/ quả có nhiều cách thể hiện. Trong chủ đề này, GV cần lưu ý mức độ hoàn thành bài thực hành của HS là Đạt và không đạt. Ở mức độ Đạt được thể hiện:
- Đại trà: HS nặn được một loại quả hoặc một loài hoa.
- Phân hóa: HS nặn được nhiều hơn một loại quả, một loài hoa.
- Năng khiếu: HS nặn được một mâm quả, hay một lọ có nhiều bông hoa theo ý thích.
Thảo luận: GV căn cứ theo các câu hỏi gợi ý trong SGK Mĩ thuật 1 để giúp HS củng cố kiến thức đã học về yếu tố tạo hình, cách thể hiện hoa, quả bằng đất nặn, cũng như thể hiện quan điểm của bản thân về sản phẩm mĩ thuật của các bạn khác trong nhóm/ lớp.
Vận dụng: GV căn cứ theo nội dung ở phần tham khảo để giới thiệu cho HS các bước bày một mâm quả, trong đó chú ý đến việc sắp xếp các quả to, nhỏ có chủ đích,…
Về cơ bản, mục tiêu của hoạt động: Thảo luận là củng cố kiến thức, kĩ năng đã học và hoạt động: Vận dụng là sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết những vấn đề của cuộc sống liên quan đến môn học. Do đó, hoạt động: Vận dụng rất cần thiết và cần làm thực tế bởi thông qua hoạt động này giúp HS dần hình thành kĩ năng gắn kết tri thức đã học với cuộc sống một cách chắc chắn, hiệu quả nhất.
III. ĐỐI SÁNH CẤU TRÚC CHỦ ĐỀ/ BÀI HỌC TRONG �CÁC BỘ SGK MĨ THUẬT (TRƯỚC ĐÂY)
3.1. Cấu trúc chủ đề/ bài học SGK Mĩ thuật, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
Cấu trúc của mỗi chủ đề được thể hiện ở 4 mục chính:
Cấu trúc chủ đề/ bài học theo THÔNG TƯ 33 | Cấu trúc chủ đề/ bài học trong sách giáo khoa |
Mở đầu | Quan sát Hoạt động giúp học sinh có nhận thức ban đầu về nội dung chủ đề. |
Hình thành kiến thức mới | Thể hiện Hoạt động hình thành kiến thức, kĩ năng liên quan đến chủ đề. |
Luyện tập | Thảo luận Hoạt động giúp học sinh củng cố lại nội dung, yêu cầu cần đạt của chủ đề. |
Vận dụng | Vận dụng Học sinh sử dụng những kiến thức, kĩ năng trong chủ đề để giải quyết những vấn đề của cuộc sống liên quan đến môn học |
3.2. Cấu trúc chủ đề/ bài học SGK Mĩ thuật, bộ sách Chân trời sáng tạo (bản 1)
Cấu trúc của mỗi chủ đề được thể hiện ở 5 mục chính:
Cấu trúc chủ đề/ bài học theo THÔNG TƯ 33 | Cấu trúc chủ đề/ bài học trong SGK |
Lớp 1 (Bộ sách Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục) | |
Lớp 2 , lớp 3, lớp 4, lớp 5 (bộ sách Chân trời sáng tạo, bản 1) | |
Mở đầu | Khám phá: Huy động cảm xúc, kinh nghiệm, sự trải nghiệm để hướng tới nội dung bài học. |
Kiến thức mới | Kiến tạo kiến thức – kĩ năng: Hình thành kiến thức – kĩ năng mới trong bài học. |
Luyện tập | Luyện tập – sáng tạo: Luyện tập, thực hành, sáng tạo dựa trên kiến thức, kĩ năng vừa được học. |
Vận dụng | Phân tích – đánh giá: Giới thiệu, chia sẻ cảm nhận, giao tiếp, nhận xét, rút kinh nghiệm sau luyện tập, sáng tạo để hoàn chỉnh kiến thức, kĩ năng mới |
Vận dụng – phát triển: Vận dụng kiến thức, kĩ năng, sản phẩm vào thực tiễn cuộc sống và các hoạt động học tập tích hợp với mĩ thuật. | |
�
�
3.3. Cấu trúc chủ đề/ bài học SGK Mĩ thuật, bộ sách Chân trời sáng tạo (bản 2)
Cấu trúc của mỗi chủ đề được thể hiện ở 4 mục chính:
�
3.4. Cấu trúc chủ đề/ bài học SGK Mĩ thuật, bộ sách Cánh diều
Cấu trúc của mỗi chủ đề được thể hiện ở 3 mục chính:
Cấu trúc chủ đề/ bài học theo THÔNG TƯ 33 | Cấu trúc chủ đề/ bài học trong SGK |
Mở đầu | Giới thiệu bài: Nhằm gợi mở cho HS nội dung bài học. |
Kiến thức mới | Những điều mới mẻ: Là trọng tâm của bài học, nội dung các hoạt động là cụ thể hóa các yêu cầu cần đạt về năng lực mĩ thuật quy định trong chương trình: Hoạt động quan sát, nhận biết; Hoạt động thực hành, sáng tạo; Hoạt động cảm nhận, chia sẻ. |
Luyện tập | |
Vận dụng | Vận dụng: Gợi mở cho HS có thêm ý tưởng sáng tạo và ứng dụng bài học vào thực tiễn. |
Có thể thấy, mỗi bộ sách giáo khoa Mĩ thuật (trước đây) có những cách tiếp cận khác nhau trong xây dựng cấu trúc chủ đề/ bài học.
Do đó, tuyệt đối không được sử dụng cấu trúc chủ đề/ bài học ở bộ sách giáo khoa Mĩ thuật A để dạy sách giáo khoa hiện hành để đảm bảo tính logic, tương ứng giữa nội dung và tổ chức hoạt động phù hợp.
- Tùy vào điều kiện thực tế, GV có thể tổ chức trò chơi hoặc xây dựng cách dẫn dắt vào chủ đề.
- Quan sát: Hình ảnh một số cảnh đẹp, tác phẩm mĩ thuật 🡪 sản phẩm mĩ thuật 🡪 HS hình thành kĩ năng quan sát và khả năng liên tưởng. Ở phần này, GV có thể bổ sung thêm các hình ảnh ở địa phương để tăng sự hấp dẫn đối với HS.
IV. NHỮNG LƯU Ý TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRONG SGK MĨ THUẬT
Hoạt động Quan sát
Trong phần thường thức, phân tích tác phẩm/ sản phẩm mĩ thuật, GV chú ý lưu ý HS cách sử dụng yếu tố tạo hình, sắp xếp để xây dựng bố cục cho thuận mắt.
Hoạt động Thể hiện
- Tham khảo sản phẩm mẫu 🡪 nhận biết thêm về cách tạo hình sản phẩm, cách thể hiện nội dung thông qua hình ảnh và màu sắc trong từng sản phẩm.
- Tổ chức cho HS thể hiện được một sản phẩm mĩ thuật về chủ đề bằng hình thức yêu thích.
Tùy vào tình hình thực tế GV có thể tổ chức cho HS thực hành cá nhân hoặc thực hành theo nhóm (nhóm 2 hoặc nhóm 4…).
Hoạt động Thảo luận
Hoạt động Vận dụng
- GV căn cứ nội dung phần Tham khảo để gợi ý cách làm một SPMT dạng 2D hoặc 3D thể hiện theo định hướng chủ đề liên quan;
- GV quan sát và đưa gợi ý cụ thể cho từng HS;
- Tùy điều kiện và thời gian HS thực hành, GV cho HS trưng bày SPMT, giới thiệu sản phẩm đã hoàn thiện.
Như vậy:
- Hoạt động Quan sát và Thể hiện giúp học sinh chuyển hóa kiến thức, kĩ năng vào trí óc của học sinh nên giáo viên thông qua các hoạt động trao đổi, khám phá, thực hành để giúp học sinh đạt được mục tiêu, sản phẩm cụ thể của hoạt động.
- Hoạt động Thảo luận và Vận dụng giúp giáo viên kiểm tra được những kiến thức, học sinh đã biết có hiểu đúng bản chất không, qua đó vận dụng vào xử lý những vấn đề liên quan đến chủ đề, theo hình thức thực hành khác ở hoạt động Thể hiện.
Theo đó, GV nên dành nhiều thời gian cho các hoạt động thực hành ở Thể hiện hay Vận dụng để HS có thể hoàn thành SPMT đáp ứng của yêu cầu bài học.
Việc đánh giá thực hiện theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT: đánh giá phẩm chất và năng lực người học (hình thức, tổ chức, sử dụng kết quả đánh giá)
V. NHỮNG LƯU Ý TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
- Đánh giá thường xuyên:
+ Hình thức: diễn ra trong suốt quá trình học: nội dung học, tìm hiểu kiến thức mới, thực hành, vận dụng…
+ Cách thức đánh giá: Sử dụng câu hỏi, yêu cầu HS trình bày, mô tả, thực hiện thao tác…; quan tâm câu hỏi so sánh, phân loại, phát hiện… theo các hình thức; dựa vào kết quả bài thực hành sau mỗi chủ đề; GV đánh giá HS; HS đánh giá lẫn nhau; HS tự đánh giá.
- Đánh giá định kì môn học: giữa và cuối mỗi kì học, theo 3 mức độ: Hoàn thành tốt – Hoàn thành – Chưa hoàn thành (T, H, C).
+ Đánh giá định kì về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực và tổng hợp đánh giá kết quả giáo dục do giáo viên chủ nhiệm thực hiện dựa trên các kết quả đánh giá định kì của tất cả các môn học trong đó có môn Mĩ thuật.
Một số gợi ý về hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Đánh giá năng lực tự chủ, tự học
Năng lực Tự chủ và Tự học trong môn Mỹ thuật không chỉ là việc học sinh tự thực hành sản phẩm mĩ thuật mà là khả năng các em biết mình muốn làm gì, cần chuẩn bị gì và tự giải quyết vấn đề trong quá trình sáng tạo. Đặc biệt với các tiết Mĩ thuật ứng dụng (làm đồ dùng từ vật liệu sẵn có), năng lực này thể hiện rất rõ qua khâu chuẩn bị và xử lý tình huống.
Chỉ số hành vi | Biểu hiện cụ thể |
Tính chủ động chuẩn bị | Tự giác sưu tầm vật liệu tái chế (vỏ hộp, chai lọ) từ trước tiết học mà không cần nhắc nhở nhiều lần. |
Khả năng tự định hướng | Biết tự chọn ý tưởng (mình sẽ làm ống bút hay hộp đựng phấn) và lựa chọn vật liệu phù hợp với ý tưởng đó. |
Kỹ năng tự giải quyết vấn đề | Khi gặp khó khăn (keo không dính, cắt sai), học sinh tự tìm cách sửa hoặc hỏi bạn thay vì ngồi chờ giáo viên làm hộ. |
Quản lý thời gian và không gian | Hoàn thành sản phẩm đúng giờ và tự giác dọn dẹp vệ sinh khu vực thực hành của mình. |
Các tiêu chí đánh giá cốt lõi
Bảng tham khảo tiêu chí đánh giá năng lực tự chủ, tự học
Tiêu chí | Mức độ 3 (Tự chủ tốt) | Mức độ 2 (Có nỗ lực) | Mức độ 1 (Cần hỗ trợ) |
Chuẩn bị | Mang đầy đủ vật liệu, thậm chí mang dư để chia sẻ cho bạn. | Có chuẩn bị nhưng còn thiếu một vài dụng cụ (kéo, hồ). | Không chuẩn bị, hoàn toàn phụ thuộc vào đồ dùng của lớp/bạn. |
Thực hiện | Tự tin thực hiện các bước, biết tự điều chỉnh khi làm sai. | Làm theo mẫu, cần giáo viên nhắc nhở mới tiếp tục thực hiện. | Thụ động, đợi giáo viên cầm tay chỉ việc. |
Hoàn thiện | Tự giác thu dọn rác, sắp xếp đồ dùng gọn gàng sau khi làm. | Có thu dọn nhưng phải nhắc nhở mới thực hiện xong. | Để rác bừa bãi, không có ý |
- Đánh giá năng lực quan sát và nhận thức thẩm mĩ
Năng lực Quan sát và Nhận thức thẩm mĩ là bước đầu tiên và quan trọng trong môn Mĩ thuật. Nó giống như việc xây dựng “đôi mắt nghệ thuật” cho học sinh khi biết nhìn ra vẻ đẹp từ thế giới xung quanh và hiểu được các ngôn ngữ của nghệ thuật.
Để đánh giá năng lực này một cách hiệu quả, giáo viên cần thông qua các hoạt động tương tác thực tế. Trong đó lưu ý:
+ Các tiêu chí đánh giá cốt lõi
Tiêu chí | Mức độ: Hoàn thành tốt | Mức độ: Hoàn thành | Mức độ: Cần cố gắng |
Nhận diện yếu tố | Nhận ra nhanh và gọi tên chính xác các màu sắc, hình khối, chất liệu. | Nhận ra được các yếu tố cơ bản khi được giáo viên gợi ý. | Chỉ nhận ra được những màu sắc hoặc hình dáng quá nổi bật. |
Sự tập trung quan sát | Quan sát tỉ mỉ, phát hiện ra các chi tiết nhỏ, thú vị mà người khác ít thấy. | Quan sát được các đặc điểm tổng thể của đối tượng. | Hay xao nhãng, chỉ quan sát hời hợt bên ngoài. |
Kết nối thực tế | Biết liên hệ hình dáng vật thật với ý tưởng làm sản phẩm (Vỏ hộp này giống cái nhà). | Biết vật thật có thể dùng làm đồ dùng học tập. | Chưa thấy được mối liên hệ giữa vật thật và bài học. |
+ Giáo viên có thể tham khảo bảng này trong quá trình đánh giá:
- Đánh giá năng lực sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ
Năng lực Sáng tạo và Ứng dụng thẩm mĩ được xem là “linh hồn” của môn Mĩ thuật theo định hướng mới. Khác với năng lực phân tích (thiên về tư duy), năng lực này tập trung vào khả năng thực hành, giải quyết vấn đề và biến ý tưởng thành sản phẩm thực tế. Dưới đây là các gợi ý cụ thể để giáo viên đánh giá năng lực này một cách công bằng và khuyến khích được sự đột phá của học sinh:
Thứ nhất, giáo viên có thể xây dựng bảng đánh giá dựa trên 3 trụ cột sau:
+ Tính mới (Sáng tạo): Học sinh có thay đổi hình dáng mẫu không? Có kết hợp các vật liệu khác nhau không? Có cách sử dụng màu sắc độc đáo không?
+ Tính hữu dụng (Ứng dụng): Sản phẩm có thực hiện được chức năng như dự kiến không? (Ví dụ: Ống cắm bút có đứng vững không? Có đủ sâu để đựng thước không?).
+ Tính thẩm mĩ trong ứng dụng: Cách trang trí có làm tăng giá trị sản phẩm không? Màu sắc, họa tiết có hài hòa với hình khối của vật dụng không?
Thứ hai, đối với sáng tạo, quá trình quan trọng hơn kết quả. Giáo viên không nên chỉ nhìn sản phẩm cuối cùng mà cần quan sát:
+ Khả năng thích ứng với vật liệu: Khi thiếu một vật liệu nào đó, học sinh có biết tìm vật liệu khác thay thế không? (Đây chính là biểu hiện cao của tư duy sáng tạo).
+ Sự kiên trì và điều chỉnh: Khi sản phẩm bị hỏng hoặc không như ý (ví dụ: keo không dính), học sinh có tìm cách sửa chữa hay bỏ cuộc?
+ Ghi chép ý tưởng: Đánh giá các bản vẽ phác thảo, những dòng nháp ý tưởng trước khi thực hành.
Thứ ba, sử dụng thang đo mức độ.
Mức độ | Tiêu chí Sáng tạo | Tiêu chí Ứng dụng |
Sáng tạo đột phá | Tạo ra hình dáng hoàn toàn mới; kết hợp vật liệu thông minh, bất ngờ. | Sản phẩm bền, đẹp, sử dụng tiện lợi và có thể dùng cho nhiều mục đích. |
Sáng tạo cơ bản | Biết thay đổi một vài chi tiết so với mẫu; sử dụng màu sắc có ý đồ riêng. | Sản phẩm sử dụng được nhưng còn một vài lỗi nhỏ (hơi lỏng lẻo, hơi khó cầm). |
Mô phỏng (Chưa sáng tạo) | Làm y hệt mẫu của giáo viên hoặc bạn bè, chưa có dấu ấn cá nhân. | Sản phẩm chỉ mang tính trưng bày, chưa đảm bảo được chức năng sử dụng. |
Thứ tư, một số lưu ý trong đánh giá “sự sáng tạo”
+ Chấp nhận sự “khác biệt”: Đôi khi sản phẩm mĩ thuật của học sinh trông rất “lạ”, thậm chí không đẹp mắt theo tiêu chuẩn truyền thống. Hãy hỏi các em về ý tưởng đằng sau trước khi đánh giá.
+ Không nên đánh giá dựa trên sự khéo tay: Một em học sinh không khéo tay nhưng có ý tưởng tái chế vỏ hộp thành một con robot đựng rác thông minh vẫn xứng đáng nhận điểm sáng tạo cao hơn một sản phẩm đẹp nhưng chép lại hoàn toàn mẫu.
+ Nên đánh giá cao những học sinh dám thử nghiệm các kỹ thuật mới, dù kết quả có thể chưa hoàn hảo.
- Đánh giá năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ.
Các tiêu chí đánh giá cụ thể:
Để đánh giá năng lực này, giáo viên cần dựa trên 3 mức độ biểu hiện:
Mức độ | Biểu hiện cụ thể |
Nhận biết | Chỉ ra được các yếu tố tạo hình (màu sắc, hình khối, đường nét) có trong tác phẩm/sản phẩm. |
Phân tích | Giải thích được cách sắp xếp các yếu tố đó (ví dụ: Tại sao tác giả dùng màu nóng? Sự tương phản tạo ra cảm giác gì?). |
Đánh giá | Nêu được cảm nhận cá nhân, ý nghĩa của sản phẩm và đưa ra lời khuyên để sản phẩm hoàn thiện hơn. |
Một số phương pháp đánh giá
- Phương pháp “Phê bình đa chiều”
Thay vì giáo viên là người duy nhất nhận xét, hãy tổ chức cho học sinh tham gia vào quá trình này:
+ Tự đánh giá: Học sinh tự viết hoặc nói về sản phẩm của mình: "Em đã sử dụng những vật liệu gì?", "Phần nào em ưng ý nhất?".
+ Đánh giá đồng đẳng: Học sinh nhận xét bài của bạn theo công thức "2 khen + 1 góp ý". Điều này giúp các em học cách quan sát và dùng từ ngữ chuyên môn một cách nhẹ nhàng.
- Phương pháp “Hồ sơ học tập”
+ Yêu cầu học sinh lưu giữ các bản phác thảo, các sản phẩm từ đầu học kỳ đến cuối học kỳ.
+ Giáo viên nhìn vào sự tiến bộ của học sinh trong cách sử dụng màu sắc và cách các em giải thích về sự thay đổi của mình qua thời gian. Đây là minh chứng rõ nhất cho sự phát triển năng lực thẩm mĩ.
VI. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG NGUỒN TÀI NGUYÊN SÁCH VÀ CÁC HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ CỦA NXB GIÁO DỤC VIỆT NAM
- Học liệu bổ trợ
+ Sách bổ trợ: Sách giáo viên, Vở bài tập Mĩ thuật 1,…
+ Nguồn học liệu điện tử: tài liệu dạy học, tập huấn GV, video clip tiết dạy minh hoạ, SGV, SHS được đăng tải trên nền tảng tập huấn của NXB Giáo dục Việt Nam, với sứ mệnh mở ra kho tri thức rộng lớn và hỗ trợ cho việc học tập trực tuyến.
Diễn đàn: Là nơi luôn thực hiện tốt chức năng: chia sẻ, giải đáp và hỗ trợ trực tuyến, đồng hành cùng giáo viên trong suốt quá trình dạy học.
- HD khai thác và sử dụng
+ Tập huấn: nền tảng trực tuyến: taphuan.nxbgd.vn
+ HD sử dụng nguồn tài nguyên học liệu điện tử
Hệ tài nguyên của bộ sách
Các thầy cô có thể tham khảo kế hoạch dạy học, kế hoạch bài dạy (giáo án) [theo công văn 2345), giáo án điện tử, hình/ video clip liên quan đến bài dạy, video clip tiết dạy minh họa của lớp 1, 2, 3, 4, 5 trên nền tảng https://taphuan.nxbgd.vn/ hoặc diễn đàn của bộ sách https://www.facebook.com/groups/2346030642373633
I. DẠY HỌC MĨ THUẬT TÍCH HỢP, LỒNG GHÉP VỚI GIÁO DỤC STEAM
Phần 2. NỘI DUNG KHÁC
Năm 2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo có công văn 909/BGDĐT-GDTH hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục STEM trong cấp Tiểu học, tập trung vào phương pháp dạy học tích hợp để học sinh phát triển kiến thức, kỹ năng Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học, giải quyết vấn đề thực tế. Công văn cũng khuyến khích tích hợp thêm yếu tố Nghệ thuật và Nhân văn (STEAM) để nâng cao hiệu quả giáo dục và thúc đẩy sáng tạo ở học sinh.
Tháng 8.2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo có công văn 4567/BGDĐT-GDPT hướng dẫn tổ chức dạy học 2 buổi/ngày đối với giáo dục phổ thông năm học 2025-2026. Theo đó, buổi học thứ hai không phải là để dạy trước chương trình chính khóa mà nhằm mục đích:
- Củng cố kiến thức: Giúp học sinh nắm vững hơn các nội dung đã học ở buổi thứ nhất.
- Phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi: Hỗ trợ cá nhân hóa, giúp các em học sinh khác nhau cùng tiến bộ.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm, phát triển năng lực: Tập trung vào kỹ năng sống, giáo dục STEM/STEAM, nghệ thuật, thể chất và các hoạt động ngoại khóa khác.
STEM/STEAM LÀ GÌ?
Một số khái niệm về giáo dục STEM
Các hình thức giáo dục STEM theo công văn 909 đối với cấp Tiểu học
Đặc điểm các lĩnh vực trong giáo dục STEAM
Do đó, giáo dục STEAM bản chất vẫn là giáo dục STEM nhưng phát huy yếu tố sáng tạo, nghệ thuật, nhân văn trong giải quyết vấn đề
Bảng so sánh giữa hai mô hình giáo dục
Tiêu chí | Mô hình STEM | Mô hình STEAM |
Viết tắt của | Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật), Math (Toán học). | Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật), Art (Nghệ thuật), Math (Toán học). |
Thành phần cốt lõi | Tập trung vào 4 lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học. | Bao gồm 5 lĩnh vực: STEM và bổ sung thêm Art (Nghệ thuật). |
Trọng tâm | Tập trung vào tư duy logic, phân tích, giải quyết vấn đề một cách khoa học và hệ thống. | Nhấn mạnh vào sự sáng tạo, thẩm mỹ, tư duy đa chiều và tính nhân văn (kết hợp tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học). |
Mục tiêu chính | Chuẩn bị học sinh cho các công việc liên quan đến khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học trong tương lai. | Giúp học sinh trở thành những người sáng tạo, có khả năng giải quyết vấn đề phức tạp một cách khéo léo, mềm dẻo và có tính thẩm mỹ. |
Yếu tố Nghệ thuật (Art) | Không phải là trọng tâm chính, thường chỉ là phần phụ trợ (nếu có). | Yếu tố cốt lõi, bao gồm nghệ thuật thiết kế, mỹ thuật, âm nhạc, nghệ thuật kỹ thuật số... |
Sản phẩm đầu ra | Thường nhấn mạnh vào tính khả thi, chức năng và hiệu quả kỹ thuật của sản phẩm/giải pháp. | Nhấn mạnh vào sản phẩm/giải pháp vừa khả thi, vừa có tính thẩm mỹ và lấy con người làm trung tâm. |
HIỂU STEAM NHƯ THẾ NÀO ĐỂ TỔ CHỨC �HOẠT ĐỘNG TRONG NHÀ TRƯỜNG?
Việc nhận thức STEAM theo phương diện phương pháp hay nội dung giáo dục là điều kiện tiên quyết để hiểu đúng và áp dụng hiệu quả mô hình này.
Về cơ bản, sự khác biệt nằm ở câu hỏi "dạy như thế nào?" (phương pháp) và "dạy cái gì?" (nội dung).
Bảng tóm tắt sự khác biệt
Tiêu chí | Tiếp cận STEAM như một phương pháp giáo dục | Tiếp cận STEAM như một nội dung giáo dục |
Trọng tâm | Cách thức tổ chức việc dạy và học. | Những gì được dạy và học. |
Bản chất | Một triết lý, một cách tiếp cận liên ngành, tích hợp. | Tập hợp kiến thức, khái niệm, kỹ năng của 5 lĩnh vực cụ thể. |
Câu hỏi cốt lõi | Dạy và học như thế nào để hiệu quả? | Dạy và học cái gì? |
Mục tiêu chính | Phát triển các kỹ năng (tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác) và năng lực giải quyết vấn đề. | Cung cấp kiến thức nền tảng và chuyên sâu trong các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Nghệ thuật, Toán học. |
Biểu hiện trong lớp học | Các hoạt động học tập dựa trên dự án, làm việc nhóm, trải nghiệm thực tế, thảo luận và trình bày. | Các bài học cụ thể liên quan đến nội dung khoa học, ứng dụng công nghệ, quy trình thiết kế kỹ thuật, kỹ thuật thực hành sản phẩm mĩ thuật, kiến thức toán,... |
Lưu ý trong dạy tích hợp, lồng ghép STEAM trong môn Mĩ thuật
Minh họa Kế hoạch bài dạy có tích hợp giáo dục STEAM có trên diễn đàn, các thầy cô có thể tham khảo.
Và quan trọng là việc dạy tích hợp, lồng ghép không gây áp lực cho học sinh, giáo viên và phụ huynh: Chủ đề STEAM không nên trở thành gánh nặng về học thuật hay thi đua. Mục tiêu là tạo cơ hội trải nghiệm, phát triển và thể hiện, không đặt nặng hình thức hay kết quả hoàn hảo. Phụ huynh không cần chuẩn bị công phu hoặc can thiệp sâu vào sản phẩm của học sinh.
Thực hành làm sản phẩm mĩ thuật bông hoa từ giấy vệ sinh. Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=W-IWkMyyrl4
Phân tích một ví dụ để thấy rõ hơn yếu tố STEAM trong phần thực hành, sáng tạo sản phẩm mĩ thuật
Thực hành làm sản phẩm mĩ thuật bông hoa từ giấy vệ sinh kết hợp hoạt động STEAM.
Nguồn:https://www.youtube.com/watch?v=yAj7Qcv3mLw
Để tích hợp thành công, giáo viên cần nhìn nhận STEAM như những "mảnh ghép" bổ trợ cho bài dạy:
- S (Science - Khoa học): Là sự hiểu biết về thế giới tự nhiên, cấu trúc sự vật, nguyên lí ánh sáng, màu sắc hoặc đặc tính lí hóa của vật liệu (ví dụ: tại sao màu nước lại loang, tại sao đất nặn lại dẻo).
- T (Technology - Công nghệ): Không chỉ là máy tính. Đó là việc sử dụng công cụ (kéo, súng bắn keo, thước kẻ) hoặc các kĩ thuật thực hiện (gấp giấy, cắt dán, kĩ thuật in).
- E (Engineering - Kĩ thuật): Là qui trình giải quyết vấn đề. Học sinh lắp ghép, tạo hình sao cho sản phẩm đứng vững, cân đối và chắc chắn.
- A (Art - Nghệ thuật): Đây là "trái tim" của môn học, tập trung vào thẩm mĩ, cảm xúc và sự sáng tạo.
- M (Mathematics - Toán học): Là sự đo lường, tỉ lệ, hình khối, sự đối xứng và nhịp điệu trong bố cục.
Phân tích một ví dụ thực tế từ Chủ đề "Sự thú vị của nét" (SGK Mĩ thuật lớp 2) để làm rõ hơn.
Ở chủ đề này, sẽ nhiều người tự hỏi: Chỉ là những đường nét đơn giản, làm sao đưa "Kĩ thuật" hay "Khoa học" vào? Vậy, chúng ta hãy thử tiếp cận theo cách sau:
- S (Khoa học): Học sinh quan sát các loại nét trong tự nhiên (vân gỗ, đường gân lá, vết rạn trên mặt đất). Giải thích sự đang dạng của nét như: nét cong, nét thẳng,...
- T (Công nghệ): Trải nghiệm tạo nét bằng nhiều công cụ khác nhau: đầu bút chì, cạnh thước kẻ, hay thậm chí dùng ống hút thổi màu để tạo nét ngẫu nhiên.
- E (Kĩ thuật): Thử thách học sinh dùng các sợi dây (len, kẽm nhung) để tạo ra các "nét" trong không gian 3 chiều. Làm thế nào để sợi dây đứng được hoặc uốn lượn theo ý muốn?
- M (Toán học): Học sinh nhận diện nét thẳng đứng, nét ngang, nét xiên; so sánh độ dài ngắn, dày mỏng của các nét để tạo nhịp điệu cho bức tranh.
Như vậy, từ một chủ đề thuần túy về yếu tố tạo hình, chúng ta đã biến nó thành một trải nghiệm khám phá đa chiều và có thể dạy tích hợp STEAM hiệu quả.
II. DẠY HỌC MĨ THUẬT TÍCH HỢP, LỒNG GHÉP VỚI
NĂNG LỰC SỐ
Năng lực số trong môn Mĩ thuật ở cấp Tiểu học được hiểu là khả năng của học sinh trong việc:
- Tiếp cận và khai thác: Biết tìm kiếm hình ảnh, tư liệu mĩ thuật trên internet (dưới sự hướng dẫn).
- Sáng tạo nội dung: Sử dụng các công cụ kĩ thuật số cơ bản để vẽ, thiết kế hoặc chỉnh sửa hình ảnh (trong điều kiện cho phép).
- Giao tiếp và chia sẻ: Biết cách trưng bày, giới thiệu sản phẩm của mình qua các nền tảng số (trình chiếu, gửi ảnh bài vẽ).
- Ứng xử văn hóa số: Bước đầu hình thành ý thức về bản quyền và hành vi văn minh trên môi trường mạng.
Để cụ thể hóa, năng lực số trong Mĩ thuật bao gồm 3 nhóm chính:�- Kỹ năng sử dụng công cụ: Sử dụng chuột, màn hình cảm ứng để vẽ.�- Thao tác với các lệnh: chọn màu, chọn cọ vẽ, tẩy, đổ màu, lưu bài.�- Kĩ năng tư duy thẩm mĩ số:�+ Hiểu về sự khác biệt giữa màu sắc hiển thị trên màn hình và màu vẽ tay.�+ Sắp xếp bố cục trong không gian đồ họa 2D ở mức độ đơn giản.�+ Kĩ năng an toàn và đạo đức: Không tự ý tải hoặc sử dụng hình ảnh của người khác khi chưa được phép (ý thức ban đầu về bản quyền).
Tuy nhiên, ở cấp Tiểu học, năng lực số không thay thế cách thể hiện sản phẩm mĩ thuật theo lối truyền thống (vẽ, nặn, xé- dán, làm mô hình,...), bởi về cơ bản, việc phát triển năng lực mĩ thuật ở cấp Tiểu học hướng đến việc học sinh có được đôi mắt tinh tường và sự khéo léo của đôi bàn tay, nhưng năng lực số góp phần đóng vai trò hỗ trợ như:�- Mở rộng không gian trải nghiệm: Học sinh có thể tham quan bảo tàng ảo, xem các tác phẩm nổi tiếng thế giới mà không cần di chuyển.�- Kích thích sáng tạo: Công nghệ cho phép học sinh thử nghiệm màu sắc và hình khối nhanh chóng, dễ dàng sửa sai, từ đó tự tin hơn trong sáng tạo.�- Lưu trữ, theo dõi: Giúp tạo ra các "Hồ sơ điện tử" để theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua từng tháng/ năm học.
Nội dung tổ chức hoạt động cụ thể, thầy cô có thể tham khảo bài viết trên diễn đàn.
III. DẠY HỌC MĨ THUẬT TÍCH HỢP, LỒNG GHÉP VỚI AI
Việc tích hợp AI vào môn Mĩ thuật ở giai đoạn giáo dục cơ bản được xem như một cách tiếp cận mới với nghệ thuật cho học sinh, phù hợp với xu thế tất yếu nhưng vẫn giữ vững giá trị của các kĩ năng như vẽ tay, nặn, cắt dán,làm mô hình,… vì đó là nền tảng của tư duy thẩm mĩ. Khi tổ chức, giáo viên lưu ý:
- Hãy để các em phác thảo ý tưởng ra giấy trước khi thực hành trên máy tính.
- Nếu điều kiện thiết bị hạn chế, hãy chia nhóm 4-5 em cùng thảo luận để đưa ra một câu lệnh (prompt) chung, giúp tăng tính tương tác trong nhóm.
- Hãy lưu lại các sản phẩm và trình chiếu cho phụ huynh, học sinh xem để lan tỏa sự hấp dẫn của môn Mĩ thuật trong bối cảnh hiện nay.
Ở cấp Tiểu học, căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất, thầy cô có thể tổ chức những hoạt động như:
Hoạt động này giúp học sinh hiểu về sự tương tác giữa người và máy, đồng thời rèn luyện kĩ năng sử dụng chuột hoặc bút cảm ứng.
+ Phần mềm sử dụng: AutoDraw (của Google).
+ Học sinh vẽ những nét phác thảo cơ bản nhất. Sau đó, công cụ AI sẽ đoán ý định và đưa ra các biểu tượng (icons) chuyên nghiệp ở thanh menu phía trên. Học sinh chọn hình vẽ mình ưng ý nhất và tiếp tục tô màu, sắp xếp bố cục trên màn hình.
+ Thông qua hoạt động này giúp một số học sinh còn nhút nhát trở nên tự tin hơn trong việc tạo hình.
Hoạt động này giúp học sinh hiểu về việc xử lý dữ liệu hiệu quả của AI.
Học sinh vẽ một vật dụng trong khoảng 20 giây và AI sẽ đoán xem đó là gì.
Sau trò chơi, giáo viên đặt câu hỏi: "Tại sao AI lại biết đây là vật dụng em định vẽ dù chúng ta vẽ rất nhanh?".
Giải thích: AI đã có dữ liệu của rất nhiều hình ảnh liên quan trước đó nên nó nhận ra các đặc điểm chung.
Thông qua hoạt động này giúp học sinh phát triển tư duy quan sát các đặc điểm đặc trưng (hình dáng, đường nét) của sự vật.
Học sinh viết 1-2 câu miêu tả về một sự vật, hiện tượng (hiện thực, tưởng tưởng,..)
Giáo viên/ học sinh nhập câu lệnh này vào AI để xuất ra bức tranh.
Trên cơ sở hình ảnh gợi ý, học sinh tự tay vẽ lại bức tranh trong đó điều chỉnh, bổ sung những chi tiết mà AI chưa làm đúng ý mình.
Thông qua hoạt động này, học sinh hiểu rằng AI có thể hỗ trợ ý tưởng, nhưng sự sáng tạo cuối cùng vẫn thuộc về mỗi cá nhân.
- Chuyển thể hình ảnh động
Học sinh vẽ một nhân vật trên giấy trắng (có đủ tay, chân, đầu), sau đó chụp ảnh bức vẽ và tải lên công cụ Animated Drawings (của Meta AI).
AI sẽ tự động tách nền và tạo bộ khung cho nhân vật. Học sinh có thể chọn các hành động như: chạy, nhảy, nhảy múa cho nhân vật của mình.
Thông qua hoạt động này giúp tạo ra sự hào hứng, giúp các em yêu thích việc vẽ tay truyền thống vì biết rằng nó có thể kết hợp với công nghệ để tạo ra hình ảnh động.
*
Như vậy, sau 6 năm triển khai Chương trình GDPT 2018 và năm đầu tiên cả nước sử dụng một bộ sách giáo khoa nên việc việc dạy và học mĩ thuật có thành công trong nhà trường vào cuối năm học tới phụ thuộc rất nhiều vào các quý thầy cô ngày hôm nay.
Trong quá trình dạy học, mọi vướng mắc, ý kiến cần trao đổi xin trao đổi qua diễn đàn để được nhóm tác giả hỗ trợ, giải đáp kịp thời.