PHIẾU 1: SECONDARY SCHOOL TEACHERS' PERCEPTION OF TASK-BASED LANGUAGE TEACHING

Để nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Anh ở THPT, đáp ứng nhu cầu của xã hội, xin Anh/Chị cho biết ý kiến của mình về Phương pháp dạy học Dựa vào nhiệm vụ (Task-Based Language Teaching). Mọi ý kiến của Anh/Chị sẽ được sử dụng duy nhất vào mục đích nghiên cứu và được hoàn toàn giữ bí mật. Chân thành cảm ơn sự hợp tác của Anh/Chị!

    Mục đích:

    Mục đích của bảng hỏi này là tìm hiểu nhận thức của giáo viên THPT về phương pháp dạy học Dựa vào nhiệm vụ (Task-Based Language Teaching). Tất cả giáo viên sẽ có cơ hội tham gia vào khảo sát với những lưu ý sau đây: • Câu trả lời cẩn thận và trung thực rất quan trọng. • Không có câu trả lời nào được coi là "đúng" hay "sai".

    Cấu trúc và Thời gian:

    Cảm ơn bạn đã dành thời gian và những hiểu biết của mình tham gia khảo sát này! Bảng hỏi này bao gồm 3 phần chính: (1) Phần thông tin nền, (2) ý kiến của giáo viên tiếng Anh THPT về phương pháp dạy học Dựa vào nhiệm vụ (Task-Based Language Teaching) theo thang 5 bậc, (3) Hiểu biết của cá nhân về phương pháp dạy học Dựa vào nhiệm vụ dưới dạng trả lời viết. Trong mỗi phần, định dạng là hoàn toàn thống nhất. Dự kiến bạn (người tham gia) sẽ hoàn thành cuộc điều tra này trong vòng 30 phút.

    Thỏa thuận:

    Sau khi hoàn tất cuộc điều tra này, tên của bạn sẽ được mã hóa với một mã số duy nhất và sẽ được loại bỏ nghiên cứu. Khi tham gia vào nghiên cứu này: • Bạn phải từ 18 tuổi trở lên. • Tên của bạn sẽ không được sử dụng trong hoặc sau khi nghiên cứu. • Bất kỳ thông tin cá nhân mà bạn cung cấp sẽ được giữ kín và chỉ các nhà nghiên cứu mới được biết. • Câu trả lời của bạn sẽ chỉ được sử dụng cho các mục đích của nghiên cứu này. • Nếu bạn có thắc mắc liên quan đến nghiên cứu này, bạn có thể liên hệ với nghiên cứu viên Nguyễn Việt Hùng (0972.862.865) • Nếu bạn có thắc mắc liên quan đến dự án nghiên cứu về biên soạn SGK THPT, bạn có thể liên hệ với GS. TS Hoàng Văn Vân (0946.296.999), Trưởng khoa Sau đại học - Đại học Quốc gia Hà Nội, Số 144, Xuân Thủy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam.

    Chỉ dẫn:

    - Trả lời tất cả các câu hỏi bắt buộc có kí hiệu "*" (dấu sao đỏ) trước khi nộp phiếu. - Bấm vào nút Submit sau khi đã hoàn tất khảo sát. - Khảo sát chỉ được hoàn tất khi trên màn hình hiện lên ô hình chữ nhật trong đó có nội dung: "Your response has been recorded".

    A. Phần 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI THAM GIA ĐIỀU TRA

    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question

    B. Phần 2: NHẬN THỨC VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰA VÀO NHIỆM VỤ (TASK-BASED LANGUAGE TEACHING) THEO MÔ HÌNH WILLIS

    Đề nghị Anh/Chị cho ý kiến đồng ý hay không đồng ý về những nhận định sau đây theo các mức độ lựa chọn: (1) Hoàn toàn không đồng ý – (2) Không đồng ý – (3) Đồng ý một phần – (4) Đồng ý – (5) Hoàn toàn đồng ý
    1.1. Psychological Behaviorist Theory (Lý thuyết Tâm lý hành vi)
    1.2. Psychological Cognitive Theory (Lý thuyết Tâm lý Nhận thức)
    1.3. Natural Approach Theory (Lý thuyết Đường hướng Tự nhiên)
    1.4. Linguistic Functional view of Constructivism Theory (Quan điểm Chức năng ngôn ngữ của Lý thuyết Kiến tạo)
    1.5. Linguistic Interactional view of Social Constructivism Theory (Quan điểm Tương tác ngôn ngữ của Lý thuyết Kiến tạo Xã hội)
    1.6. Educational Heuristic Theory (Lý thuyết Thực hành trong giáo dục học)
    1.7. Educational Learner-Centered Instructional Approach (Đường hướng Lấy người học làm trung tâm trong giáo dục học)
    1.8. Educational Learning-Centered Instructional Approach (Đường hướng Lấy quá trình học làm trung tâm trong giáo dục học)
    1.9. Educational Teacher-Centered Instructional Approach (Đường hướng Lấy giáo viên làm trung tâm trong giáo dục học)
    Please enter one response per row
    This is a required question
    2.1. TBLT là một mô hình dạy ngôn ngữ trong đó các nhiệm vụ học (tasks) và các kiến thức ngôn ngữ được hòa trộn
    2.2. Dạy học ngôn ngữ dựa vào nhiệm vụ dùng các nhiệm vụ sư phạm (pedagogical tasks), các nhiệm vụ này bắt nguồn từ các nhiệm vụ thực tế (real world tasks)
    2.3. Dạy học ngôn ngữ dựa vào nhiệm vụ đưa ra bối cảnh cho việc thực thi nhiệm vụ và sử dụng ngôn ngữ
    2.4. Nhiệm vụ học phải hướng đến các mục tiêu giao tiếp
    2.5. Nhiệm vụ học chủ yếu tập trung vào ý nghĩa
    2.6. Nhiệm vụ học phải xác định được đầu ra (outcome) rõ ràng
    2.7. Nhiệm vụ học là một hoạt động bất kì giúp người học sử dụng ngôn ngữ đích (target language)
    2.8. Nhiệm vụ có cách thức thực hiện và kết quả
    Please enter one response per row
    This is a required question
    3.1. TBLT tương thích nhiều nhất với các nguyên tắc của dạy học ngôn ngữ giao tiếp
    3.2. Nhiệm vụ là trung tâm của cả quá trình thiết kế hoạt động dạy học
    3.3. Việc học ngôn ngữ tập trung vào sử dụng ngữ liệu và đầu vào và sử dụng ngôn ngữ thực (authentic language)
    3.4. Nên đưa các ngôn bản thực vào giới thiệu trong các tình huống học tập bởi vì ngữ cảnh là một nguyên tắc căn bản
    3.5. Kiến thức đầu vào (Input or scaffolding), thường bằng các bài nghe và bài đọc, là điều kiện tiên quyết
    3.6. Lựa chọn nhiệm vụ và nội dung nhiệm vụ dựa trên nhu cầu của người học (Learners’ need) là nguyên tắc nổi bật
    3.7. TBLT coi kinh nghiệm riêng của mỗi cá nhân người học như các thành tố không thể thiếu đối với việc học trên lớp
    3.8. GV nên động viên người học chủ động sử dụng ngôn ngữ hơn là làm việc thụ động dựa vào GV
    3.9. Ngoại ngữ được học tốt nhất bằng cách sử dụng chính ngôn ngữ đó, được biết đến với nguyên tắc “learning by doing” theo phiên bản mạnh của Dạy học ngôn ngữ giao tiếp
    3.10. TBLT chỉ tập trung vào phát triển độ trôi chảy (fluency) trong giao tiếp và bỏ qua độ chính xác (accuracy)
    3.11. Người học tập trung vào ý nghĩa (focus on meaning ) khi thực hiện nhiệm vụ học
    3.12. Không nên tạo cơ hội cho việc tập trung vào học cấu trúc (focusing on form)
    3.13. Chiêm nghiệm (Reflection), là khi người học nghĩ lại và tái hiện xem họ đã học và làm những gì, là một nguyên tắc quan trọng
    3.14. Các phản hồi (Feedbacks) của giáo viên là nguyên tắc cần thiết
    3.15. Các nhiệm vụ học mới có thể được thiết kế dựa vào các nhiệm vụ cũ cùng chủ đề
    Please enter one response per row
    This is a required question
    4.1. Trong phương pháp TBLT, việc dạy học phải trải qua 3 bước: Trước (Pre-task), Trong (Task Stage/Cycle) và Sau nhiệm vụ (Post-task)
    4.2. Giai đoạn Pre-task là thời gian để GV giới thiệu chủ đề và thiết lập nhiệm vụ
    4.3. Giai đoạn Task Stage bao gồm Lập kế hoạch (Task Planning), Thực hiện (Task Doing ), và Báo cáo (Task Report)
    4.4. Giai đoạn Sau nhiệm vụ bao gồm Phân tích ngôn ngữ (Analysis) và Luyện tập sử dụng ngôn ngữ (Practice)
    4.5. Việc dạy học theo TBLT phải gắn với các nhiệm vụ sư phạm (pedagogical tasks)
    4.6. Các nhiệm vụ sư phạm bắt nguồn từ các nhiệm vụ học thực tế
    4.7. Người học thực sự học được các kiến thức và các mẫu ngôn ngữ được lồng vào các nhiệm vụ
    4.8. Ba khái niệm Task, Activity và Exercise có ý nghĩa như nhau
    4.9. TBLT chỉ quan tâm tới các kĩ năng nghe nói
    4.10. TBLT nhấn mạnh vào việc học giao tiếp thông qua tương tác bằng ngôn ngữ đích
    4.11. GV chỉ trợ giúp người học trong giai đoạn thực hiện nhiệm vụ (Task Stage) 
    4.12. Các nhiệm vụ học gắn người học với các tình huống có vấn đề như là các hoạt động có mục đích
    4.13. Các nhiệm vụ học trên lớp nên được kết nối một cách có hệ thống với những điều mà người học cần phải làm ngoài cuộc sống
    4.14. Các nhiệm vụ học khuyến khích người học tham gia thương lượng nghĩa thông qua các tương tác giao tiếp
    4.15. Các tình huống giải quyết vấn đề cần phải cao hơn trình độ hiện tại của người học một chút để tránh quá tải trong nhận thức
    4.16. Các quy tắc ngữ pháp và từ vựng không quan trọng và vì vậy không nên khuyến khích dạy
    4.17. GV không nên hỗ trợ người học khi họ gặp rắc rối; họ tự biết giúp mình
    Please enter one response per row
    This is a required question
    5.1. Ở giai đoạn Pre-Task, khi hướng dẫn về nhiệm vụ học, GV không cần giới thiệu chủ đề
    5.2. Ở giai đoạn Pre-Task, GV cần giới thiệu cho người học các ngữ liệu đầu vào
    5.3. Trong giai đoạn Pre-Task, GV yêu cầu người học quan sát việc làm mẫu về cách thức thực hiện nhiệm vụ
    5.4. Ở giai đoạn Pre-Task, GV nên gắn kết người học với các hoạt động phi nhiệm vụ được thiết kế để chuẩn bị cho việc thực hiện các nhiệm vụ
    5.5. Các hướng dẫn rõ ràng của GV về mục tiêu nhiệm vụ, cách thức tổ chức và đầu ra các nhiệm vụ là không cần thiết ở giai đoạn Pre-Task
    5.6. Ở giai đoạn Pre-Task, GV có thể thúc đẩy việc lập kế hoạch chiến lược cho việc thao tác nhiệm vụ ở giai đoạn chính
    5.7. Trong giai đoạn Task Stage, người học tham gia 1 cách chủ động vào việc thực hiện nhiệm vụ và giải quyết vấn đề
    5.8. Trong giai đoạn Task Stage, người học không cần hợp tác với nhau để lập kế hoạch cho việc báo cáo trước lớp
    5.9. Trong giai đoạn Task Stage, GV nên đóng vai trò Người khuyến khích và hỗ trợ (facilitator) trong khi học sinh thực hiện nhiệm vụ
    5.10. Trong khi người học thực hiện NV, GV nên tham gia hẳn vào 1 nhóm
    5.11. Sau khi thực hiện nhiệm vụ, đại diện của các nhóm trình bày trước lớp
    5.12. Sau khi người học báo cáo, GV cần cung cấp các phản hồi phù hợp cho các báo cáo của đại diện mỗi nhóm
    5.13. Ở giai đoạn Post-Task, GV không cần thiết phải kiểm tra xem các mục tiêu đề ra đã đạt được hay chưa
    5.14. Ở giai đoạn Post-Task, GV thường phân tích các mẫu và kiến thức ngôn ngữ
    5.15. Ở giai đoạn Post-Task, GV kiểm tra xem người học đã đạt được các kiến thức ngôn ngữ sau khi thực hành nhiệm vụ hay chưa
    5.16. Ở giai đoạn Post-Task, GV thường yêu cầu người học ôn lại các kiến thức ngôn ngữ chính
    5.17. Ở giai đoạn Post-Task, GV thường tổ chức các hoạt động luyện tập và củng cố các kiến thức ngôn ngữ
    5.18. Ở giai đoạn Post-Task, GV gợi ý cho các hoạt động luyện tập sâu hơn
    Please enter one response per row
    This is a required question
    6.1. TBLT khuyến khích GV sử dụng các hoạt động theo cặp
    6.2. TBLT khuyến khích GV sử dụng các hoạt động theo nhóm
    6.3. TBLT không khuyến khích GV yêu cầu người học thảo luận toàn lớp
    6.4. TBLT không khuyến khích GV yêu cầu người học làm việc một mình
    6.5. Trong phương pháp TBLT, tương tác trong lớp học chủ yếu tập trung vào GV
    6.6. Trong phương pháp TBLT, tương tác trong lớp học chủ yếu tập trung vào người học
    6.7. Trong phương pháp TBLT, giáo viên nên thiết lập đa dạng các loại tương tác giữa giáo viên và người học
    6.8. Trong phương pháp TBLT, GV nên điều khiển và quản lý thời gian
    6.9. Trong phương pháp TBLT, GV nên điều khiển và quản lý thông tin
    6.10. Trong phương pháp TBLT, GV nên cung cấp đầu vào và các kiến thức giá đỡ ở bất cứ giai đoạn nào người học cần
    6.11. Nhiệm vụ ghi liệt kê có thể được sử dụng trong phương pháp dạy học TBLT
    6.12. Nhiệm vụ khoảng trống thông tin có thể được sử dụng trong phương pháp dạy học TBLT
    6.13. Nhiệm vụ giải quyết vấn đề có thể được sử dụng trong phương pháp dạy học TBLT
    Please enter one response per row
    This is a required question

    C. Phần 3: VIẾT VỀ QUAN ĐIỂM CHUNG CỦA BẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰA VÀO NHIỆM VỤ

    (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu)
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question
    This is a required question

    Chân thành cảm ơn sự tham gia và những ý kiến đóng góp quý báu của Anh/Chị!

    Lưu ý:

    - Bấm vào nút Submit sau khi đã hoàn thành khảo sát. - Khảo sát chỉ được hoàn thành khi trên màn hình hiện lên ô hình chữ nhật trong đó có nội dung: "Your response has been recorded". - Nếu không thể Submit, hãy kiểm tra lại từng câu để chắc chắn không bỏ sót câu hỏi nào. Các câu hỏi bị sót sẽ bị bao quanh bởi viền màu đỏ. Hãy trả lời tất cả các câu hỏi trước khi Submit lại * Nếu chưa trả lời PHIẾU 2, hãy tham gia ngay sau khi Submit PHIẾU 1 này!