CỤC BẢO TRỢ XÃ HỘI

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

HỌC VIỆN THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM

TÀI LIỆU ĐÀO TẠO

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG THIÊN TAI VÀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH

Hà Nội, 2012


MỤC LỤC

Nội dung

Trang

Mục lục

1

Bảng chữ cái viết tắt

5

Chương trình khung chi tiết Mođul đào tạo

6

Bài I. Nhận diện các loại thiên tai và các loại hình thiên tai

21

I. Khái niệm thiên tai và các loại hình thiên tai

21

1. Các khái niệm cơ bản

21

2. Hiểm họa, thảm họa, thiên tai

27

II. Biến đổi khí hậu

28

1. Một số khái niệm liên quan

28

2. Biến đổi khí hậu

29

3. Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu

30

4. Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu

32

5.Chúng ta có thể làm gì để đối phó với BĐKH?

36

6. Tác động của biển đổi khí hậu với nhóm dễ bị tổn thương

39

III. Quản lý rủi ro thiên tai và nhiệm vụ của trẻ em

40

1.Lũ lụt

40

2. Áp thấp nhiệt đới, bão

42

3. Sạt lở đất

43

4. Hạn hán

44

5. Dông và sét

45

6. Lốc

45

7. Mưa đá

46

8. Động đất

46

Bài II: Một số kỹ năng trong quản lý rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu cho trẻ em

47

I. Kỹ năng lập bản đồ rủi ro

47

1. Khái niêm Bản đồ rủi ro:

47

2. Khái niệm Nguồn lực cộng đồng:

47

3.Các bước lập bản đồ rủi ro

47

4. Một số vấn đề cơ bản cho một cuộc phỏng vấn thu thập thông tin để vẽ bản đồ

50

5.Xây dựng chiến dịch truyền thông giáo dục giảm nhẹ thiên tai

53

II. Kỹ năng thoát hiểm

55

1. Khái niệm

55

2. Phương án thoát hiểm

55

III. Kỹ năng mặc áo phao

56

IV. Kỹ năng chuẩn bị dụng cụ khẩn cấp

57

1. Túi đựng dụng cụ khẩn cấp

57

2. Kỹ năng chuẩn bị túi đựng dụng cụ khẩn cấp

57

3.Gợi ý cho việc chuẩn bị túi đựng dụng cụ khẩn cấp

57

Bài III. Tổng quan về tai nạn thương tích ở trẻ em

59

I. Tai nạn thương tích là vấn đề sức khỏe cộng đồng và mang tính toàn cầu

59

1. Khái niệm

59

2. Tai nạn thương tích là vấn đề của y tế công cộng và mang tính toàn cầu

60

3. Phân loại tai nạn thương tích ở trẻ em

62

II. Tai nạn thương tích đối với trẻ em Việt Nam

63

1. Tình hình tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam

63

2. Nguyên nhân và hậu quả gây tai nạn thương tích trẻ em

65

3. Phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ em

70

Bài IV: Một số tai nạn thương tích thường xảy ra với trẻ em

77

I. Tai nạn giao thông và biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

77

1. Khái niệm chung và thực trạng của tai nạn giao thông đối với trẻ em.

77

2.Nguyên nhân và nguy cơ TNGT ở trẻ em                

79

3. Xử lý sơ cứu tai nạn giao thông trẻ em

83

4. Cách phòng tránh TNGT

85

5. Biện pháp

91

6. Tuyên truyền cách phòng tránh tai nạn giao thông khi đi bộ

92

II. Đuối nước và các biện pháp phòng tránh đuối nước đối với trẻ em

93

1. Đuối nước là gì

93

2. Nguyên nhân và nguy cơ gây đuối nước ở trẻ em

95

3. các biện pháp phòng tránh đuối nước ở trẻ em

97

III. Ngã và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

103

1. Khái niệm

103

2.Nguyên nhân

104

3. các biện pháp phòng tránh tai nạn ngã cho trẻ em

105

IV. Bỏng và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

112

1. Khái niệm

112

2. Một số nguyên nhân gây bỏng thường gặp và hậu quả của bỏng:

112

3. Các biện pháp phòng tránh bỏng cho trẻ em.

117

4. Xử trí khi trẻ bị bỏng.

119

V. Ngộ độc và phòng tránh ngộ độc cho trẻ em

123

1. Các biểu hiện ngoài của ngộ độc

123

2. Nguyên nhân gây ra ngộ độc ở trẻ em

124

3. Sơ cứu ban đầu

128

4. cách phòng tránh

132

VI. Động vật cắn, đốt và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

136

1. Một số vấn đề chung

136

2. Ong đốt

139

3. Rắn cắn

141

4. Chó cắn

143

5.Tuyên truyền giáo dục cách phòng tránh động vật cắn

147

VII. Ngạt, tắc đường thở và cách xửr lý đối với trẻ em

148

1. Khái niệm

148

2. Các dấu hiệu ngạt, tắc đường thở

148

3. Nguyên nhân gây tắc đường thở, cách xử trí khi phát hiện trẻ bị ngạt, tắc đường thở

149

VIII. tai nạn do các vật sắc nhọn và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

156

1. Khái niệm và các thực trạng tai nạn do các vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em.

157

2. Nguyên nhân và hậu quả gây tai nạn thương tích do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em.

157

3. Phát hiện những thương tổn và sơ cứu ban đầu

160

4. Các biện pháp phòng tránh tai nạn do vật sắc nhọn gây ra

163

IX. tai nạn do các trò chơi nguy hiểm và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

164

1. Những vấn đề chung

164

2. Tai nạn do các trò chơi nguy hiểm và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em.

166

3. Cách xử lý ta nạn do trò chơi nguy hiểm gây ra.

169

4. Các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích do các trò chơi nguy hiểm gây ra đối với trẻ em.

172

Bài V: CTXH với trẻ em bị ảnh hưởng thiên tai và tai nạn thương tích

174

I. CTXH các nhân với trẻ em bị ảnh hưởng thiên tai và TNTT

174

1. Khái niệm Công tác xã hội cá nhân

174

2. Các yếu tố cấu thành trong công tác xã hội cá nhân.

174

3. Khái niệm trẻ em, công tác xã hội cá nhân với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

175

4. Mục đích Công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

177

5. Các vai trò, chức năng của công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

177

II. Quy trình tiến hành CTXH cá nhân với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

180

1. Tiếp nhận đối tượng (thân chủ - trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích)

182

2. Nhận diện vấn đề.

184

3. Thu thập thông tin.

185

4. Đánh giá chẩn đoán.

187

5.  Lập kế hoạch giải quyết vấn đề (kế hoạch trị liệu).

189

6. Thực hiện kế hoạch (can thiệp/trị liệu).

190

III. Quy trình tiến hành CTXH nhóm với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

193

1. Khái niệm, mục đích của công tác xã hội nhóm.

193

2. Quy trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

195

IV. các chương trình, dịch vụ hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

199

1. Mô hình Cộng đồng an toàn.

199

2. Ngôi nhà an toàn.

200

3. Các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ.

202

V. Một số chú ý khi tiếp cận, giao tiếp với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

203

1. Khi tiếp cận

204

2.Khi giao tiếp

204

3. Khi tổ chức các hoạt động

204

VI. Một số kỹ năng khi làm việc với với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

207

1. Kỹ năng tham vấn

207

2.Kỹ năng lắng nghe tích cực

208

3.Kỹ năng thấu cảm

209

4. Kỹ năng quan sát

210

CHỮ VIẾT TẮT

TNTT

Tai nạn thương tích

BĐKH

Biến đổi khí hậu

BTXH

Bảo trợ xã hội

CTXH

Công tác xã hội

DVXH

Dịch vụ xã hội

DVCTXH

Dịch vụ công tác xã hội

KT-XH

Kinh tế - Xã hội

LĐTBXH

Lao động – Thương binh và Xã hội

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

NVXH

Nhân viên xã hội

PHCN

Phục hồi chức năng

TGXH        

Trợ giúp xã hội


CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN ĐÀO TẠO

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG THIÊN TAI VÀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH

................

Mã số mô đun:

Thời gian mô đun:  45 giờ;

(Lý thuyết: 23 giờ;Thực hành: 21 giờ ; kiểm tra : 1 giờ)

I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔ ĐUN:

        - Vị trí mô đun: công tác xã hội đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích là mô đun tự chọn trong chương trình đào tạo trung cấp nghề công tác xã hội liên quan tới cung cấp kỹ năng hỗ trợ đối tượng

        - Tính chất của mô đun: Là mô đun tự chọn, bổ sung lý thuyết nghề và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp

II. MỤC TIÊU MÔ ĐUN:

1. Kiến thức:

+ Nắm bắt được kiến thức cơ bản:  khái niệm về thảm họa, thiên tai, biến đổi khí hậu và cách quản lý rủi ro khi phòng ngừa thảm họa

+ Nắm bắt được kiến thức cơ bản về khái niệm, các dấu hiệu và biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em.

+ Một số cách sơ cứu thông thường khi bị tai nạn thương tích

+ Vai trò của cán bộ xã hội trong việc phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em

2. Kỹ năng:

+ Biết lập bản đồ rủi ro phòng ngừa thảm họa và biến đổi khí hậu cho trẻ em; các kỹ năng cơ bản trong công tác xã hội

+ Biết sơ cấp cứu khi bị tai nạn thương tích

+ Biết phòng tránh những tai nạn thương tích trong cộng đồng

3. Thái độ:         

+ Nhận thức được các mức độ nguy hiểm của thảm họa, biến đổi khí hậu và tai nạn thương tích đối với trẻ em, từ đó có cơ chế phòng ngừa chủ động trong cuộc sống.

III. NỘI DUNG MÔ ĐUN:

1. Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian:

Số TT

Tên các bài trong mô đun

Thời gian

Tổng số

Lý thuyết

Thực hành

Kiểm tra

1

Nhận diện các loại thiên tai và biến đổi khí hậu

8

6

2

0

Khái niệm thiên tai và cá loại hình thiên tai

3

3

0

0

Biến đổi khí hậu

1

1

0

0

Hậu quả của thiên tai và biến đổi khí hậu

1

1

0

0

Quản lý rủi ro trong thiên tai và nhiệm vụ của trẻ em

3

1

2

0

2

 Môt số kỹ năng trong quản ký rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu cho trẻ em

8

2

5

1

Kỹ năng lâp bản đồ rủi ro

4

2

2

0

Kỹ năng thoát hiểm

2

0

1

0

Kỹ năng mặc áo phao

1

0

1

0

Kỹ năng chuẩn bị dụng cụ khẩn cấp

1

0

1

0

Kiểm tra

1

3

Tổng quan về tai nạn thương tích ở trẻ em

3

2

1

TNTT là vấn đề sức khỏe cộng đồng và mang tính toàn cầu

1

1

0

0

Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em của Việt Nam

1

1

0

0

Phân loại tai nạn thương tích trẻ em

1

0

1

0

4

Một số TNTT thường xảy ra với trẻ em

18

4.1.Tai nạn giao thông và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Khái niệm

0,5

0,5

0

0

Nguyên nhân và nguy cơ TNGT ở trẻ em

0,5

0,5

0

0

Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

1

1

4.2.Đuối nước và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Khái niệm

0.5

0.5

0

0

Nguyên nhân và nguy cơ gây đuối nước ở trẻ em

5,0

0,5

0

0

Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

1

0

1

4.3.Ngã và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Khái niệm

0,5

0,5

0

0

Nguyên nhân và nguy cơ gây ngã ở trẻ em

0,5

0,5

0

0

Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

1

0

1

4.4.Bỏng và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Khái niệm

0.5

0.5

0

0

Một số nguyên nhân và hoàn cảnh gây bỏng thường gặp

0.5

0.5

0

0

Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

1

1

4.5.Ngộ độc và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Các biểu hiện của người bị ngộ độc

0.5

0.5

0

Sơ cứu ban đầu

0.5

0

0,5

Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

1

0,5

0,5

4.6.Động vật cắn, đốt và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Côn trùng đốt

0.5

0

0.5

Rắn cắn

0.5

0

0.5

Chó cắn

1

1

0

4.7.Ngạt, tắc đường thở và cách xử lý đối với trẻ em

2

1

1

Khái niệm

0.5

0.5

0

Các dấu hiệu ngạt tắc đường thở ở trẻ

0.5

0.5

0

Nguyên nhân gây tắc đường thở, Cách xử trí khi phát hiện trẻ bị ngạt, tắc đường thở

1

0

1

4.8.Tai nạn do vật sắc nhọn và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Phát hiện thương tổn và sơ cứu ban đầu

1

1

0

Các biện pháp phòng tránh tai nạn do vật sắc nhọn

1

0

1

4.9.Tai nạn do các trò chơi nguy hiểm và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

2

1

1

Nhận biết các trò chơi nguy hiểm

0,5

0,5

0

Nguyên nhân và hậu quả của các trò chơi nguy hiểm

0,5

0

0.5

Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

1

0,5

0.5

5

Công tác xã hội với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

8

4

4

CTXH cá nhân với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

5

2

3

CTXH nhóm với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

1

1

Một số chú ý khi tiếp cận, giao tiếp với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

2

1

1

Cộng

45

23

21

1

2. Nội dung chi tiết:

        

Bài 1: Nhận diện các loại thiên tai và biến đổi khí hậu

 Thời gian: 8 giờ

1.Mục tiêu:

a) Kiến thức:

        + Một số khái niệm cơ bản trong thiên tai, Biến đổi khí hậu, Hậu quả của thiên tai và biến đổi khí hậu

        + Quản lý rủi ro trong thiên tai và nhiệm vụ của trẻ em

b) Kỹ năng

        + Biết xác nhận những nhiệm vụ của cá nhân, công đồng trong việc phòng ngừa thiên tai và biến đổi khí hậu

c) Thái độ::

        + Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về thiên tai và biến đổi khí hậu, từ đó ý thức được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về sự ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu

2. Nội dung:

  1. Khái niệm thiên tai và các loại hình thiên tai
  1. Khái niệm thiên tai
  2. Các loại hình thiên tai:

Bão và áp thấp nhiệt đới, lốc, tố, sạt lở đất đá, áp thấp, lũ lụt, hạn hán, dông và sét, sóng thần, nhiễm mặn, động đất, cháy rừng, triều cường

  1. Các loại hình thiên tai thường xảy ra ở việt Nam

Bão và áp thấp nhiệt đới, lốc, tố, sạt lở đất đá, áp thấp, lũ lụt, hạn hán, dông và sét, nhiễm mặn, động đất, cháy rừng, triều cường

        2. Một số khái niệm cơ bản trong thiên tai

2.1    Hiểm họa

2.2    Thảm họa

2.3   Rủi ro thảm họa

2.4   Quản lý rủi ro

        3. Biến đổi khí hậu

        3.1. Khái niệm

        3.2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu

        3.3. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

        4. Hậu quả của thiên tai và biến đổi khí hậu

        4.1. Hậu quả đối với nhân loại

4.2. Đối tượng chịu hâu quả của thiên tai và biến đổi khí hậu

5. Quản lý rủi ro trong thiên tai đối với trẻ em (và nhiệm vụ của trẻ em)

5.1. Ứng phó với áp thấp và bão

5.2. Ứng phó với lũ lụt

5.3. Ứng phó với sạt lở đất

5.4. Ứng phó với hạn hán

5.5. Ứng phó với dông sét

5.6. Ứng phó với lốc

5.7. Ứng phó với động đất

Bài 2: Môt số kỹ năng trong quản lý rủi ro thiên tai

 và biến đổi khí hậu cho trẻ em 

 Thời gian: 8 giờ

1. Mục tiêu:

a)Kiến thức:

        Trang bị các kién thức cơ bản trong quản lý rủi ro và biến đổi khí hậu đối với trẻ em

  1. Kỹ năng

Có khả năng thực hiện các kỹ năng để ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu : Kỹ năng lâp bản đồ rủi ro; Kỹ năng thoát hiểm; Kỹ năng mặc áo phao; Kỹ năng chuẩn bị dụng cụ khẩn cấp;

  1. Thái độ

Hình thành cho trẻ em có thái độ không chủ quan và chủ động khi thiên tai xảy ra trên địa bàn của trẻ em sinh sống

        2. Nội dung

        1. Kỹ năng lâp bản đồ rủi ro

        1.1. Khái niệm bản đồ rủi ro

        1.2. Phương pháp lập bản đồ rủi ro

        1.3. Truyền thông trong cộng đồng về bản đồ rủi ro

        2. Kỹ năng thoát hiểm

        2.1. Thế nào là thoát hiểm

        2.2. Các bước cơ bản để thoát hiểm

        3. Kỹ năng mặc áo phao

        3.1. Mặc áo phao đúng cách

        3.2. Cách nhận biết áo phao an toàn

        4. Kỹ năng chuẩn bị dụng cụ khẩn cấp

        4.1. Túi đựng dụng cụ khẩn cấp là gì?

        4.2. Chuẩn bị túi đựng dụng cụ khẩn cấp như thế nào?

        4.3. Cách quản lý tuí đựng dụng cụ khẩn cấp

Bài 3: Tổng quan về tai nạn thương tích ở trẻ em

 Thời gian: 3 giờ

1.Mục tiêu:

a) Kiến thức:

        + Học viên nắm được vấn đề TNTT là vấn đề sức khỏe cộng đồng và mang tính toàn cầu; Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em của Việt Nam và các loại tai nạn thương tích trẻ em

b) Kỹ năng

        + có khả năng nhận biết đươc các loại tai nạn thương tích thường xảy ra đối với trẻ em

c) Thái độ::

        + Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về tai nạn thương tích từ đó ý thức được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về phòng chống tai nạn thương tích trong đời sống tại cộng đồng, gia đình, nhà trường.

2. Nội dung:

1. TNTT là vấn đề sức khỏe cộng đồng và mang tính toàn cầu

        1.1. Khái niệm Tại nan thương tích

        1.2. Phân tích cơ bản về Tai nạn thương tích

2. Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em của Việt Nam

3. Phân loại tai nạn thương tích trẻ em

        3.1. Thương tích không chủ định

        3.2. Thương tích có chủ định, chủ ý

Bài 4: Một số tai nạn thương tích thường xảy ra với trẻ em

 Thời gian: 18 giờ

1.Mục tiêu:

a) Kiến thức:

        + Học viên nắm được vấn đề TNTT là vấn đề sức khỏe cộng đồng và mang tính toàn cầu; Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em của Việt Nam và các loại tai nạn thương tích trẻ em

b) Kỹ năng

        + có khả năng nhận biết đươc các loại tai nạn thương tích thường xảy ra đối với trẻ em

c) Thái độ::

        + Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về tai nạn thương tích từ đó ý thức được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về phòng chống tai nạn thương tích trong đời sống tại cộng đồng, gia đình, nhà trường.

2. Nội dung:

I. Tai nạn giao thông và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

        1.1. Khái niệm

        1.2. Nguyên nhân và nguy cơ TNGT ở trẻ em

                - Các tình huống xảy ra TNGT do người tham gia giao thông

                        - Tình huống tai nạn do phương tiện giao thông và môi trường không an toàn

- Trẻ em trực tiếp gây ra tai nạn giao thông

        1.3. Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

                - Học về luật giao thông

                - Đôi mũ bảo hiểm khi được người lớn chở bằng xe máy

II. Đuối nước và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

        2.1. Khái niệm

        2.2. Nguyên nhân và nguy cơ gây đuối nước ở trẻ em

                - Nhận thức về tai nạn đuối nước ở trẻ em còn thấp

- Thiếu sự giám sát đầy đủ của người lớn

- Thiếu kỹ năng bơi

- Môi trường sống không an toàn

- Phương tiện vận tải đường thủy không an toàn:

- Việc thực hiện lật pháp và quy định về an toàn đường thủy vẫn còn chưa nghiêm ngặt:

2.3. Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

                - Giáo dục về luật an toàn giao thông đường thủy

                - Giáo dục và quản lý trẻ em tại gia đình

                - Giáo dục và quản lý trẻ em trong nhà trường

                - Nâng cao chất lượng các phương tiện đường thủy

III. Ngã và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

        3.1. Khái niệm

        3.2. Nguyên nhân và nguy cơ gây ngã ở trẻ em

Có thể chia các nguyên nhân của ngã thành 3 nhóm lớn:

        a) Do trẻ thiếu ý thức và kiến thức

        b) Do người lớn thiếu kiến thức và ý thức

        c) Môi trường có nhiều yếu tố nguy cơ

        3.3. Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

                - Phòng tránh cấp I: (trước khi xảy ra tai nạn)

                - Phòng tránh cấp II

IV. Bỏng và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

        4.1. Khái niệm

        4.2. Một số nguyên nhân và hậu quả gây bỏng thường gặp

        a) Nguyên nhân

                - Nhiệt ướt:

                - Nhiệt khô

                - Bỏng do điện giật:

                - Bỏng do hóa chất

        b) Hậu quả

        c) Một số biểu hiện tổn thương do bỏng

        4.3. Các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em

                - Dự phòng bỏng do nhiệt

                - Dự phòng bỏng nhiệt khô:

                - Dự phòng điện giật và bỏng do điện

                - Dự phòng bỏng hóa chất

V. Ngộ độc và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

        5.1. Các biểu hiên bên ngoài của người bị ngộ độc

        a) Các biểu hiện

        b) Nguyên nhân

                - Do thiếu sự quản lý, chăm sóc của người lớn

                - Do người lớn thiếu ý thức bảo quản các vật liệu có độc

                - Thiếu sự hiểu biết của trẻ em

        5.2. Sơ cứu ban đầu

                - Kiểm tra sự sống của trẻ

                - Nhanh chóng loại bỏ chất độc

                - Nhanh chóng đưa trẻ đến tram y tế gần nhất

        5.3. Cách phòng tránh

VI. Động vật cắn, đốt và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

        5.1. Ong đốt

        a) Biểu hiên khi bị ong đốt

                - Tình trạng nhiễm độc

                - Phản ứng dị ứng:

        b) Sơ cứu ban đầu:

        c) Các trường hợp cần theo dõi và đưa vào viện:

        d) Phòng tránh:

        5.2. Rắn cắn

        a) Cách nhận biết

                - Đối với nhóm rắn hổ

                - Đối với nhóm rắn lục

        b) Sơ cứu ban đầu

        c) Các trường hợp cần theo dõi và nhập viện:

        d) Phòng tránh

        5.3. Chó cắn

        a) Tìm hiểu về bệnh dại

        b) Nguyên nhân thường gặp

        c) Cách nhận biết bệnh dại khi bị chó cắn

                - Biểu hiện sớm

                - Biểu hiện bện dại khi lên cơn

        d) Sơ cứu ban đầu

                - Khi bị chó cắn

                - sơ cứu vết thương

        e) Các trường hợp phải tiêm vaccin phòng bệnh dại:

        f) Các trường hợp cần theo dõi và đưa đến bệnh viện:

        g) Phòng tránh

VII. Ngạt, tắc đường thở và cách xử lý đối với trẻ em ( 2 giờ)

        7.1. Khái niệm

         7.2. Các dấu hiệu ngạt, tắc đường thở ở trẻ

                - dị vật ở thanh quản:

                - Dị vật khí quản

                - Dị vật phế quản

        7.3. Nguyên nhân gây tắc đường thở, Cách xử trí khi phát hiện trẻ bị ngạt, tắc đường thở

a) Nguyên nhân gây tắc đường thở

        - Hóc, nghẹn thức ăn hoặc các loại dị vật

        - Sặc nước/sữa, sặc bột, sặc thức săn hoặc dị vật

        - Mũi và miệng trẻ bị bịt kín bởi túi nilon, chăn hoặc vải

- Trẻ bị đuối nước hoặc đất cát vùi.

        b) Cách xử trí khi phát hiện trẻ bị ngạt, tắc đường thở

                - Nguyên tắc chung:

                - Cấp cứu trẻ sơ sinh bị ngạt tắc đường thở:

                - Cấp cứu trẻ nhỏ bị ngạt tắc đường thở:

                - Cấp cứu trẻ lớn bị ngạt tắc đường thở:

        c) Cách phòng tránh

VIII. Tai nạn do vật sắc nhọn và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

8.1. Phát hiện thương tổn và sơ cứu ban đầu

a) Thế nào là vết thương do vật sắc nhọn gây ra

b) Phát hiện tổn thương và sơ cứu ban đầu

- Đối với vết thương phần mềm:

- Trường hợp vết thương vẫn còn dị vật (que tre, củi, thanh sắt, dao...)

8.2. Các biện pháp phòng tránh tai nạn do vật sắc nhọn

        a) Với đối tượng trẻ em:

        b) Đối với cha mẹ, người chăm sóc trẻ và các nhà quản lý:

IX. Tai nạn do các trò chơi nguy hiểm và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em ( 2 giờ)

        9.1. Nhận biết các trò chơi nguy hiểm

        9.2. Nguyên nhân và hậu quả của các trò chơi nguy hiểm

        a) Nguyên nhân:

- Do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ

                - Do sự bất cẩn, chủ quan của người lớn

                - Do môi trường tiềm ẩn nhiều nguy cơ

        b) Hậu quả của các trò chơi nguy hiểm đối với trẻ em

Bài 5: Công tác xã hội với trẻ em bị ảnh hưởng bởi

thiên tai và tai nạn thương tích

 Thời gian: 8 giờ

1.Mục tiêu:

a) Kiến thức:

- Các kiến thức về CTXH cá nhân, CTXH nhóm đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

- Giới thiệu các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ, tâm lý cho trẻ

- Liên kết với gia đình, nhà trường, cộng đồng trong các hoạt động giúp đỡ trẻ bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

b) Kỹ năng

                - Dùng các kỹ năng tham vấn, giao tiếp, lắng nghe, điều hành nhóm, vãng gia, quản lý hồ sơ cá nhân giúp trẻ em bị ảnh hưởng thiên tai và tai nạn thương tích

c) Thái độ::

                -  Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về những hậu quả của thiên tai và biến đổi khí hậu, từ đó ý thức được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về sự ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu đối với trẻ em

2. Nội dung:

1. Công tác xã hội cá nhân với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

1.1. Quy trình tiến hành CTXH cá nhân với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

a) Xác định đối tượng

b) Xây dựng quy trình giúp trẻ em theo phương pháp CTXH cá nhân

c) Triển khai kế hoạch giúp trẻ:

        - Theo các bước trong quy trình

        - Sử dụng các kỹ năng công tác xã hội

        - Chú ý trẻ em ở những vùng bị ảnh hưởng nặng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

1.2. Giới thiệu các dịch vụ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

        - Dịch vụ tư vấn

        - Dich vụ hỗ trợ

        - Dịch vụ hoạt động, chăm sóc sức khỏe

1.3. Liên kết sư phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong  việc giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

2. Công tác xã hội nhóm với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

2.1. Xác định các nhóm đối tượng

2.2. Xây dựng quy trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

2.3. Tiến hành các hoạt động nhóm

a) Thành lập nhóm

b) Tiến hành CTXH nhóm: Họp nhóm; thảo luận nhóm;

c) Tổ chức các hoạt động nhóm tại cộng đồng, nhà trường: Văn hóa văn nghệ, giao lưu, học tập...

3. Một số chú ý khi tiếp cận, giao tiếp với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

a) Khi tiếp cận

b) Khi giao tiếp

c) Khi tổ chức các hoạt động

IV) ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

-   Vật liệu:  Giấy A0, giấy màu, bút dạ, bút màu, tranh ảnh

- Dụng cụ và trang thiết bị: Máy chiếu, máy quay, băng video, bài tập tình huống.

V) PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ:

1. Phương pháp cho học sinh chưa thực hành công tác xã hội

- Phương pháp giảng dạy: Thuyết trình, đóng vai, thảo luận nhóm xử lý bài tập tình huống.

- Phương pháp đánh giá

+ Bài trình bày dựa trên nghiên cứu điển hình giả định về cá nhân và nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích, liên quan đến :

+ Giúp đỡ trực tiếp cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích

+ Các hoạt động phù hợp với trẻ em tại cộng đồng, nhà trường

+ Làm việc nhóm với trẻ em tại nhà trường hay tại cộng đồng

+ Ý thức, thái độ tham gia học tập, thảo luận

+ Kết quả thảo luận

- Công cụ đánh giá:

+ Trình bày những hiểu biết thông qua ngân hàng bài tập tình huống

+ Kết quả thảo luận nhóm, đóng vai

+ Bài tập cá nhân

2. Phương pháp dành cho cán bộ đã qua thực hành công tác xã hội

a) Vật liệu : tài liệu hướng dẫn, giấy Ao, bút dạ, bút đánh dấu dòng, ảnh

b) Công cụ : Máy chiếu, máy ảnh, máy quay, băng video, nghiên cứu điển hình

c) Phương pháp giảng dạy: được cán bộ kiểm huấn thực địa hỗ trợ, tham gia thảo luận với những đồng nghiệp có kinh nghiệm, nghiên cứu điển hình, tiến hành các hoạt động trong môi trường làm việc bình thường như:

+ Công tác ca, bao gồm kết nối trẻ em với các nhóm trong cộng đồng và nhà trường

+ Các hoạt động chăm sóc trực tiếp trẻ bị ảnh hưởng

+ Công việc trong các nhóm trẻ bị ảnh hưởng

d) Phương pháp đánh giá:

+  Quan sát những thực hành của học viên bằng cách sử dụng bảng kiểm

+ Kiểm tra tài liệu ghi chép ca của học viên, ghi chép công việc nhóm, các kế hoạch và báo cáo

e) Công cụ đánh giá:

+ Học viên hoàn thành những mẫu biểu về công tác ca, công việc nhóm, kế hoạch và báo cáo theo đúng quy đình và chuẩn mực về nhiệm vụ

VI) HƯỚNG DẪN CHƯƠNG TRÌNH

1. Phạm vi áp dụng chương trình:

Chương trình mô đun công tác xã hội với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích được dùng để giảng dạy cho học sinh nghề công tác xã hội và làm tài liệu tham khảo cho các nghề thuộc khối xã hội và nhân văn

2. Hướng dẫn một số điểm chính về phương pháp giảng dạy mô đun

- Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học cùng tham gia: Thảo luận nhóm, Bài tập tình huống, hỏi đáp, trực quan…

- Giáo viên yêu cầu học viên tiếp cận với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích ở gia đình hoặc cộng đồng để thực hành công tác xã hội với trẻ em.

- Kết nối các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ trẻ em.

3. Những nội dung trọng tâm cần chú ý.

4. Tài liệu tham khảo

BÀI 1

NHẬN DIỆN CÁC LOẠI THIÊN TAI

VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

 Thời gian: 8 giờ

A.Mục tiêu:

a) Kiến thức:

        + Một số khái niệm cơ bản trong thiên tai, Biến đổi khí hậu, Hậu quả của thiên tai và biến đổi khí hậu

        + Quản lý rủi ro trong thiên tai và nhiệm vụ của trẻ em

b) Kỹ năng

        + Biết xác nhận những nhiệm vụ của cá nhân, công đồng trong việc phòng ngừa thiên tai và biến đổi khí hậu

c) Thái độ::

        + Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về thiên tai và biến đổi khí hậu, từ đó ý thức được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về sự ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu

B. Nội dung:

I. KHÁI NIỆM THIÊN TAI VÀ CÁC LOẠI HÌNH THIÊN TAI

1. Các khái niệm cơ bản

Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những nước dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Do đặc điểm địa hình, Việt Nam rất dễ chịu tác động bởi bão, lụt, hạn hán, nước biển xâm lấn, lở đất, cháy rừng và đôi khi  cả ruộng đất. Trung bình hàng năm, các loại thiên tai này gây thiệt hại đáng kể như làm chết và mất tích 450 người, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1,5% GDP3. Mức độ thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường.

  1. Áp tấp nhiệt đới và bão

-    Là một cơn gió xoáy có phạm vi rộng. Thường gây ra gió lớn, mưa rất to và nước dâng.

-    Khi sức gió đạt tới cấp 6 và 7 (từ  39- 61km/h) thì được gọi là áp thấp  nhiệt  đới; đạt tới cấp 8 trở lên (từ 62 km/h) thì được gọi là bão.

-    Có thể ảnh hưởng tới một        vùng        rộng        từ 200-500km.

-  Vùng  trung  tâm  của bão được gọi là “mắt bão”.

Nguyên nhân:

-    Bão được hình thành từ  vùng  nước ấm, không khí ẩm ướt và gió hội tụ.

-    Bão vào nước        ta thường đượchình thành từ Biển Đông và Thái Bình Dương

Thiệt hại có thể xảy ra:

Gió lớn:

-    Thổi bay mái nhà,sập nhà.

-    Làm cây cối bị đổ, gãy, gây cản trở giao thông.

-    Làm đứt đường dây điện,có thể gây ra cháy hoặc tai nạn điện.

Mưa lớn và lũ lụt:

-    Có thể gây sạt lở đất, khiến  cho  giao  thông bị gián đoạn.

-    Ngập lụt nhà cửa, làm hư hỏng đồ đạc.

-    Làm chết gia súc, gia cầm.

-    Làm người chết hoặc bị thương.

-    Các hệ thống thông tin liên lạc bị gián đoạn.

Sóng lớn và triều cường:

        Tàu thuyền ngoài khơi có thể bị chìm, gây ngập lụt vùng ven biển; nước biển dâng làm nhiễm mặn đồng ruộng; làm ngập và hư hỏng các giếng nuớc ngọt phuc vụ dân sinh.

1.2. Lũ lụt

Là hiện tượng nước dâng lên từ sông, hồ hoặc những dòng chảy bất thường khác làm ngập một phần hoặc hoàn toàn một vùng đất. Có nhiều loại lũ: Lũ sông, lũ quýet và lũ ven biển

Lũ sông: Do mực nước sông dân cao tràn bờ gây ngập lụt cho những vùng xung quanh. Lũ sông có thể xuất hiện từ từ và theo mùa.

Lũ qúet: Thường xảy ra trên các con sông nhỏ hoặc suối ở miền núi những nơi có độ dốc cao; thường xuất hiện nhanhdo mưa lớn đột ngột.

Lũ ven biển: Thường xảy ra khi có bão vào gàn bờ biển, sóng biển dang cao kết hợp với triều cường.

Nguyên nhân

-    Mưa  lớn  kéo  dài  có thể gây ra lũ lụt.

-    Các   công   trình   xây dựngnhư        làm đường, hệ thống thủy lợi có thể   cản trở dòng chảy tự nhiên.

-    Nhà máy thủy điện xả nước không hợp lý.

-    ðê, đập, hồ kè bị vỡ.

-    Bão lớn làm nước biển dâng tiến sâu vào đất liền.

Những thiệt hại có thể xảy ra

1.3. Sạt lở đất

        Là hiện tượng xảy ra khi bùn, đất, đá từ trên cacá sườn dốc cao trượt xuống. thường xảy ra ở các vùng đồi núi.

        Nguyên nhân

-    Có thể xảy ra do chấn  động  tự  nhiên của  trái  đất  làm  mất sự liên kết của đất và đá trên sườn ñồi, núi.

-  Có thể xảy ra khi có mưa rất to hoặc lũ lụt lớn làm cho đất đá khôngcòn         sự kết dính và trôi xuống, đặc biệt ở những vùng rừng bị chặt phá.

-    Có  thể do máy móc có tải trọng lớn đặt trên sườn dốc tại các công  trình  xây  dựng, khai  thác trên đồi, núi.

Thiệt hại có thể xảy ra

1.4. Hạn hán

Xảy ra khi một vùng thiếu nước trong một thời gian dài ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước bề mặt và nước ngầm. Hạn hán có thể xảy ra khi mưa ít vào mùa mưa hoặc khi mùa mưa đến chậm.  Hạn hán cũng có thể xảy ra ngay cả khi không thiếu mưa. Khi rừng bị phá hủy, đất không còn khả năng giữ nước, nước sẽ bị trôi đi.

Nguyên nhân

-    Do thiếu mưa trong một thời gian dài.

-    Do con người chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy, đất không còn khả năng giữ nước nên nước bị trôi đi nhanh chóng.

-    Do con người khai thác không hợp lý nguồn nước, VD:dùng nước lãng phí, nắn dòng chảy.

-    Do biến đổi khí hậu, nhiệt độ tăng, nước bề mặt (ao, hồ, sông, suối) bốc hơi nhanh

Thiệt hại có thể xảy ra

-    Thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất.

-    Gia tăng dịch bệnh ở người (đặc biệt ñối với trẻ em và người già).

-    Giảm sản lượng cây trồng, vật nuôi.

-    Làm cho gia súc, gia cầm (trâu bò, lợn gà) bị chết hoặc bị dịch bệnh.

-    Các khu vực ven biển, khi các dòng sông cạn kiệt, nước biển có thể lấn sâu vào đất liền làm đất bị nhiễm mặn.

1.5. Dông và sét

- Dông: Xuất hiện những dám mây đen lớn và phát triển mạnh theo chiều cao, kèm theo mưa to, sấm chớp và sét, thường có gió mạnh đột ngột.

- Sét: Thường xuất hiện trong những đám mưa dông và thường kèm theo sấm. sét là một luồng điện lớn từ trên trời đánh xuống đất. Sét thường đánh vào các cây to, cột điện và các đỉnh núi. Sét có điện thế cao nên tất cả các vật thể bao gồm cả không khí đều trở thành vật dẫn điện. Sét còn hay đánh vào kim loại, nước vì đây là những vật dẫn điện tốt.

Thiệt hại có thể xảy ra

-   Dông tố nguy hiểm vì trong dông tố sét có thể làm người bị thương, thậm chí tử vong.

-   Sét có thể ñánh và phá hủy nhà cửa, cây cối và hệ thống ñiện của một vùng. Sét có thể là nguyên nhân gây ra các đám cháy.

  -   Mưa to trong cơn dông có thể gây ra lũ quét ở miền núi.

1.6. Lốc

-    Là một cột không khí xoáy hình phễu, di chuyển rất nhanh trên đất liền  và trên biển.

-    Có thể  nhìn thấy cột không khí này do những vật thể mà nó bốc lên từ  mặt đất (VD: bụi, cát, rơm, rác, nhà, xe,…)

-    Lốc thường xảy ra đột ngột, diễn ra trong một thời gian ngắn.

Nguyên nhân

        Có thể là do sư khác nhau về tốc độ gió, Lốc thường xảy ra nhiều hơn khi thời tiết nóng.

Thiệt hại có thể xảy ra

1.7. Mưa đá

        Mưa kèm theo những viên nước đá có hình dạng  và  kích  thước khác  nhau  rơi  xuống đất. Thông         thường hạt mưa đá nhỏ bằng hạt đậu, hạt  ngô,  nhưng đôi khi có thể to bằng quả trứng gà hoặc to hơn.

Nguyên nhân

-    Khi đám mây dông phát triển theo chiều cao, những giọt nước trong ñám mây bị đẩy lên cao gặp không khí rất lạnh và bị đóng  băng, đủ  nặng rơi xuống thành những hạt mưa đá.

Hâu quả có thể xảy ra

        Có thể phá hoại mùa màng, cây cối. những viên đá lớn có thể làm cho người và gia súc bị thương và có thể còn tử vong

1.8. Động Đất

-    Là sự rung chuyển hay chuyển động lung lay của mặt đất.

-    Tại một số nơi, động đất        thường xuyên xảy ra ở mức độ nhẹ và vừa. Tại một số nơi khác động đất khả năng gây ra những chấn động lớn, cách quãng sau một khoảng thời gian dài.

-    Trong rất         nhiều trường hợp, có rất nhiều trận động đất nhỏ hơn xảy ra trước hay sau lần động đất chính; những trận này được gọi  là  dư chấn.

Nguyên nhân

Bề mặt Trái đất  bao gồm nhiều mảng kiến tạo khác nhau. Các mảng kiến tạo luôn di chuyển. Sự tương tác giữa các mảng kiến  tạo tạo ra động đất,  núi lửa và một loạt các hiện tượng địa chất khác.

-    Hầu        hết các trận động đất xảy ra ở ranh giới các mảng kiến tạo.

-    Điểm ở sâu dưới mặt đất nơi động đất bắt đầu được gọi là chấn tiêu.

-    Vị  trí chiếu thẳng từ chấn tiêu lên mặt đất được gọi là chấn tâm.

Hậu quả có thể xảy ra

-    động đất xảy ra hàng ngày  trên Trái đất, nhưng hầu hết không đáng chú ý  và không gây ra thiệt hại.

-    Động đất lớn có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng thần, đê vỡ, và  hỏa  hoạn, từ đó có thể gây nên những thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và con người.

2. Hiểm hoạ, thảm họa, thiên tai.

2.1. Hiểm hoạ:

Hiểm hoạ là những nguy cơ hoặc rủi ro có nguồn gốc do con người hoặc do tự nhiên tạo ra và kết quả gây ra những thiệt hại.

+ Hiểm hoạ tự nhiên: ( bắt nguồn từ tự nhiên ) bão, núi lửa, lũ quét…

+ Hiểm họa do con người gây ra: Lạm dụng hóa chất, tai nạn giao thông, chiến tranh, ô nhiễm hóa chất độc hại…

2.2. Thảm hoạ:

- Thảm hoạ là một loại hiểm họa gây ra những thiệt hại lớn tới cộng đồng, vượt quá giới hạn ứng phó của cộng đồng.

Hiểm hoạ -> cộng đồng-> tổn thương- > Thảm hoạ.

2.3 . Rủi ro: Là một nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến một tác động tiêu cực.

2.4. Đánh giá rủi ro:

Ví dụ: Hoạt động đánh giá rủi ro: Dự báo thời tiết, ở nhà một mình…

Đánh giá rủi ro là một khảo sát hay nghiên cứu nhằm tìm hiểu, theo dõi và tiên liệu về những yếu tố trực tiếp hay gián tiếp gây ra những nguy cơ dẫn đến những tác động tiêu cực đối với trẻ em và người lớn trong cộng đồng.

2.5. Quản lý rủi ro: là hạn chế các khả năng mà nó gây ra tác động xấu đến cộng đồng.

2.6. Dễ bị tổn thương: Là khả năng đễ bị tổn thương hay bị thiệt hại

- Đối tượng dễ bị tổn thương: Người già, trẻ em, phụ nữ, nhóm yếu thế.

2.7.Năng lực: Là khả năng ứng phó trong tình huống khó khăn, có nghĩa là phải có kỹ năng,kiến thức và phương tiện để đối phó và phòng ngừa rủi ro.

2.8. Mối liên hệ của thảm hoạ

                        Hiểm hoạ x Dễ bị tổn thương

Thảm hoạ = -----------------------------------------------

                                    Năng lực

Công thức này chỉ biểu thị sự tương tác giữa các yếu tố, chứ không phải là một công thức toán học. Giúp chúng ta thấy được sự liên quan giữa các yếu tố trong thiên tai.

2.9. Hi ểm hoạ tại Việt nam

+ Bão, tố lốc, Lũ quét, sạt lỡ đất, lũ lụt, xâm nhập mặn, nước dâng, ngập úng, hạn hán, cháy rừng, động đất…

+ Bão: Hình thành trên biển- từ một vùng xoáy thuận gọi là áp thấp nhiệt đới.

Áp thấp nhiệt đới: Khi gió cấp 6, cấp 7. Tốc độ gió (61km/h). Cấp 8 (62km/h) gọi là bão.

+ Tố: Gió mạnh đột ngột, phạm vi hẹp, xảy ra trên đất liền hoặc trên biển.

+ Lốc: Gió xoáy phạm vi hẹp nhưng cường độ mạnh.

+ Lũ: Là mực nước và tốc tộ dòng chảy trên sông suối vượt mức bình thường.

+ Lụt: Khi nước dâng cao tràn qua bờ sông suối làm ngập nhà cửa, ruộng đồng.

II. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1. Một số khái niệm liên quan

1.1. Thời tiết: 

Thời  tiết  dùng  để  diễn  tả  những  hiện tượng diễn ra ngoài trời tại một địa ñiểm nào đó trong một thời điểm nhất định, có thể là 1 giờ, 1 buổi, 1 ngày hay vài tuần. Thời  tiết  luôn  thay  đổi,  ví  dụ,  trời  có  thể mưa  hàng  tiếng  liền  và  sau  đó  lại  hửng nắng. Thời tiết bao gồm những điều kiện mưa, khí áp, ấp suất, nhiệt độ và gió trong một khu vực xác định.

VD:  Thời  tiết  hôm  nay  là  mưa  phùn,  gió nhẹ.

  1. Khí hậu: 

Khí hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một không gian nhất định và khoảng thời gian dài (thường là 30 năm). Khí hậu mang  tính  ổn  định  tương  đối.

Ngoài ra, khí hậu còn bao gồm cả sự kiện thời tiết khắc nghiệt như bão, mưa lớn, những đợt nắng nóng vào mùa hè và rét đậm vào mùa đông.

2. Biến bổi khí hậu

        Biến đổi khí hậu do con người gây ra, được coi là không thể tránh khỏi gây ra những chuyển dịch dài hạn và các đới lý sinh và sinh kế liên quan, cũng như gia tăng các tai biến tự nhiên và thiên tai.Biến đổi khí hậu là mối đe dọa đối với phát triển con người, và Việt Nam là một trong những nước có thể bị ảnh hưởng tồi tệ nhất, đặc biệt là vùng Duyên hải đất thấp. Chính phủ Việt nam đã nhận định Biến đỏi khí hậu và các tác đông của nó là một thách thức lớn và đã thông qua chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu vào tháng 12 năm 2008.

Thuật ngữ ‘Biến ñổi khí hậu’ được dùng để chỉ những thay đổi của khí hậu vượt ra khỏi trạng thái trung bình đã được duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là một vài thập kỷ hoặc dài hơn do các yếu tố tự nhiên và/hoặc do các hoạt động của con  người  trong  sử  dụng  đất  và  làm  thay  đổi  thành  phần  của  bầu  khí  quyển. ( Theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu).

Một cụm từ đôi khi được sử dụng như một từ đồng nghĩa với BĐKH là hiện tượng nóng  lên  toàn  cầu,  tuy  nhiên  chúng  không  phải  là  một.  Nóng  lên  toàn  cầu  là  xu hướng tăng lên về nhiệt độ trung  bình của Trái đất. Còn BĐKH là khái niệm rộng hơn chỉ những thay đổi lâu dài của khí hậu trong đó bao gồm cả về nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và rất nhiều các tác ñộng tới thực vật, đời sống hoang dã và con người. Khi các nhà khoa học nói về vấn đề BĐKH, họ quan tâm tới hiện tượng nóng lên toàn cầu gây ra bởi các hoạt động của con người.

Ở Việt Nam, trung bình mỗi năm có một triệu người bị ảnh hưởng bởi thiên tai có liên quan đến Biến đổi khí hậu, kể cả ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu long. Tính trung bình hàng năm Việt Nam phải đón từ 5 đến 6 trận bão nhiệt đới đổ bộ vào các vùng ven biển, ngập lụt từ sông ở các vùng Châu thổ, cũng như lũ quét và sạt lở đát ở các khu vực miền núi. Hơn nữa hạn hán nghiêm trọng cũng thường xảy ra đén các vùng ven biển Miền trung, vùng núi phía Bắc và Đồng bằng sông cửu long. Những sự kiện cực đoan này có chiều hướng xảy ra thường xuyên hơn do Biến đỏi khí hậu, cùng với việc xảy ra các đợt nắng nóng gay gắt và xâm thực mặn sâu vàotrong các cửa sông và nước ngầm mà mực nước biển dâng sẽ làm trầm trọng hơn. Công trình nghiên cứu gần đây của ADB về kinh tế học Biến đổi khí hậu ở Đông Nam Á khẳng định Việt Nam còn là một trong những nước dễ bị tổn thương nhất về mặt kinh tế trước các tác động của Biến đổi khí hâu.

3. Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu

        3.1. Nhiệt độ trung bình

        Trên thế giới: Nhiệt  độ  trung  bình  thế  giới  đã tăng thêm khoảng 0,7°C kể từ khi bắt đầu thời kỳ công nghiệp - và hiện  đang  gia  tăng  với  tốc  độ ngày càng cao. Theo IPCC, trong 100 năm qua (1906 - 2005), nhiệt độ  trung  bình  toàn  cầu  đã  tăng 0,74°C. Trong 50 năm cuối, nhiệt ñộ  trung  bình  tăng  nhanh  gấp  2 lần. Thập kỷ 1991 - 2000 là thập kỷ  nóng  nhất  kể  từ  1861,  thậm chí là trong 1000 năm qua ở Bắc bán        cầu.

        Ở Việt Nam: Trong 50 năm qua  (1958  -  2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng  lên  khoảng  0,5oC đến  0,7oC. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961  -  2000) cao  hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó   (1931-   1960). Theo kịch bản biến đổi khí hậu 2009, dự đoán đến cuối  thế  kỷ 21, nhiệt độ sẽ tăng: 1,6-3,6 oC ở miền Bắc, 1,1-2,6 oC ở miền Nam so với thời kỳ 1980-1999.

        3.2. Nước biển dâng

        Trên thế giới: Nguyên nhân là do quá trình giãn nở  nhiệt  của  nước  và  do  băng lục địa tan (ở hai cực và các đỉnh núi  cao).  Mực  nước  biển  trung bình  toàn  cầu  đã  tăng  với  tỷ  lệ trung bình 1,8 mm/năm trong thời kỳ  1961  -  2003 và tăng  nhanh hơn với  tỷ  lệ  3,1 mm/năm  trong thời kỳ 1993 – 2003.

        Ở Việt Nam: Số  liệu  quan  trắc  tại  các  trạm  hải văn dọc bờ biển Việt Nam cho thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung  bình  tại  Việt  Nam  là  khoảng 3mm/năm   trong   giai   đoạn   1993- 2008, tương đương với tốc độ tăng trung  bình  trên  thế  giới.  Kịch  bản biến đổi khí hậu 2009 dự đoán đến giữa  thế  kỷ  21  mực  nước  biển  có thể dâng thêm 28-33cm và đến cuối thế kỷ 21 dâng thêm từ 65-100 cm so với thời kỳ 1980-1999. (Kịch bản biến đổi khí hậu)

        3.3. Thiên tai và các hiện tượng thiên tai cực đoan

        Trên thế giới: Nắng  nóng,  giá  rét,  bão,  lũ  lụt,hạn hán…có xu hướng xảy ra với mức độ        thường xuyên hơn, cường độ ngày càng mạnh và khó dự đoán hơn

        Ở Việt Nam: Các  hiểm  họa  thiên  tai  và  hiện  tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên, khắc  nghiệt  và  bất  thường  hơn  như mưa lớn, lũ lụt, khí nóng, bão, hạn hán, hỏa hoạn, nhiễm mặn, bệnh dịch... Ảnh hưởng của chúng khó có thể kiểm soát được:

Bão:  Trong  những  năm  gần  đây, các cơn bão có cường độ mạnh với mức  độ  tàn  phá  nghiêm  trọng  đã xuất  hiện  nhiều  hơn  tại  Việt  Nam. Các  cơn  bão có xu  hướng chuyển dịch về phía nam, mùa bão kéo dài hơn,  kết  thúc  muộn  hơn,  và  khó lường  trước.  Nguyên  nhân  là  do các  cơn  bão  được  hình  thành  từ những  vùng  nước  ấm,  không  khí ẩm  ướt  và  gió  hội  tụ.  Khi  nhiệt  độ đại  dương  tăng,  bão  càng  dễ  hình thành.

Lụt và hạn hán: Nhiệt độ tăng làm cho mưa trở nên thất thường, phân bố  lượng  mưa  ở  các  vùng  có  sự thay  ñổi.  Những  vùng mưa nhiều, lượng mưa càng nhiều hơn, cường độ mưa lớn hơn.  Các vùng hạn càng khô hạn hơn. Hạn hán trong mùa hanh khô làm tăng  nguy cơ cháy rừng.

4. Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu

        Nguyên nhân chính của biển đổi khí hậu là sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính ( khí CO2, CH4..) trong bầu khí quyển.

        Theo các nhà khoa học, sự biến đổi của khí hậu trong vòng 200 năm trở lại đây xảy ra chủ yếu do các hoạt động khai thác - sử dụng tài nguyên không hợp lý của con người, đặc biệt là việc khai thác - sử dụng nhiên liệu hóa thạch và các tài nguyên khác như đất và rừng. Những hoạt động này đã làm gia tăng nồng độ khí nhà kính trong bầu khí quyển.

        4.1. Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính

Bầu khí quyển của trái đất chứa một số loại khí đặc biệt gọi là khí nhà kính vì cách mà chúng làm ấm trái đất của chúng ta tương tự như

cách người ta giữ nhiệt cho các ngôi nhà làm bằng kính để trồng cây. Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước (H2O), cácbonic (CO2), mêtan (CH4), các khí CFC, các khí ôxít nitơ (NOx) và ôzôn (O3).

Những khí này giống như một chiếc chăn có độ dày vừa  đủ,  giúp  giữ  ấm  cho  Trái  đất  ở  trong  khoảng nhiệt  độ thích hợp,  khiến  sự  sống  có thể  phát  triển và  sinh  sôi  nảy  nở.  Nếu  không  có  những  khí  này, nhiệt  từ  mặt  trời  sẽ  không  được  giữ  lại  và  bề  mặt Trái đất sẽ trở nên lạnh lẽo4.

Hiệu ứng nhà kính là sự tăng  lên  về  nhiệt  độ  của Trái ðất do các khí nhà kính đã giữ lại năng lượng từ mặt trời truyền tới Trái ðất.

1. Ánh sáng mặt trời xuyên qua bầu khí quyển đến bề mặt Trái ðất;

2. Một phần năng lượng ánh sáng phản xạ lại không gian;

3. Phần năng lượng ánh sáng còn lại làm bề mặt Trái ðất nóng lên và phát nhiệt vào bầu khí quyển;

4. Một phần nhiệt bị các khí nhà kính trong khí quyển giữ lại làm Trái ðất ấm hơn.

Qui trình này được gọi là Hiệu ứng nhà kính.

Hiệu ứng nhà kính tự nhiên: Đóng vai trò rất quan trọng của sự sống trên trái đất, nếu không có hiệu ứng nhà kính, trái đất sẽ quá lạnh, con người và các sinh vật sẽ không thể tồn tại được.

Các khí nhà kính và Hiệu ứng nhà kính: Hiện nay các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và thậm chí cả những bãi chôn lấp rác thải trên toàn thế giới hàng ngày bơm vào bầu khí quyển một lương lớn các khí nhà kính như CO2, CH4, N2O và một loạt những chất khác. Hiệu ứng nhà kính được gây ra do việc phác thải các khí nhà kính thông qua các hoạt động của con người kể trên được gọi là: “ Hiệu ứng nhà kính tăng cường”.

4.2 Khí CO2  và cuộc Cách mạng Công nghiệp:

Như  đã  nói,  nguyên  nhân  chính  của  BĐKH  là  sự  gia  tăng nồng độ các khí nhà kính trong bầu khí quyển. Hai hoạt động chủ yếu gây ra sự  gia tăng này là đốt các  nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt) và các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như các hệ sinh thái rừng biển…

Mặc dù bầu khí quyển Trái đất hiện nay có khoảng 24 loại khí nhà kính khác nhau, nhưng trong đó CO2  đóng vai trò lớn nhất gây ra hiệu ứng nhà kính. đặc biệt khí CO2  có thể tồn tại trong bầu khí quyển tới 100 năm.

- Trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp, nồng độ khí CO2 trong khí quyển dao động ở mức 280 phần triệu (ppm).

- Sau cuộc  cách  mạng  công  nghiệp,  nồng  độ  đó đã tăng  liên tục  đến  380  ppm.

Hiệu ứng nhà kính do khí CO2  gây ra quá mức cần thiết khiến nhiệt độ bề mặt địa cầu tăng nhanh kéo theo nhiều tác động tiêu cực cho đời sống trên Trái ðất.

- Ngưỡng BĐKH nguy hiểm là khi nhiệt độ tăng thêm khoảng 2°C nồng độ khí nhà kính tăng trên 450ppm CO2  tương đương, khi đó tình trạng môi trường sinh thái bị hủy hoại ở mức không thể khắc phục được.

Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp,  giao  thông  vận  tải,  xây  dựng…  đóng  góp  khoảng  một  nửa  (46%)  vào  sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác.

5.Chúng ta có thể làm gì để đối phó với BĐKH?

Để đối phó với BĐKH, có 2 vấn đề cần phải giải quyết: “Giảm nhẹ BĐKH” và “Thích ứng với BĐKH”.

5.1 Giảm Nhẹ: là ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu thông qua việc giảm phát thải khí nhà kính. Con người  cần phải giảm bớt sự  phụ thuộc của mình vào nhiên liệu hóa thạch. Sử dụng những nguồn năng lượng không hoặc thải ra ít khí gây hiệu ứng nhà kính sẽ cho phép con người chuyển đến một lối sống mới góp phần bảo vệ  môi  trường  toàn  cầu  được  tốt  hơn.  Việc  cắt  giảm  sử dụng  nhiên  liệu  hóa thạch bằng cách tiết kiệm năng lượng là cách mà mọi người, ở mọi lứa tuổi đều có thể chung tay giúp sức. Thay đổi các thói quen để giữ cho nhiệt độ trong nhà gần hơn với nhiệt độ ngoài trời và mua những món đồ sản xuất tại địa phương không cần phải vận chuyển xa cũng có thể giúp ta giảm bớt việc xả khí nhà kính ra môi trường. Đôi khi những thay đổi nhỏ trong cuộc sống hàng ngày cũng có thể dẫn đến thay đổi lớn.

5.2 Thích  ứng:  là  thích  nghi,  sống  cùng  BĐKH  và  tránh  thiệt  hại  tối  đa,  phổ  biến những chính sách, truyền thông các biện pháp ứng phó như: chuyển đối sinh kế, chống lũ, sử dụng công nghệ xanh, trồng rừng, mô hình quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng…

5.3. Là mỗi cá nhân, các em cần làm gì?

Việc ngăn chặn và ứng phó với BĐKH có thể bắt đầu từ chính gia đình và bản thân chúng ta, những tế bào nhỏ nhất của xã hội. Dưới đây là một số gợi ý cho các em:

- Hãy thay đổi: Thực hiện một lối sống thân thiện với môi trường:

Trong gia đình

+ Sử dụng ánh sáng tự nhiên vào ban ngày và trong nhà sử dụng các bóng đèn tiết kiệm điện.

 + Chỉ bật bình nóng lạnh vừa đủ (từ 7-10 phút), tiết kiệm điện năng. Hiện nay Việt Nam đã có loại bình nóng lạnh bằng năng lượng mặt trời.

+ Rút hẳn phích điện và tắt đèn khi không dùng thiết bị hoặc khi ra khỏi nhà (tivi, ñèn bàn, quạt, máy giặt). Vừa tiết kiệm điện lại tăng tuổi thọ cho thiết bị.

+ Sử dụng điều hòa ở mức 26 độ hoặc hơn.

+ Hãy làm cho ngôi nhà sạch và xanh. Hạn chế sử dụng các hóa chất vì chúng rất có hại cho sức khỏe của chúng ta và môi trường.

+ Ăn nhiều rau xanh hơn, vừa tốt cho sức khỏe, vừa góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

+ Hạn chế thải rác vì rác khi phân hủy sẽ tạo ra khí mê tan. Hãy sử dụng các đồ vật có tuổi thọ bền và phân loại những vật dụng có thể tái sử dụng. Rác thải hữu cơ có thể làm phân bón cây.         

Ngoài đường phố

+ Đi bộ hoặc đi xe ñạp tới các địa điểm gần, giúp tiết kiệm nhiên liệu và giảm thiểu khí gây ô nhiễm.

+ Đi chung xe với bạn bè, đồng nghiệp (đi học, đi chơi...) nếu có thể. Vừa tiết kiệm lại vừa vui vẻ.

Tại trường học

+Giảm lượng giấy sử dụng. Dùng lại giấy một mặt để làm giấy nháp.

+Hãy tạo ra những biển báo nhắc nhở mọi người hãy tiết kiệm nước và điện trong các nhà vệ sinh, phòng học, và toàn nhà trường.

Khi đi chợ

+Giảm bớt túi ni lông: Túi ni lông tràn ngập khắp nơi: mắc lại trong đất, trôi theo những trận mưa và làm ô nhiễm đại dương,…luôn mang theo túi của các em khi đi chợ.

+        Chọn mua các sản phẩm địa phương, vì vận chuyển sản phẩm nhập khẩu sẽ tiêu tốn nhiều nhiên liệu, do đó sẽ phát thải nhiều khí nhà kính.

Tại cộng đồng:

+Tham gia trồng cây, bảo vệ rừng và biển. Các em có thể đã biết cây xanh đem lại rất nhiều lợi ích cho con người, trong đó có lợi ích giảm thiểu hiệu ứng nhà kính do khả năng hấp thụ CO2. Nhưng các em có biết đại dương cũng chính là một bể chứa khí CO2 khổng lồ đấy.

+ Dạy bơi cho trẻ em và phụ nữ vì đây là nhóm người dễ bị tổn thương khi

thiên tai xảy ra. Bơi là một kỹ năng quan trọng giúp họ có thể tự bảo vệ chính mình trong mùa bão lũ.

- Tham gia Truyền thông – Giáo dục: Hãy chia sẻ kiến thức, thông tin và những sáng kiến của bạn với bạn bè, thày cô và các tổ chức, đoàn thể nơi các em sống để cùng nhau hướng tới những việc làm thân thiện với môi trường.

- Tham gia hoạt động tình nguyện: Hãy đóng góp kiến thức, kỹ năng, sức lao động của mình vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Những hoạt ñộng tình nguyện của các cá nhân, tập thể có tác động to lớn tới những nỗ lực phát triển cộng đồng bền vững trước mắt và lâu dài.

- Kết nối sức mạnh tập thể: Hãy tin rằng tin rằng dù hành động của các em dù nhỏ như thế nào, cùng với nhau, chúng ta có thể tạo nên sự thay đổi!

6. Tác động của biển đổi khí hậu với nhóm dễ bị tổn thương

a. Dễ bị tổn thương (hay tình trạng dễ bị tổn thương) là gì?

Trong bối cảnh BĐKH thì tình trạng dễ bị tổn thương được hiểu là những đặc điểm hoặc  điều kiện có tác  động bất lợi  đến cá  nhân,  cộng  đồng trong việc  đối  phó  với thiên tai.

Dễ bị tổn thương có thể trên các mặt của phát triển bền vững:

-        Kinh tế: thu nhập thấp không đủ hoặc chỉ vừa đủ đáp ứng các  nhu cầu cơ bản trong sinh hoạt; cơ sở vật chất thiếu thốn, tạm bợ; thiếu khả năng được đáp ứng các dịch vụ công cộng cơ bản (y tế, giáo dục, nước sạch...)…

-        Xã hội: ít tham gia vào các tổ chức đoàn thể cũng như hoạt động cộng đồng tại địa phương; địa vị xã hội thấp...

-        Môi trường: sinh sống nhiều đời tại những khu vực dễ bị tổn thương do tác động bởi  thiên  tai;  chịu  ảnh  hưởng  bởi  việc  xả  thải  các  hoạt  động  kinh  tế  tại  địa phương…

-        Thái độ: tâm lý thiếu tự tin, bi quan; thiếu sự đoàn kết với tập thể...

  b. Các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong cộng đồng

-        Người nghèo

-        Người cao tuổi

-        Trẻ em

-        Phụ nữ

-        Người khuyết tật

-        Người nhiễm HIV/AIDS

-        Người dân tộc thiểu số

III. QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI VÀ NHIỆM VỤ CỦA TRẺ EM

Như chúng ta đã nghiên cứu ở phần trên: Quản lý rủi ro: là hạn chế các khả năng mà nó gây ra tác động xấu đến cộng đồng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp trẻ em – một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong công đồng hạn chế các khả năng của thiên tai trước khi nó xảy ra, khi đã xảy ra và sau khi thiên tai ập đến đối với nhóm trẻ sao cho phù hợp với khả năng của trẻ nhất. Chúng ta hãy đi vào một số thiên tai thường xuất hiện ở nước ta trong những năm vừa qua để giúp trẻ thực hiện được nhiệm vụ quản lý rủi ro theo độ tuổi của trẻ:

1. Lũ lụt

a. Trước khi lũ lụt xảy ra:

- Theo dõi thông tin về lũ lụt trên vô tuyến, đài hoặc loa phóng thanh công cộng. Bảo vệ các  đồ vật  quý và các giấy tờ quan trọng bằng cách cho vào một chiếc túi không thấm nước  và cất giữ ở nơi khô ráo an toàn.

- Dự trữ đủ lương thực và đồ uống cho gia đình trong ít nhất là 1 tuần để trên nơi kho ráo và an toàn. Nếu có thể thì sửa lại nhà cửa cho chắc chắn, an toàn. Bảo vệ nhà bằng cách nhồi đầy những bao cát để chất xung quang nhà. Nếu nhà có thuyền cần giữ gìn cẩn thận để dùng khi cần thiết.

- Cần chuẩn bị tre và day thừng để làm gác lửng trong nhà để ở tạm. Chú ý phải làm 1 đường ra ở sát mái nhà hoặc trên mái nhà để có thể thoát ra ngoài khi nuớc dâng lên quá cao.

- Xác định địa điểm và phương tiện để di dời khi cần, Bảo bệ nguồn nước của gia đình bằng cách che đạy thật kín các bể chứa nước hoặc giếng của gia đình. Nếu trong gia đình có ai bị ốm, trẻ em càn phải biết nhờ ai giúp đỡ khi xảy ra ngập lụt.

b. Khi lũ lụt xảy ra

- Cắt hết các nguồn điện, di chuyển đến nơi cao ráo và an toàn ( Chú ý rắn rết hoặc những côn trùng khác khi tránh lên những nơi cao ráo).Tuyệt đối không được lội xuống nứoc khi nhìn thấy dây điện hoặc cột điện đổ ngam trong nước, cũng như không chạm vào bất cứ ổ điện nào xung quanh.

- Không đi lại, chơi đùa hay làm việc ở những nơi ngập lụt vì các em có thể bị nước cuốn đi gây chết đuối kể cả khi nước không tạo thành dòng chảy.

- Mặc áo phao nếu các em có, nếu không có các em có thể sử dụng các đồ vật có thể nổi khác như săm ôtô, can nhựa rỗng hoặc thân cây chuối dể di chuyển trong vùng ngập lụt.Tránh xa các bờ sông, suối vì khu vực này dễ bị lở đất và có dòng chảy lớn.

                - Không được uống nước lụt mà hãy hứng lấy nước mưa để uống và nấu  ăn.  Cố gắng đun sôi nước để uống.  Nếu  không có nguồn nước nào khác hãy sử dụng nước đã được  lọc  hoặc  nước đã được khử trùng bằng thuốc.

- Không được ăn thức ăn đã bị ôi thiu hoặc bị ngâm trong nước  lụt vì  không  đảm  bảo  vệ sinh (có nhiều vi khuẩn). Các em có thể bị nhiễm bệnh.

c. Sau khi lũ lụt

-Sử dụng màn khi ngủ kể cả ban  ngày  và ban   ñêm        để tránh côn trùng và   muỗi đốt. Không đến khu vực gần bờ sông hoặc nơi bị sụt lở và khu vực không có người ở. Không được vào bất cứ căn nhà bị ngập nào nếu chưa được người lớn kiểm tra.

- Không dược chạm vào bất cứ ổ điện bị ẩm nào hay bật điẹn len cho tới khi mọi thứ khô hẳn. Cần kiểm tra an toàn điện nước trước khi sử dụng lại.

- Không dùng thức ăn, lương thực đã bị ngập nước, cần nhờ cán bộ y tế, chữ thập đỏ kiểm tra và làm sạch giếng nước trước khi sử dụng lại. Cùng bố mẹ người thân sửa hố xí, khu vực chăn nuôi gia súc, gia cầm

        - Kịp thời đi khám chữa bệnh nếu bản thân trẻ hoặc người thân trong gia đình trẻ bị ốm, tích cực tham gia làm vệ sinh môi trường nơi mình ở. Trồng tre hoặc các cây khác xung quanh nơi ở cua gia đình để chống sói mòn, lở đất

2. Áp thấp nhiệt đới, bão

a. Trước khi có áp thấp nhiệt đới và bão

        - Trồng cây quanh nhà và trường học để tạo hàng rào bảo vệ chắn gió bão và ngăn không cho đất bị bào mòn. Trước mùa bão phải chặt bỏ cành to, cây khô quanh nhà và trong khu vực để giảm nguy cơ cây gẫy đổ vào nhà khi bão xảy ra.

        - Bảo quản các giấy tờ quan trọng trong túi nilon dán kín. Dự trữ lương thực, thực phẩm , chất đốt, nước sạch, thuốc men và các vật dụng cần thiết khác ở nơi an toàn, cao ráo trong mùa mưa bão.

        - Nghe tin bão trên đài truyền thanh, truyền hình và loa truyền thanh công cộng. Mua pin để có thể dùng đài hoặc đèn pin khi bị mất điện. Giúp bố mẹ chằng chống nhà cửa để có thể chịu được gió to, cất tất cả các đồ vật có thể bị gió to thổi vào trong nhà. Bảo vệ nguồn nước khỏi bị ô nhiễm.

        - Xác định vị trí an toàn có thể trú ẩn được nếu phải sơ tán ra khỏi nhà. Đưa gia súc, vật nuôi đến nơi an toàn. Nếu gia đình có thuyền, cần giúp cha mẹđưa chúng vào những nơi an toàn, bảo vệ dung cụ đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản

b. Trong khi có áp thấp nhiệt đới và bão

        - Không ra khơi trong thời gian có áp thấp nhiệt đới và bão. Tránh xa các ổ điện hoặc dây điện đứt

        - Hãy ở trong các khu nhà kiên cố, không được đi ra ngoài. Trông nom các em nhỏ và luôn ở bên cạnh bố mẹ, nguời lớn

        - Không trú ẩn dưới gốc cây to, đứng gần cột điện bởi chúng có thể đổ xuống gây thương tích bất cứ lúc nào trong bão.

c. Sau áp thấp nhiệt đới hoặc bão

        - Tiếp tục nghe và theo dõi tin tức về bão trên đài phát thanh, truyền thanh và các phương tiện truyền thông có thể có được. Nhắc người lớn kiểm tra nguồn điện trong nhà để đảm bảo an toàn khi sử dụng.

        - Kiểm tra và phát hiện những chỗ hư hỏng của ngôi nhà để kịp thời sửa chữa, kiểm tra các nguồn nước xem có bị hư hỏng không? Vật nuôi, cây trồng và các đồ vật khác của gia đình.

3. Sạt lở đất

a. Thời gian chưa có sạt lở đất

        - Trồng cây mới cho những cây đã bị chặt hoặc chết. Không chặt cây, chỉ có thể tỉa bớt cành hoặc chặt phàn cây đã chết, không đựoc róc vỏ cây. Tìm hiểu xem khu vực gần nhà và nơi gia đình ở đã khi nào có sạt lở đất chưa?

        - Gia đình không nên xây nhà ở những khu vực dễ sạt lở như sừơn dốc, vùng ven sông hoặc quá gần bờ biển. Thường xuyên quan sát quanh nhà hoặc nơi ở để phát hiện ra các dấu hiệu sạt lở đất: Cây nghêng bất thường, có những khe hở trong tường nhà, khe nứt ở mặt đất...

        - Nói chuyện với các thành viên trong gia đình về nguye cơ sạt lở và có sự phan công cụ thể các thành viên khi sạt lở đát xảy ra.

b. Những việc cần làm khác khi trời  mưa to và kéo dài

        - Nếu trẻ em sống trong khu vực thường xuyên có sạt lở thì hãy cùng gia đình sơ tán ngay nếu được yêu cầu. Hết sức chú ý cảnh giác nếu gia đình sống gần bờ sông, suối

        - Chú ý lắng nghe dự báo thời tiết và các thông tin cảnh báo từ các phương tiện thông tin đại chúng về các đợt mưa kéo dài. Hãy tỉnh ngủ và sẵn sàng rời khỏi nhà để di chuyển đến nơi an toàn

        - Cần phải lắng nghe bất kỳ tiếng đông nào không bình thường nào, có thể do chuyển động của đất đá trước khi sụt lở. Chú ý quan sát sự thay đổi của nước từ trong sang đục, đó có thể là do đã có sự sạt lở ở đầu nguồn, khi đó thì sẵn sàng rời khỏi nhà không được chậm trễ.

        - Hãy tránh xa các dòng chảy của sạt lở đất, nếu không kịp chạy thì hãy đưa 2 tay lên ôm lấy đầu và cuộn tròn nguời lại.

c. Sau khi sạt lở đất

        Hãy tránh xa khu sạt lở đất vì nền đất ở những khu vực này chưa ổn định và vẫn tiếp tục có nguy cơ tiếp tuc sạt lở. Không được vào bất cứ ngôi nhà nào ở khu vực đó nếu người lớn chưa kiểm tra độ an toàn.

4. Hạn hán

a. Trước khi hạn hán

- Thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết trên đài phát thanh và truyền hình, truyền thanh địa phương để biết thêm thông tin và cảnh báo hạn hán đặc biệt nghe tình hình về lượng mưa: mưa it hay không mưa trong thời gian dài.

- Không làm lãng phí nước, bảo vệ nguồn nước một cách đặc biệt. Sửa chữa ống nước, vòi nuớc đã bị vỡ. Dự trữ nước sach trong tất cả các vật dụng có thể đưng đựoc nước, đểdành cỏ, nguyên liệu để cho vật nuôi cũng như giữ gìn những hat giống cây tròng chuẩn bị cho các đợt sau hạn hán.

b. Trong khi hạn hán

- Theo dõi dự báo thời tiết trên đài phát thanh và truyền hình, truyền thanh địa phương để biết thêm thông tin và có những lời khuyên đúng trong khi hạn hán vẫn đang xảy ra.

- Triệt dể tiết kiệm nước, có thể xử dụng nước sạch nhiều lần trong các công việc khác nhau. Ví dụ: Có thẻ tưới cây bằng nước đã qua sử dụng. Gúp Bố mẹ đi lấy nước ở nơi xa về để phục vụ sinh hoạt.
c. Sau han hán

- Ổn định cuộc sống, giúp gia đình gieo trồng hoặc chăm sóc cho cây cối, vật nôi khi có nguồn nước. Giúp gia đình sửa chữa các vật dụng đụng nước, tiếp tục một quy trình chống hạn hán mới.

5. Dông và sét

        Nếu nhìn thấy cơn dông sắp trà đến, hãy di vào nhà và ngồi trên ghế hoặc gường gỗ, chân không được chạm đất. Nếu không vào nhà được và cảm thấy sét sắp đánh hãy thu mình lạivà ngồi xổm kiểu con ếch trên đầu ngón chân, đặt 2 tay lên đầu gối và cúi thấp đầu xuống.

        Hãy tránh xa những vật cao như: Cây đơn độc, các ngọn tháp, hàng rào, cột điện, đường dây điện và điện thoại bởi chúng là những thứ thu sét. Khi dông tố xảy ra không được đi ra ngoài, đi xe đạp hoặc cầm chạm vào các vật kim loại.

        Nếu đang ở trên thuyền hoặc đang bơi hãy vào bờ ngay lập tức vì nước mưa là chất dẫn điện. Hãy tắt các thiết bị điện ( có thể để đèn), không xử dung điện thoại cho đến khi hết dông.

Các em có biết rằng các em có thể tính được cơn dông ở cách em bao xa bằng cách đếm số giây trong khoảng thời gian từ khi nhìn thấy ánh chớp đến khi nghe thấy tiếng sấm không? Một khoảng thời gian 3 giây sẽ tương đương với 1km.

6. Lốc

        Khi lốc xảy ra cần tuyệt đối tránh đường đi của lốc và tìm nơi trú ẩn an toàn nếu có thể chạy kịp.Nên ở trong nhà khi biết có lôc xảy ra, nên trú dưới gầm cầu thang, gầm bàn hoặc gầm giường. Khi đi trên đường nếu lốc đên nhanh cần nhảy nhanh vào đường hào bên đường hoặc nằm sát xuống đường.

7. Mưa đá

        Khi xảy ra mưa đá tuyệt đối không được chạy ra ngoài trời, cho đên skhi nào tanh hẳn. Nếu đang đi trên đường gặp mưa đá hãy cố gắng dùng mọi vật dung có thể để che cắn bảo vệ đầu như: cặp sách, vở, bảng...

8. Động đất

a. Trước khi xảy ra động đất

        - Cần tập luyện những cách ứng phó với động đất, xác định những nơi an toàn trong truờng học và ở gia đình để ứng phó ( ở nhà trường thì đó là những chiếc gầm bàn chắc chắn..)

b. Khi động đất xảy ra

        - Nếu đang ở trong nhà cần nhanh chóng di chuyển đến nơi an toàn ( chỉ trong vài giây), thực hiện động tác: chui xuống gầm bàn, tay giữ chặt lấy chân bàn, đảm bảo đầu và cổ đựoc bàn che phủ.

- Tránh xa các đồ vật cứng hoặc đồ điện, nếu ở bên ngoài nhanh chóng thực hiện động tác ngồi xụp xuống hai tay che dầu và giữ thật chặt.

c. Sau khi động đát xảy ra

        - Sau các trận động đát thường có các dư chấn, cần phải nghe lời nguowif lớn hoặc đội cứu hộ. Nếu sống trong các tòa nhà sụo đổ vì động đát cần nhanh chóng tìm lối thoát thân hoặc kêu to đê báo hiệu cho lực lượng ứng cứu.

        - Hãy quan sát các mối nguy hiểm xung quanh như: bức từong nứt, hàng rào, tòa nhà không an toan... để mà tranh xa.


BÀI 2

MỘT SỐ KỸ NĂNG TRONG QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO TRẺ EM

   Thời gian: 8 giờ

A. Mục tiêu:

a)Kiến thức:

        Trang bị các kién thức cơ bản trong quản lý rủi ro và biến đổi khí hậu đối với trẻ em

  1. Kỹ năng

Có khả năng thực hiện các kỹ năng để ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu : Kỹ năng lâp bản đồ rủi ro; Kỹ năng thoát hiểm; Kỹ năng mặc áo phao; Kỹ năng chuẩn bị dụng cụ khẩn cấp;

  1. Thái độ

Hình thành cho trẻ em có thái độ không chủ quan và chủ động khi thiên tai xảy ra trên địa bàn của trẻ em sinh sống

        

B. Nội dung

I. KỸ NĂNG LẬP BẢN ĐỒ RỦI RO

1. Khái niêm Bản đồ rủi ro:

Bản đồ rủi ro là một bản phác họa về một vùng hay một nơi do con người lập ra, nó giúp chúng ta biết được các rủi ro, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực cộng đồng trong  mối tương quan với các hiểm họa.

2. Khái niệm Nguồn lực cộng đồng:

Đó chính là những khả năng của cộng đồng trong việc ứng phó, phòng ngừa ( trung tâm  cứu hộ, nhà an toàn, đài truyền thanh, nhà giữ trẻ… )

  1. Các bước lập bản đồ rủi ro

      a.Phác họa về bản đồ : 

Trước khi vẽ được bản đồ rủi ro cần phải phác thảo được bản đồ cộng đồng còn gọi là vẽ bản đồ cơ sở, với các yêu cầu sau: Mô tả được vị trí của địa bàn thôn, xã thông qua các vị trí cố định như: Trụ sở ủy ban, đừong liên thôn liên xã, bệnh viện, trạm y tế, trường học, chợ, bến xe, đơn vị bộ đội và vị trí đương biên giới của thôn, xã đối với các địa phương.

     b.Xác định vai trò và trách nhiệm của từng thành viên: 

Cần xác định cho các bạn trong nhóm những nhiệm vụ thật cụ thể và rõ ràng. Cần phân cong trách nhiệm cho trưởng nhóm, phó trưởng nhóm, các đội viên phụ trách các mảng công việc để chuẩn bị cho việc tiếp cận cộng đồng thu thập thông tin để vẽ bản đồ rủi ro. Thông thường có thể phân công trong 1 nhóm như sau:

        - Trưởng nhóm: Phụ trách chung

        - Phó trưởng nhóm 1: Phụ trách hậu cần, thiết bị

        - Phó trưởng nhóm 2: Phụ trách chuyên môn: Công tác khảo sát thực địa, phỏng vấn chuyên môn, phân tích thông tin…

        - Các thành viên: tùy theo số lượng thành viên trong nhóm để phân công cho hợp lý: Chuẩn bị phỏng vấn, xây dựng bảng hỏi, quan sát cộng đồng, xây dựng cơ chế thu nhận thông tin, xử lý thông tin,

  1. Chuẩn bị cho công việc thực địa, thiết kế câu hỏi: 

Cần tập trung vào một số công viêc sau đây:

+ Tìm hiểu trung tâm y tế, bệnh viện

+ Nguồn lực chăm sóc y tế ( Bác sĩ, y sĩ, y tá, tình nguyện viên y tế )

+ Quản lý vệ sinh và nước thải

+ Các nguồn nhiễm bệnh và trung gian truyền bệnh

+ Vị trí của những người có vấn đề về sức khỏe

+ Nhà ở, các công trình xây dựng

+ Cơ sở hạ tầng như nước sinh hoạt, đường xá, cầu cống

+ Đê điều, trụ cầu, dòng sông, nước chảy…

+ Công cụ và thói quen giao tiếp, thông tin.

+ Ai là nhóm người dễ bị tổn thương

+ Trẻ em, người già… ở đâu? Số lượng bao nhiêu?

+ Trẻ em tại địa bàn khi có đến trường không? Số trẻ không đến trường sống ở đâu?

+ Các địa điểm, trung tâm người dân hay tụ tập thì ở đâu? Ai quản lý các địa điểm đó?

+ Những tổ chức nào hoạt động tại địa bàn? Công việc họ là gì?

Tổ chức cho trẻ đi  thực địa:

    d.Thực hiện khảo sát tại cộng đồng để xác định rủi ro, nguồn lực

        Căn cứ phần chuẩn bị thực địa ở mục trên, cần tổ chức cho trẻ đi khảo sát cộng đồng theo các nhóm với các phương tiện phù hợp. Điều quan trọng là phải bám sát những nội dung và bảng hỏi đã đựoc chuẩn bị.

        Ghi chép, ghi âm hoặc dùng nhiều biện pháp khác nhau để ghi nhận lại tất cả các thông tin có được vào sổ sách, băng cassette. Đảm bảo cho cấc cuộc thực địa an toàn và đầy đủ trong toàn địa bàn của địa phưưong nơi cần xây dựng bản đồ rủi ro.

  1. Thảo luận và phân tích thông tin thu thập được

Việc phân tích xử lý thông tin thu thập được là việc làm cực kỳ quan trọng cho việc xây dựng chính xác bản đồ rủi ro tại cộng đồng. cần tập trung vào môt số hoạt động sau đây:

  1. Đưa những thông tin chính lên bản đồ

Tất cả các thông tin được xử lý cẩn thận ở bước trên đều được đưa vào bản đồ thông qua một hệ thống các ký hiệu thật dễ hiểu cho người xử dụng. Các kí hiệu đó cần dễ xem, dễ nhìn và có sự thống nhất các ký hiệu trong cộng đồng cũng như những ký hiệu đã quen thuộc quy định trên các bản đồ theo thông lệ quy định.

  1. Treo bản đồ tại những nơi công cộng trong cộng đồng

Khi hoàn thành Bản đồ rủi ro cho 1 cộng đồng việc quan trongụ là phải cho tát cả mọi nguời trong cộng đồng xem đựợc bản đồ này để phòng tránh cho bản thân và gia đình họ.

Để mọi người có thể xem dẽ dàng bản đồ rủi ro thì bản đồ này cần phải được treo những nơi như cổng ủy ban nhân dân; cổng chợ; trường học hoặc những nơi thuận lợi đi lại của người dân trong cộng đồng

Để thông tin của bản đồ đến từng người trong cộng đồng, cần tranh thủ các phương tiện thông tin như đài truyền thanh xã, thôn thông báo địa điểm dán bản đồ và cũng có thể đưa thông tin yêu cầu mọi người đến và đọc để có những phương án phòng ngừa hữu hiệu.

4. Một số vấn đề cơ bản cho một cuộc phỏng vấn thu thập thông tin để vẽ bản đồ

4.1. Khái niệm

Phỏng vấn có sự tham gia của trẻ là một hình thức tác động giữa các cá nhân có ý thức với mục đích kế hoạch cụ thể và nó đòi hỏi các kỹ năng giao tiếp đặc biệt để có được những thông tin về trẻ em, vấn đề mà trẻ em quan tâm. Mặt khác cung cấp lượng thông tin mới cho trẻ em, cùng trẻ em tham gia giải quyết các vấn đề của trẻ.

4.2. Đặc điểm của một cuộc phỏng vấn

- Phải có mục đích cụ thể, rõ ràng.

- Có kế hoạch chi tiết.

- Có kỹ năng và phương pháp tiếp cận.

4.3. Các yếu tố đảm bảo cho một cuộc phỏng vấn tốt

- Bối cảnh: chú ý môi trường, thời gian, không gian, địa điểm.

- Chú ý đến đặc điểm cá nhân của trẻ, xem xét mối quan hệ giữa trẻ em và người phỏng vấn, những nhu cầu, trình độ văn hoá, tâm trạng của trẻ.

- Khi tiếp cận trẻ để có cuộc phỏng vấn cần chú ý:

+ Tạo sự đồng cảm, chúng ta phải là người chủ động để tạo sự thân thiết ban đầu.

+ Tôn trọng quyền được giữ bí mật và quyền tự quyết của trẻ.

+ Khi tiếp cận để phỏng vấn phải luôn tỏ thái độ chân thành, cởi mở đối với trẻ.

+ Khẳng định được mối quan hệ thân thiện giữa 2 người.

4.4. Các bước cho một cuộc phỏng vấn có sự tham gia của trẻ.

a. Bước chuẩn bị

- Xác định rõ mục đích, ý nghĩa, phương pháp và đối tượng cần phỏng vấn (là trẻ em loại nào?)

- Chuẩn bị thật kỹ hệ thống các câu hỏi (câu hỏi chuẩn vị phải bám sát mục đích đó là thu thập thông tin để vẽ bản đồ rủi ro; có thể sử dụng cả hai loại câu hỏi đóng và câu hỏi mở)

+ Câu hỏi đóng: Là loại câu hỏi soạn ra để cho trẻ em chỉ trả lời có hoặc không; đồng ý hoặc không đồng ý.

+ Câu hỏi mở: Là loại câu hỏi gợi ý để cho trẻ em tự nói ra những suy nghĩ của trẻ về mục đích mình đặt ra.

- Tham khảo một số tài liệu có liên quan đến cuộc phỏng vấn, chuẩn bị sách bút ghi chép; tìm hiểu một số thông tin trước về đối tượng cần phỏng vấn.

- Chủ động hẹn thời gian, địa điểm cho buổi tiếp cận phỏng vấn.

b. Bước tiếp cận với trẻ và mở đầu phỏng vấn

- Chào hỏi, làm quen với trẻ.

- Giới thiệu về bản thân với trẻ.

- Giải thích cho trẻ em biết mục đích của buổi phỏng vấn.

- Tạo bầu không khí thoải mái với trẻ bằng các hoạt động như: kể chuyện, hát tập thể, trò chơi.v..v..

- Trong các trường hợp nhạy cảm, chúng ta cần đảm bảo với trẻ em rằng những thông tin được trao đổi sẽ được giữ bí mật.

c. Bước triển khai các nội dung phỏng vân trẻ

Khi đã tạo được bầu không khí và mối quan hệ tin tưởng của trẻ, chúng ta sẽ triển khai cuộc phỏng vấn thông qua  hệ thống Bảng hỏi đã được chuẩn bị sẵn. Khi tiến hành phỏng vấn cần chú ý:

- Luôn phải định hướng, bám sát mục tiêu và những nội dung đã được chuẩn bị sẵn.

- Khai thác những thông tin cần thiết cho mục đích thông qua các câu hỏi thêm và khuyến khích trẻ cung cấp thông tin.

- Có thể trao đổi thảo luận với trẻ khi thấy thông tin đó là quan trọng và giúp trẻ nắm rõ vấn đề.

- Luôn luôn tỏ sự đồng cảm và tin tưởng ở trẻ.

d. Bước kết thúc phỏng vấn

   Trước khi kết thúc một cuộc phỏng vấn với trẻ cần:

+ Thảo luận với trẻ về những buổi tiếp theo chúng ta cùng trẻ bàn bạc, xây dựng kế hoạch làm việc gì?

+ Nên chia sẻ một số thông tin cho trẻ liên quan đến vấn đề cần quan tâm (ví dụ: trẻ em tham gia các dự án như thế nào? làm thế nào để viết thư cho người giúp đỡ có hiệu quả nhất? việc tổ chức các hoạt động cho trẻ em tại cộng đồng..v..v)

+ Hẹn và bố trí các cuộc gặp tiếp theo (nếu cần phải tiếp tục)

+ Tạo bầu không khí tin tưởng khi kết thúc phỏng vấn bằng các hoạt động, tuỳ thuộc điều kiện, thời gian

4.5. Một số điều cần chú ý khi tiến hành phỏng vấn trẻ em.

- Cách đặt câu hỏi cần phải chuẩn bị theo độ tuổi, trình độ văn hoá và kể cả yếu tố về giới (trẻ em nam, trẻ em nữ)

- Các câu hỏi phải thật đơn giản, ngắn gọn.

- Khi trẻ trả lời, nên chỉ cho trẻ nói hết câu; nếu trẻ cảm thấy bí từ thì có thể gợi ý cho trẻ.

- Cần có biểu hiện thái độ thân thiện thông qua hành vi cử chỉ, nét mặt để động viên trẻ nói.

- Luôn tạo niềm tin cho trẻ trong quá trình phỏng vấn và đôi khi nhắc lại quyền được giữ bí mật nhiều lần để được an toàn.

- Khi thấy trẻ không thoải mái (trẻ có thể khóc, giận giữ hoặc im lặng) cần dừng việc phỏng vấn và chuyển sang  các hoạt động khác tạo niềm tin và sự hứng khởi cho trẻ.

- Khi phỏng vấn nên chọn địa điểm và cách ngồi  ngang bằng vơi ánh mắt của trẻ để dễ gây lòng tin và không làm cho trẻ sợ.

5.Xây dựng chiến dịch truyền thông giáo dục giảm nhẹ thiên tai

5.1. Mục tiêu:

- Giúp trẻ hiểu được lợi ích của chiến dịch TTGD trong giảm nhẹ rủi ro thảm họa và cung cấp những kỹ năng giúp trẻ em có thể lập kế hoạch và xây dựng những tài liệu và hoạt động truyền thông đơn giản.

- Cung cấp thông tin về giảm nhẹ thiên tai cho các bạn trong trường học, bạn bè, người lớn ở nơi mình sinh sống.

5.2. Nội dung:

+ Nguyên tắc tiến hành một chiến dịch truyền thông

+ Xây dựng tài liệu và hoạt động cho chiến dịch truyền thông

5.3. Tài liệu và phương tiện truyền thông

a. Tài liệu

+ Áp phích

+ Tờ rơi

+ Sách truyện

+ Băng đĩa

+ Hóa trang

b. Phương tiện

+ Phát thanh

+ Truyền hình

+ Sân khấu hóa ( kịch, vè, múa rối .. )

+ Các cuộc thi

+ Lễ hội

5.4. Nội dung 1 buổi truyền thông cần chú ý các điểm sau:

II.KỸ NĂNG THOÁT HIỂM

1.Khái niệm: 

Thoát hiểm là dùng phương án thoát khỏi những nơi có thảm họa xảy ra một cách nhanh nhất, bằng mọi phương tiện và bằng mọi giá nhằm đảm bảo sự an toàn cao nhất về tính mạng và tài sản của con người.

2. Phương án thoát hiểm

        Trong các hoạt động ứng phó với các thiên tai và biến đổi khí hậu, các giảng viên cần xây dựng các phương án cụ thể giúp học sinh thoát hiểm khỏi những tình trạng khẩn cấp, căn cứ vào điều kiện của từng trường, lopứ để có cách ứng phó một cách hợp lý nhất và đạt hiệu quả cao nhất.

        Cần tập trung theo quy trình luyện tập ứng phó với các bước sau để đạt hiệu quả cao khi có sự cố xảy ra nhằm thoát hiểm một cách nhanh nhất:

  1. Tạo ra loại thiên tai giả định: như động đất, hỏa hoạn, sạt lở đất, lũ quét, lốc mạnh..
  2. Thống nhất các dấu hiệu cảnh báo ứng với từng loại thiên tai có thể sẽ xảy ra trên địa bàn ( xem phần các dấu hiệu của thiên tai ở bài 1)
  3. Quy định những hiệu lệnh thoát hiểm: bằng trống, bằng còi, hoặc bằng ra lệnh…tuy nhiên, cũng cần phải có sự thống nhất các hiệu lệnh như mấy hồi trống là báo động loại1; mấy hồi trống là báo động khẩn cấp…
  4. Quy định tuyến thoát hiểm: Sao cho phù hợp với điều kiện của từng trường, theo từng địa bàn cụ thể. Chẳng hạn: tuyến dọc hành lang ra cầu thang là tuyến thoát hiểm số 1; tuyến chạy thẳng ra cầu thang phụ xuống tầng, chạy ra sân trường là lối thoát hiểm số 2….cứ như vậy toàn thể giáo viên, học sinh phải thuộc các lối thoát hiểm theo hiêu lệnh. Có thể có những quy định về thời gian thoát hiểm để đảm bảo cao nhất sự an toàn tính mạng của con người.
  5. Địa điểm sơ tán: Cần quy định thật rõ và chi tiết đia điểm tâp kết của tất cả mọi người khi có hiệu lệnh thoát hiểm. địa điểm lựa chọn phải đảm bảo sự an toàn cho tất cả mọi người và là nơi có quãng đường gần nhất đối với nhà trường.
  6. Quy định thời gian thoát hiểm: sau khi có nhưng phương án và địa điểm tập kết sau khi thoát hiểm cần xác định thời gian thật chính xác xem từ khi phát lệnh thoát hiểm đén khi tatá cả moi nguời tập kết ở nơi an toàn hết thời gian bao lâu? Nếu không đảm bảo thời gian cần có những phương án khác cho phu hợp hơn.

Chi tiết tập luyện theo các bước trên có thể theo quy trình sau:

Bước 1: Nêu tình huống giả định

Bước 2: Báo động toàn trường bằng hiệu lệnh ( Trống hoặc còi)

Bước 3: Hướng dẫn học sinh, giáo viên di chuyển theo hướng đã lựa chọn

Bước 4: Tập hợp các học sinh, giáo viên tại địa điểm sơ tán

Bước 5: Kiểm tra số lượng học sinh, giáo viên ở nơi tập kết

Bứớc 6: Tính thời gian tập kết sau khi phát hiệu lệnh

III. KỸ NĂNG MẶC ÁO PHAO

        

Để mặc áo phao đúng cách chúng ta cần chuẩn bị cho học sinh tuân theo các bước sau đây:

        Bước 1: Lựa chọn áo phao cho vừa với thể hình của từng người ( đặc biệt là học sinhlứa tuổi tiểu học). Áo phao vừa với từng người phải là những áo phao mặc vào người và cài được các nút buộc cho vừa sát với thân người, không quá chặt và không quá lỏng.

        Bước 2: Xác định độ an toàn của áo phao, cần xác định rõ đâu là áo phao an toàn: áo phao an toàn là những áo phao đảm bảo sự sống cho hoc sinh, con nguời khi bị rơi xuống nứớc ( phải đảm bảo độ nổi trên mặt nước cho con người mặc áo phao)

        Bước 3: Mặc áo phao đúng cách. Mặc áo phao đúng cách theo các bước sau đây:

IV. KỸ NĂNG CHUẨN BỊ DỤNG CỤ KHẨN CẤP

        1. Túi đựng dụng cụ khẩn cấp là gì?

                Túi dụng cụ khẩn cấp là túi đựng những đồ vật giúp cho con người khi gặp thảm họa có những phương tiện đảm bảo sự sống trong 1 thời gian cho con người và người than của họ.

        2. Kỹ năng chuẩn bị dụng cụ khẩn cấp

                Bước 1: Chuẩn bị túi bằng vải chắc, dễ buộc dễ mang theo người

                Bước 2: Lựa chọn các dụng cụ cần thiết cho vào túi. Việc này cần phải tuân theo những quy định cụ thể theo các vùng có những thiên tai nào thường xảy ra. Ví dụ: nếu chuẩn bị túi khẩn cấp đối với vùng thường xảy ra lũ lụt sẽ khác với các vùng thuwongf xảy ra động đất..

                Bước 3: Những vât liệu quan trong: Thuốc chữa bệnh, nứớc uống, lương khô, dụng cụ cần thiết gọn nhẹ phục vụ sinh hoạt cá nhân và gia đình

3. Gợi ý cho việc chuẩn bị các túi khẩn cấp

        - Khi có thiên tai, trẻ em và ngừoi thân có thể bị ốm nên cần có thuốc và túi cứu thương trong túi đựng dụng cụ khẩn cấp.

        - Nếu thiên tai xảy ra vào ban đêm, tuíu khẩn cấp cũng cần có đèn pin

        - Thực phẩm khô như lương khô, bánh kẹo, thực phẩm đóng hộp, mì tôm sẽ rất cần thiết trong túi dụng cu khẩn cấp.

        - Bão lụt có thể phá hủy đường ống nước và nguồn nước sạch, do vậy cũng cần phải có nước sạch trong túi khẩn cấp

        - Nhất định phải có diêm hoặc bật lửa phòng thân khi lũ lụt xảy ra

        - Bát đũa, thìa và một số dụng cụ cá nhân nếu được chuẩn bị sẽ giúp cho trẻ thoải mái hơn khi lũ lụt xảy ra

        - Thiên tai có thể phá hỏng ngôi nhà của em nên có thể mang theo một số giấy tờ quan trọng của gia đình, giấy này cần được gói cẩn thận bằng giấy nilon không thấm nứoc để bảo quản

        - Ngoài ra một số người có thể mang theo những vật dụng khác như tiền, sổ tay…vì những thứ đó quan trọng với họ.Nhưng đièu quan trọng nhất là trẻ em nhớ nên mang gì và không nên mang gì khi có thiên tai xảy đến. Nếu nhà của các em nằm trong khu vực xảy ra thiên tai nhưng các em đã ở nơi an toàn thì các em không nên quay lại để lấy túi khẩn cấp nữa.

        

BÀI 3

TỔNG QUAN VỀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH Ở TRẺ EM

Thời gian: 3 giờ

A. MỤC TIÊU

a) Kiến thức:

+ Học viên nắm được vấn đề TNTT là vấn đề sức khỏe cộng đồng và mang tính toàn cầu; Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em của Việt Nam và các loại tai nạn thương tích trẻ em

b) Kỹ năng

+ Có khả năng nhận biết đươc các loại tai nạn thương tích thường xảy ra đối với trẻ em

c) Thái độ::

+ Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về tai nạn thương tích từ đó ý thức được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về phòng chống tai nạn thương tích trong đời sống tại cộng đồng, gia đình, nhà trường.

B. NỘI DUNG

I. TAI NẠN THƯƠNG TÍCH LÀ VẤN ĐỀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG VÀ MANG TÍNH TOÀN CẦU

1. Khái niệm

a. Tai nạn thương tích

Tai nạn là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thương cho cơ thể về thể chất hay tinh thần, tình cảm của nạn nhân. Tai nạn thường dẫn đến thương tích.

Thương tích hay còn gọi là “chấn thương” là những tổn thương thực thể của cơ thể do phải chịu tác động đột ngột ngoài khả năng chịu đựng của cơ thể hoặc bị rối loạn chức năng do thiếu yếu tố cần thiết cho sự sống như không khí, nước, nhiệt độ phù hợp. Thương tích gây ra thiệt hại về thể chất và tinh thần cho người gặp phải tai nạn hay một rủi ro nào đó.

Rất khó phân định rõ ràng giữa 2 khái niệm “Tai nạn” và “Thương tích”; do vậy, thuật ngữ “Tai nạn thương tích” thường được dùng để chỉ những tổn thương cơ thể ở các mức độ khác nhau do tiếp xúc cấp tính với các nguồn năng lượng (có thể là tác nhân cơ học, nhiệt, hóa chất hoặc chất phóng xạ) với mức quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cơ bản của sự sống như thiếu ô xy hoặc mất nhiệt (trong các trường hợp chết đuối, lạnh cóng).

Tai nạn thương tích là những sự việc xảy ra, gây tổn thương đến sức khỏe thể chất (chấn thương phần mềm, gãy vỡ xương, tàn tật suốt đời,...) và tinh thần (lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn,...) cho người bị tai nạn, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.

Những sự việc gây tai nạn thương tích có thể dự đoán trước và phần lớn có thể tránh được nếu con người có ý thức phòng ngừa.

b. Phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em

Trẻ em thường dễ bị tai nạn thương tích do đặc điểm tâm sinh lí của trẻ, do sự thiếu chăm sóc của gia đình hoặc do người lớn thiếu ý thức bảo vệ an toàn cho trẻ.

Phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em được hiểu là việc thực hiện tất cả các biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em tránh được sự tổn thương về thể chất và tinh thần.

Phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em đòi hỏi sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, của cộng đồng, của gia đình, của toàn xã hội và của chính trẻ em.

2. Tai nạn thương tích là vấn đề của y tế công cộng và mang tính toàn cầu

Trên toàn thế giới, tai nạn thương tích nói chung và tai nạn thương tích đối với trẻ em thực sự đang là vấn đề y tế công cộng và vấn đề của sự phát triển. Xét về khía cạnh y tế, tai nạn thương tích thực sự là một vấn đề thuộc về sức khỏe cộng đồng. Theo tổ chức Y tế thế giới, tai nạn thương tích chiếm vị trí nhất nhì trong các nguyên nhân nhập viện; là nguyên nhân chính gây tàn phế, chiếm tỷ lệ cao trong những năm sống bị mất tiềm năng. Tai nạn thương tích cũng chiếm 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu.

Ngày nay, tai nạn thương tích thực sự là một vấn đề toàn cầu và là một đại dịch với xu hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Trên toàn thế giới trung bình mỗi năm có khoảng 4,2 triệu người tử vong liên quan tới tai nạn thương tích (P.Gracer). Nhìn chung, những nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích ở các nước đang phát triển do nhiều nguyên nhân; trong đó, thường là do các nguyên nhân sau đây (xếp theo thứ tự mức độ trầm trọng giảm dần): giao thông, ngã, ngộ độc, chết đuối, bỏng, tự tử, giết người,...

Tai nạn thương tích trẻ em cũng đang là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng, mang tính toàn cầu. Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 830.000 trẻ em tử vong do tai nạn thương tích không chủ định, tương đương với khoảng 2.000 trẻ tử vong trong một ngày (Peden 2008). Theo Tổ chức Y tế thế giới (2008), nguyên nhân tai nạn thương tích gây tử vong hàng đầu ở trẻ em là tai nạn giao thông đường bộ (260.000 trường hợp/năm), đuối nước (175.000 trường hợp/năm), bỏng (96.000 trường hợp/năm) và ngả (47.000 trường hợp/năm). Tuy nhiên, tình trạng tử vong chỉ là một phần của gáng nặng bệnh tật do tai nạn thương tích gây ra cho trẻ em; bởi vì, ngoài số trẻ em bị tử vong do tai nạn thương tích nêu trên, vẫn còn hàng chục triệu trường hợp trẻ em khác phải nhập viện do tai nạn thương tích và thường để lại những hậu quả lâu dài về sức khỏe, tâm lý và tinh thần, thậm chí để lại những khuyết tật suốt đời.

Các nghiên cứu sau đây cho thấy, từ những năm 70 của thế kỷ 20 nhờ những nỗ lực phòng, chống tai nạn thương tích thành công nên tỷ lệ tử vong ở trẻ em do các nguyên nhân liên quan đến tai nạn thương tích đã giảm đáng kể ở các nước có thu nhập cao. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển gánh nặng bệnh tật do tai nạn thương tích đang ngày càng gia tăng (Howe và cộng sự, 2006). Một nghiên cứu tiến hành tại Bangladesh, Trung quốc, Philippines, Thái lan và Việt Nam cho thấy tai nạn thương tích là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ từ 1 tuổi trở lên ở tất cả các quốc gia điều tra (Linnan và cộng sự, 2007). Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tương ứng với mỗi trường hợp tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ dưới 18 tuổi, thì có 12 trẻ cần phải nhập viện hoặc để lại khuyết tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm do tai nạn thương tích (Linnan và cộng sự, 2007).

Phân tích thực trạng trên cho thấy tác động tiêu cực của tai nạn thương tích đối với trẻ em và gia đình của trẻ, cũng như đối với cộng đồng, xã hội là vô cùng to lớn.

3. Phân loại tai nạn thương tích ở trẻ em

Tai nạn thương tích ở trẻ em thường được phân thành 2 loại: tai nạn thương tích có chủ định, chủ ý và tai nạn thương tích không chủ định.

Tai nạn thương tích có chủ định, chủ ý thường là hậu quả của hành vi có chủ định, chủ ý của con người gây ra như tự thương, tự tử; thương tật do bạo lực, xâm hại hoặc bị bỏ rơi. Chẳng hạn: do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi như hiếu động, tò mò hay bắt chước,... hoặc thiếu trải nghiệm nên trẻ chưa hình dung hết hậu quả của hành vi; dẫn đến trẻ có thể sử dụng một số phương tiện để nghịch chơi gây tai nạn thương tích như vật nhọn, dao, kéo, hung khí, vật cháy nổ, leo trèo....Hoặc những hành động có chủ định như chiến tranh, bạo lực học đường, tự tử, bạo hành gia đình,... gây ra những tai nạn thương tích cho trẻ em.

Tai nạn không chủ định thường xảy ra đột ngột, bất ngờ, khó có thể dự đoán trước được như tai nạn giao thông, ngã, bỏng, ngộ độc, bị đuối nước; do bị côn trùng và động vật (chó, mèo, rắn, rết,...) cắn; do bom mìn và các vật liệu cháy nổ gây ra;...

Thống kê cho thấy tỷ lệ trẻ em và thanh thiếu niên bị thương tích và tử vong phần lớn là do tai nạn thương tích không chủ định (90%) trong đó chỉ riêng các ca tai nạn giao thông và đuối nước đã chiếm khoảng 50% các ca tử vong do TNGT. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc phân loại tai nạn thương tích vào nhóm chủ định hoặc không chủ định chỉ mang tính tương đối, rất khó phân biệt được rõ ràng đâu là nguyên nhân chủ định hay không chủ định. Ví dụ: một vị thành niên bị xâm hại tình dục, trong nhiều hoàn cảnh rất khó để phân biệt rạch ròi đâu là chủ ý (chủ động của vị thành niên) đâu là tình trạng bị xâm hại; hoặc khi có một thiếu niên bị ngã từ cầu thang của trường học trong tình huống học sinh tan học, có trường hợp cũng rất khó xác định được sự rõ ràng giữa bị tự ngã hay bị xô đẩy nên ngã xuống.

Phần lớn những tai nạn thương tích ở cả hai loại này đều có nguyên nhân, vì thế có thể giáo dục trẻ em phòng tránh được.

II. TAI NẠN THƯƠNG TÍCH ĐỐI VỚI TRẺ EM Ở VIỆT NAM

1. Tình hình tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam

Ở Việt Nam tai nạn thương tích trẻ em đang trở thành một vấn đề y tế cộng đồng đe dọa tới sự sống còn và phát triển của trẻ em. Mặc dù, thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước đã đem lại nhiều thay đổi về kinh tế và xã hội, trong lĩnh vực y tế cũng đã có nhiều thay đổi tích cực như xu hướng bệnh tật và các bệnh truyền nhiễm giảm xuống nhanh chóng; tuy nhiên, các bệnh không truyền nhiễm và tai nạn thương tích lại gia tăng ngày càng lớn[1].

Hiện nay, dân số Việt Nam có gần 87 triệu người; trong đó, khu vực thành thị khoảng hơn 25 triệu người (29,6%), khu vực nông thôn hơn 60 triệu người (70,4%), khoảng 34% là người dưới 18 tuổi. Mặc dù còn nhiều hạn chế về thông tin số liệu để có thể thống kê một cách đầy đủ về tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em Việt Nam, tuy nhiên những dẫn chứng sau đây cho thấy tai nạn thương tích trẻ em ngày một gia tăng và đang trở thành một vấn đề rất đáng quan tâm của y tế cộng đồng. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, năm 2010 cả nước xảy ra trên 75.000 trường hợp tai nạn thương tích trẻ em; có thể nói, tai nạn thương tích đã trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em Việt Nam từ 1 tuổi trở lên. Năm 2009 có 7.198 trẻ trong độ tuổi từ 0-19 tử vong từ những tai nạn thương tích có thể phòng chống được. Ngoài ra, một bản điều tra theo vùng do Liên minh Vì sự an toàn của trẻ em (TASC) tiến hành gần đây cho biết, tương ứng với một trẻ tử vong thì có 12 trẻ nằm viện hoặc thương tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc không thể đi học, đi làm do tai nạn thương tích[2].

Tình hình tai nạn thương tích trẻ em Việt Nam không chỉ gia tăng mà còn diễn biến rất phức tạp với nhiều hình thức đa dạng và nghiêm trọng đe dọa đến tính mạng, có thể dẫn đến tử vong ở trẻ em rất khó kiểm soát. Theo Báo cáo tổng hợp của UNCEF cho thấy: “Năm 2007 tỷ lệ tai nạn thương tích gây tử vong ở nhóm tuổi từ 0 – 19 lần lượt là đuối nước (48%), tai nạn giao thông (28%), ngã (2%), ngộ độc (2%), bỏng (1%), động vật cắn (1%) và điều đáng lưu tâm là thương tích khác hoặc không phân loại được chiếm tỷ lệ khá cao (18%)”[3]. Từ số liệu nêu trên cho thấy, đuối  nước là một trong những tai nạn gây tử vong cao nhất ở trẻ em Việt Nam, chiếm 50% tổng số tử vong do tai nạn thương tích; số lượng tử vong do đuối nước cao nhất ở nhóm tuổi 5 đến 14 tuổi (riêng trong năm 2010, có trên 1500 trường hợp); trẻ em nam có tỷ suất tử vong do đuối nước cao gấp hai lần ở nữ. Những địa phương có số trẻ em bị tử vong do đuối nước cao nhất ở Việt Nam là khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tiếp theo, giao thông đường bộ là loại tai nạn thứ 2 gây thương tích ở trẻ em Việt Nam, ngoài tỷ lệ 28% số trẻ em bị tử vong do tai nạn giao thông gây ra, hàng năm tai nạn giao thông còn buộc khoảng 21% số trẻ từ 0-19 tuổi phải nhập viện, tai nạn giao thông cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nhóm 15-19 tuổi. Bên cạnh đó, tai nạn do ngã gây ra mặc dù không phải là nguyên nhân gây tử vong lớn ở trẻ em nhưng nó lại là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến trẻ em bị tàn tật vĩnh viễn; đặc biệt là chấn thương sọ não, chấn thương cột sống ở trẻ; đối tượng gặp tai nạn thương tích do ngã chủ yếu là nam và thấp nhất ở nhóm trẻ sơ sinh (dưới 1 tuổi). Tai nạn do bỏng dẫn đến 1,9% số trường hợp tai nạn thương tích tử vong trong năm 2010; trong đó bỏng do chất lỏng gây ra là chủ yếu và chiếm 83,5% số trẻ bị bỏng và chiếm 50% số trẻ bị bỏng ở nhóm 1-4 tuổi; phần lớn trường hợp tai nạn do bỏng đều xảy ra trong nhà. Ngộ độc cũng là một loại tai nạn gây ra tỉ lệ tử vong khá cao đối với trẻ; trong tai nạn ngộ độc, cao nhất là ngộ độc do thực phẩm (40%), khí hay khói (15%), ngộ độc dược phẩm (10%), chất độc lỏng, thuốc trừ sâu (4%); tai nạn ngộ độc thường diễn ra cao nhất ở trẻ sơ sinh, giảm dần đến nhóm 14 tuổi trước khi tăng lên dần ở nhóm 15-19 tuổi. Cuối cùng phải kể đến tai nạn do bị động vật cắn, mặc dù gây tử vong không cao, nhưng có thể làm cho 80% các trường hợp trẻ em phải nhập viện và khoảng 4% trong tổng số trẻ bị động vật cắn/đốt có thể bị tàn tật vĩnh viễn.

Một nghiên cứu “Điều tra liên trường về đa chấn thương (VMIS)” cũng cho rằng có khoảng 1.500.000 trẻ em (mỗi ngày có trung bình 4.300 trẻ) bị thương tích nguy hiểm đến mức phải đến bệnh viện, các trung tâm y tế hoặc phải nghỉ học ít nhất 1 ngày. Nghiên cứu này cũng chỉ ra đa số các thương tích như ngã, bị động vật cắn hoặc bị bỏng… tuy không thuộc loại có nguy cơ gây tử vong cao nhất nhưng đều có thể dẫn đến đau đớn và thương tật vĩnh viễn. Thương tích ở trẻ em còn có liên quan đến tình trạng bất bình đẳng xã hội; có rất nhiều nhân tố về cơ cấu, kinh tế và xã hội đang góp phần gây ra bất bình đẳng trong gánh nặng về thương tích trẻ em. Ví dụ năm 2003, UNICEF đã tiến hành một nghiên cứu định tính về nguyên nhân gây thương tích ở trẻ em ở 3 xã, điều tra cho thấy rằng trẻ em ở các gia đình nghèo nhất thường có nguy cơ bị tai nạn giao thông nhiều hơn trẻ em trong các gia đình khác có điều kiện kinh tế hơn. Bên cạnh những đau đớn về thể chất và mất mát về tinh thần, tai nạn giao thông còn là sự kiện thảm khốc đối với các gia đình nghèo, đẩy họ rơi vào tình trạng tồi tệ hơn, với việc phải gánh chịu các chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp do thương tích trầm trọng mang lại.

2. Nguyên nhân và hậu quả gây tai nạn thương tích trẻ em

2.1. Nguyên nhân gây tai nạn thương tích trẻ em

Có rất nhiều nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ em; có thể từ ý thức, đặc điểm lứa tuổi và giới tính của trẻ; có thể từ ý thức và sự thiếu hiểu biết các nguy cơ cho trẻ từ người lớn; cũng có thể từ đặc điểm môi trường, địa hình và điều kiện kinh tế - xã hội hay từ thể chế,...Có thể xếp các nguyên nhân gây tai nạn thương tích cho trẻ em thành 3 nhóm nguyên nhân chính sau:

Nhóm nguyên nhân từ trẻ em

Đặc điểm lứa tuổi và giới tính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến trẻ dễ bị tai nạn thương tích. Một mặt, do còn hạn chế về kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sống; hơn nữa khả năng suy xét, phân tích tình huống, khả năng ra quyết định đúng trong các tình huống có liên quan đến tai nạn của trẻ còn chưa được trang bị, rèn luyện để phát triển phù hợp vì thế trong nhiều trường hợp trẻ thường không xác định được mức độ nguy hiểm của môi trường, hoàn cảnh có nguy cơ gặp phải tai nạn thương tích nên trẻ rất dễ gặp phải nguy hiểm. Chẳng hạn, khi thấy bạn bị đuối nước mặc dù không biết bơi nhưng trẻ vẫn lao xuống cứu bạn; hoặc khi trẻ thấy bạn của mình bị nhóm trẻ khác đánh, thay vì hô hoán để người lớn đến trợ giúp thì trẻ lại xông vào đánh nhau với nhóm trẻ đó để cứu bạn,... nên nguy cơ trẻ bị tai nạn thương tích rất lớn.

Nguy cơ bị tai nạn thương tích càng tăng cao ở nhóm trẻ vị thành niên (từ 10 đến 18 tuổi), bởi những đặc điểm phát triển về tâm sinh lý tuổi dậy thì như: hiếu động, tò mò, thích khám phá, thích thử thách, muốn thể hiện mình trước đám đông, dễ bị lôi kéo, kích động,...có thể dẫn trẻ đến những hành vi nguy hiểm. Ví dụ: khi tan trường nhiều học sinh đi xe đạp dàn thành hàng ba, hàng bốn trên đường,…vừa đi vừa trêu đùa thậm chí nhiều em chỉ điều khiển xe bằng một tay, hoặc giơ bánh xe trước lên chỉ vì thích ngông,…mà không hề lường trước tai nạn giao thông hoàn toàn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Một số trẻ em đi bộ có thể băng qua đường đột ngột, mà không chú ý quan sát… một số trẻ chơi đùa, đá bóng ở lòng đường, vỉa hè,…cũng đã gây ra không ít vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng. Ngoài ra, khả năng tập trung chú ý của trẻ không cao, dễ bị phân tán, kích động gây ra những phản xạ tự nhiên như giật mình, phản ứng tức thời,…dễ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Nhiều trẻ thích nhiều trò chơi cảm giác mạnh như đánh trận giả, đá bóng, trèo cây, bơi lội, nghịch chơi các vật liệu dễ cháy nổ…những trò này thường diễn ra ở những môi trường không thuận lợi như: hè phố, lòng đường giao thông, sườn núi, hoặc nơi có nhiều sông, suối, ao, hồ,…thường tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ gây tai nạn thương tích.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tai nạn thương tích có thể thay đổi theo lứa tuổi. Ví dụ, nếu tai nạn bỏng là nguyên nhân chính gây thương tích không gây tử vong ở trẻ dưới 4 tuổi, tỷ lệ tai nạn thương tích do bỏng có xu hướng giảm dần theo độ tuổi; bởi vì, khi trẻ lớn dần lên, khả năng nhận thức, mức độ độc lập, các hoạt động và hành vi nguy cơ của trẻ cũng dần khác đi, làm thay đổi nguy cơ gặp phải các loại tai nạn thương tích khác nhau (Peden, 2008). Tuy nhiên theo báo cáo của Bộ Y tế về tai nạn thương tích năm 2008 cho thấy số tai nạn giao thông ở nhóm 0-4 tuổi chỉ chiếm 6% tổng số trường hợp bị tai nạn thương tích, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm tuổi 15-19 là 13,3% (Bộ Y tế, 2009).

Nguyên nhân từ điều kiện sống của gia đình và ý thức của người lớn

Các nghiên cứu về nguy cơ tai nạn thương tích trẻ em Việt Nam đều cho thấy nhà ở và khu vực nông thôn là địa điểm xảy ra các trường hợp tai nạn thương tích phổ biến nhất đối với trẻ em. Trẻ em ở nông thôn và miền núi do nhà thường xây trên triền núi, sườn dốc, hoặc cầu thang kém chất lượng, nhiều ao hồ, sông suối; vì vậy, làm tăng nguy cơ tai nạn thương tích ở nhà, nhất là tai nạn ngã. Ngoài ra, trẻ em sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa chủ yếu sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp thường phải lao động sớm và làm nhiều việc nhà như nấu ăn, chăm sóc em nhỏ, lau dọn nhà cửa và tham gia nhiều hoạt động sản xuất cũng là những yếu tố làm tăng nguy cơ bị tai nạn thương tích trong cộng đồng (Linan và cộng sự, 2003; BYT, 2004).

Nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới còn chỉ ra rằng tình trạng kinh tế xã hội, trong đó bao gồm thu nhập của hộ gia đình, trình độ học vấn của người mẹ, cấu trúc gia đình và loại hình gia đình có ảnh hưởng đến nguy cơ tai nạn thương tích trẻ em. Gia đình là nơi chăm sóc, bảo vệ, đảm bảo sự an toàn cho trẻ em; nhưng trẻ em ở các hộ gia đình nghèo thường thiếu sự giám sát của cha mẹ, thiếu sự tiếp cận với các thiết bị an toàn như báo cháy, mũ bảo hiểm chất lượng,…việc hạn chế tiếp cận với các dịch vụ sức khỏe và y tế của trẻ ở những hộ gia đình nghèo cũng làm tăng mức độ nghiêm trọng của tai nạn thương tích và khả năng tử vong do tai nạn thương tích gây ra. Mặt khác, trong nhiều gia đình do ý thức của người lớn về bảo vệ an toàn cho trẻ chưa tốt, nên chưa xây dựng cho trẻ có kỹ năng và hành vi tự bảo vệ mình an toàn trước các nguy cơ có thể gây tai nạn thương tích khi sử dụng các vật dụng trong gia đình như: phích nước nóng, dao, kéo để trong tầm với của trẻ nhỏ; bể (ang, chum, vại) nước không có nắp đậy; bình phun thuốc trừ sâu, chai đựng các hoá chất để ngay sàn nhà; cầu thang, cửa, cổng không làm rào chắn; các đồ điện (phích, nồi cơm, siêu đun nước,…) để ngay tầm hoạt động của trẻ. Nhiều gia đình thường để trẻ chơi gần hoặc tắm ở ao, hồ, sông, suối cũng dễ có nguy cơ đuối nước. Có nhiều trường hợp, người lớn khi tham gia giao thông có chở theo trẻ em trên đường nhưng tranh thủ nghe điện thoại; hoặc phóng nhanh, vượt ẩu, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm, đi hàng hai hàng ba trên đường, uống rượu bia khi điều khiển phương tiện giao thông,...có thể dẫn đến tai nạn bất ngờ gây thương tích kể cả tử vong cho trẻ; mặt khác, có thể nêu gương xấu cho trẻ em về ý thức chấp hành luật giao thông khi tham gia giao thông.

Nguyên nhân từ môi trường -  xã hội

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và hệ thống sông, suối, ao, hồ dày đặc. Một số khu vực ở nước ta như đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, Tây Nguyên...có hệ thống sông, suối, kênh, rạch chằng chịt. Theo số liệu thống kê, riêng ở đồng bằng sông Cửu Long “có hơn 2.300 bến sông với hơn 5.000 tàu, thuyền và phà đang hoạt động, phục vụ hơn 80 triệu lượt khách mỗi năm, chiếm khoảng 20% tổng số hành khách vận chuyển bằng các phương tiện”. Trong đó, trẻ em thường sử dụng thuyền, phà làm phương tiện chính để đi lại hoặc đi học; tuy nhiên, do điều kiện kinh tế ở các địa phương thường gặp khó khăn nên các loại phương tiện này thường không được trang bị đầy đủ áo phao và các thiết bị cứu hộ. Mặt khác, trẻ em ở Việt Nam thường không được dạy bơi từ nhỏ nên phần lớn là khôngbiết bơi; dẫn đến trẻ em có nguy cơ bị các tai nạn thương tích rất cao, trong đó cao nhất là bị đuối nước, chiếm 48% các trường hợp trẻ em bị tử vong do tai nạn thương tích (trung bình mỗi ngày có khoảng 12 trẻ em bị chết đuối).

Việt Nam còn là nước ở khu vực nhiệt đới, gió mùa, đặc biệt hiện nay tác động của biến đổi khí hậu khiến cho bão, lũ, hạn hán xảy ra thường xuyên và rất  khắc nghiệt. Hàng năm, ở nước ta bão, lũ đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người, trong đó chủ yếu là trẻ em và người già. Bên cạnh đó, sự thiếu ý thức về an toàn lao động của người lớn khi thi công các công trình giao thông, cầu cống,…, thiết kế không phù hợp hoặc chất lượng công trình kém; không cân nhắc đến đặc điểm của các nhóm đối tượng tham gia giao thông; hiện tượng thiết kế đường giao thông đi chung đường/làn giữa người đi bộ, phương tiện thô sơ với các phương tiện cơ giới là phổ biến… đã làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông. Mặt khác, địa hình ở một số khu vực nông thôn và miền núi gồ ghề, dễ trượt; nhà cửa xây dựng trên sườn núi, cầu thang ở nhà sàn khoảng cách rộng, chất lượng các công trình xây dựng không đảm bảo cũng làm tăng nguy cơ trượt, té ngã của trẻ. Có những công trình xây dựng nhà ở của nhà nước như khu chung cư, nhà tập thể và nhà ở của người dân chưa thực sự an toàn: không có rào chắn ban công, thiếu ánh sáng hành lang, cầu thang dốc. Xu hướng nhà ống ở nước ta chưa chú ý đến rào chắn ở cửa phòng và cầu thang lên xuống cũng góp phần tạo nên yếu tố nguy hiểm cho trẻ em, người già và người khuyết tật. Nhiều gia đình ở miền núi hoặc vùng nông thôn làm nhà ở ngay sát chân núi nên nguy cơ trẻ em có nguy cơ bị tai nạn thương tích do sạt lỡ núi hoặc do bị động vật cắn cũng khá cao.

 Chiến tranh ở Việt Nam đã đi qua hơn 35 năm; nhưng hậu quả của nó với cuộc sống hiện tại của người dân thì vẫn còn rất nặng nề. Nhà nước đã đầu tư rất nhiều trong việc rà soát, phá dỡ bom mìn; nhưng nhiều địa phương vẫn giải quyết chưa triệt để nên nhiều nơi còn sót lại nhiều loại bom, mìn chìm sâu vào đất đá, cây cỏ; với đặc điểm hiếu động, tò mò trẻ em nhặt được bom mìn thường nghịch chơi, cũng có em muốn tháo gỡ để bán phế liệu do vậy hậu quả tai nạn thương tích cho trẻ em do bom, mìn cũng là một loại hình tai nạn phổ biến ở nước ta mà hậu quả của nó để lại rất nặng nề.

Tất cả các yếu tố trên đã làm cho môi trường  sống không an toàn, dẫn đến nguy cơ cao gây tai nạn thương tích đối với trẻ em.

2.2. Hậu quả của tai nạn thương tích trẻ em

Tai nạn thương tích trước hết để lại hậu quả rất nghiêm trọng về sức khỏe đối với trẻ em; gây đau đớn về thể chất, tinh thần và cả khía cạnh về mặt xã hội. Về mặt thể chất, trẻ có thể bị tổn thương một bộ phận hoặc tàn tật suốt đời, hoặc thậm chí bị tử vong; về tinh thần, tâm lý có thể làm cho trẻ tự ti, mặc cảm luôn luôn trong tâm trạng sợ hãi; dẫn đến trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong việc hòa nhập xã hội.

Mặt khác, tai nạn thương tích trẻ em đã làm bao gia đình phải đau khổ và trở nên nghèo đói vì các khoản chi phí chữa trị, chăm sóc và phục hồi chức năng sau thương tích. Đối với các gia đình nghèo, tai nạn thương tích trẻ em càng làm cho các gia đình trở nên nghèo hơn không chỉ bởi chi phí chăm sóc chữa trị mà còn có nguy cơ thiếu nguồn nhân lực lao động của gia đình trong tương lai. Gia đình có trẻ bị tai nạn thương tích còn phải chịu gánh nặng tâm lý buồn lo về tương lai của trẻ. Một cuộc điều tra tiến hành năm 2007 cho thấy tai nạn thương tích gây hậu quả rất nghiêm trọng cho trẻ và gia đình của trẻ: cứ một trẻ bị tử vong thì có 12 trẻ nằm viện hoặc thương tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc không thể đi học/đi làm do hậu quả của tai nạn thương tích. Về mặt tinh thần, trẻ có thể rơi vào tình trạng lo sợ, khủng hoảng, rối nhiễu về tâm lý; có thể nói tai nạn thương tích không chỉ gây khó khăn cho trẻ ở hiện tại, mà còn cản trở bước đường tương lai và hạnh phúc của trẻ.

Ngoài ra, tai nạn thương tích trẻ em còn gây thêm gánh nặng về kinh tế - xã hội cho địa phương và đất nước. Trước hết xã hội sẽ mất một khoản chi phí rất lớn cho các hoạt động giải quyết hậu quả tai nạn thương tích trẻ em; đây cũng là một trong những nguyên nhân không chỉ cản trở tới sự phát triển của trẻ mà còn làm cho cộng đồng/địa phương và đất nước nghèo đi. Theo ước tính của Ngân hàng phát triển châu Á, nền kinh tế Việt Nam hàng năm mất khoảng 30.000 tỷ đồng để chi phí cho các dịch vụ cấp cứu, điều trị, phục hồi chức năng, mất khả năng lao động do cả tử vong và cả bệnh tật gây ra. Mặt khác, tai nạn thương tích trẻ em gia tăng như hiện nay có thể khiến cho Việt Nam không đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ về giảm 2/3 tỷ lệ trẻ tử vong vào năm 2015.

Tai nạn thương tích trẻ em là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ. Do vậy, phòng tránh TNTT trẻ em có tầm quan trong đặc biệt trong việc đảm bảo môi trường an toàn cho trẻ phát triển toàn diện; không chỉ giúp trẻ thực hiện các quyền cơ bản của trẻ, mà phòng tránh được các TNTT trẻ em; đồng thời, giảm nguy cơ gia đình rơi vào tình trạng nghèo đói do TNTT trẻ em gây ra. Phòng tránh TNTT trẻ em còn tiết kiệm được các chi phí cho đất nước.

3. Phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ em

Phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ em là chiến lược có sự phối hợp đồng bộ của các yếu tố: giáo dục và phát triển kỹ năng, cải tạo môi trường và khuyến khích sử dụng các thiết bị an toàn, tăng cường thực thi luật và các văn bản pháp quy. Kết hợp giữa phương pháp y tế công cộng với phòng ngừa chủ động,...Sự kết hợp của các yếu tố trên là rất cần thiết trong phòng, tránh tai nạn thương tích trẻ em. Muốn vậy, cần phải có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp, của toàn xã hội và mọi gia đình trong việc phòng, tránh tai nạn thương tích trẻ em.

3.1. Các biện pháp trong can thiệp phòng, tránh TNTT trẻ em

Việt Nam muốn giảm thiểu gánh nặng tai nạn thương tích ở trẻ em, chúng ta cần tăng cường trách nhiệm thực hiện có hiệu quả các biện pháp sau:

Một là, tăng cường xây dựng và thực thi pháp luật vì sự sống còn và phát triển của trẻ em.

Trước hết, cần xây dựng một kế hoạch hành động toàn diện về phòng chống TNTT trẻ em bao gồm ban hành luật, thi hành nghiêm túc luật và các qui định về phòng tránh TNTT trẻ em. Cụ thể:

Nhà nước và chính quyền các cấp cần ban hành luật hoặc các quy định đảm bảo an toàn cho mọi người trong đó có trẻ em; ban hành các chế tài liên quan đến các quy định về an toàn. Ví dụ như chế tài về kiểm tra sản phẩm trước khi lưu thông trên thị trường đảm bảo an toàn, đặc biệt là các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của trẻ em. Tăng cường phối hợp của các cơ quan bộ/ban/ngành trong các nỗ lực về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em. Đồng thời, nâng cao chất lượng thu thập thông tin về tình hình TNTT trẻ em (số bị, tử vong) để đo lường chính xác quy mô và mức độ của vấn đề TNTT trẻ em; hỗ trợ các nghiên cứu phòng chống TNTT trẻ em, đặc biệt là đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng chống TNTT trẻ em và các quy định liên quan đến an toàn của trẻ em.

Ở các cộng đồng dân cư cần xây dựng các quy định, quy tắc đảm bảo an toàn cho mọi người trong đó đặc biệt chú trọng đến an toàn cho trẻ em dựa trên nguyên tắc có sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng. Tăng cường tiếp cận dịch vụ tư vấn và y tế về phòng chống TNTT, đặc biệt là cứu thương và chăm sóc trước khi đưa nạn nhân đến bệnh viện.

Đồng thời, cần tăng cường thực thi giám sát việc thực hiện các luật pháp, các qui định và các chế tài xử lý các vi phạm như: chính quyền các cấp cần thành lập các ban kiểm tra, giám sát; thành lập các cơ quan chuyên môn thẩm định các sản phẩm tiêu dùng và thay đổi môi trường để phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của mọi người trong đó cần chú ý đặc biệt đến quyền và lợi ích của trẻ em. Ở cấp cộng đồng cần tổ chức thi hành các chính sách, quy định về an toàn nhằm tạo một môi trường an toàn cho tất cả mọi người. Thành lập các ban kiểm tra/giám sát với sự tham gia của các đoàn thể và người dân để kiểm soát việc thực thi các quy định, quy tắc được chính cộng đồng đó xây dựng.

Hai là, giáo dục và phát triển kỹ năng nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân, trẻ em và gia đình; đồng thời huy động sự ứng phó của cộng đồng trong việc phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em. Giáo dục trẻ em, gia đình và cộng đồng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng; tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài giúp các chủ thể chủ động phòng tránh nhằm ngăn ngừa tai nạn thương tích đối với trẻ. Có kiến thức và kỹ năng phòng tránh chủ động sẽ giúp các chủ thể có ý thức tự giác thực hiện các hành vi an toàn để bảo vệ trẻ không bị TNTT. Giáo dục phòng tránh TNTT trẻ em cần tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

Đối với trẻ em, cung cấp những kiến thức và kỹ năng để trẻ hiểu về nguy cơ và hành vi có nguy cơ gây nên TNTT trẻ em; nguyên nhân và hậu quả của TNTT trẻ em; kỹ năng giúp trẻ thực hành các hành vi an toàn, duy trì hành vi an toàn và nhân rộng hành vi đó với các bạn bè; kỹ năng áp dụng các biện pháp phòng tránh TNTTTE và tuyên truyền để các bạn khác cùng thực hiện; kỹ năng xử lý một số tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ em. Đồng thời, khuyến khích trẻ sử dụng các thiết bị an toàn trong gia đình, nhà trường và cộng đồng.

Đối với gia đình và người lớn cần truyền thông, giáo dục để giúp họ chủ động thực hiện các hành vi đảm bảo sự an toàn cho trẻ. Tập trung vào các kiến thức về các loại hình tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ em, nguy cơ và hành vi có nguy cơ gây TNTTTE, hậu quả của các loại TNTTTE; kỹ năng hướng dẫn lắp đặt, bố trí và sử dụng các thiết bị an toàn và xây dựng mô hình ngôi nhà an toàn; kỹ năng thực hành, duy trì hành vi an toàn và cách giáo dục về phòng tránh TNTT, tạo nên những hành vi an toàn bền vững; hướng dẫn cách xử lý một số TNTT thường gặp ở trẻ em.

Đối với cộng đồng, thông qua các tổ chức đoàn thể như: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh... để tập huấn cho hội viên và cộng đồng về kiến thức và kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ như các loại hình tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ em, nguy cơ và hành vi có nguy cơ về TNTT trẻ em, hậu quả của TNTT trẻ em. Đồng thời, hướng dẫn cộng đồng lắp đặt các biển báo, rào chắn ở những nơi nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn thương tích trẻ em và xây dựng mô hình cộng đồng an toàn; vận động cộng đồng thực hiện các hành vi an toàn, xây dựng mạng lưới cộng tác viên có kỹ năng xử lí một số tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ.

Ba là, thay đổi môi trường và khuyến khích sử dụng các thiết bị an toàn. Biện pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các nguy cơ TNTT và hạn chế các hậu quả TNTT trẻ em; nhằm loại bỏ các yếu tố nguy cơ trong môi trường và xây dựng môi trường an toàn hơn cho trẻ.

Các gia đình cần chú ý tạo dựng môi trường an toàn bằng cách: lắp đặt giá để các dụng cụ như dao, phích nước, tủ thuốc; có nắp đậy giếng và bể nước, rào chắn cầu thang, hàng rào bao quanh ao, hồ; cổng chắn trẻ em ra đường, cũi cho trẻ nhỏ; đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy/xe đạp, mặc áo phao khi đi thuyền/đò, tấm chắn các bộ phận di chuyển trong máy nông nghiệp và kho chứa thuốc trừ sâu an toàn. Ngoài ra, cần thực hành phương pháp thăm hộ gia đình, nhất là các gia đình có nguy cơ TNTTTE cao, để truyền thông và hướng dẫn kỹ năng phòng tránh và cách sử dụng đúng các thiết bị an toàn. Đây là biện pháp đặc biệt hiệu quả vì cung cấp thông tin đúng đối tượng, kết hợp với việc tư vấn sử dụng các thiết bị an toàn nhằm phòng tránh TNTT trẻ em cho các hộ gia đình.

Đối với cộng đồng và nơi công cộng, cần cải tạo đường giao thông; lắp đặt rào chắn ở cầu, hàng rào quanh ao, biển giao thông, biển cảnh báo nguy hiểm, biển hạn chế tốc độ, đèn đường, vạch sang đường, bục giữa đường, gờ giảm tốc; lắp đặt hệ thống báo cháy, phun nước và cải tạo sân chơi ở khu dân cư cũng như trong trường học.

3.2. Tăng cường thực hiện các biện pháp phòng ngừa TNTT trẻ em

Áp dụng mô hình y tế công cộng trong việc phòng chống TNTT trẻ em (Peden, 2008) là một cách tiếp cận toàn diện tập trung vào cả yếu tố cá nhân, môi trường và kêu gọi sự tham gia của nhiều bên liên quan quan tâm đến phòng chống tai nạn thương tích trẻ em. Mô hình này được thực hiện theo các bước sau:

- Đánh giá quy mô và các yếu tố nguy cơ của vấn đề sức khỏe từ những nguồn số liệu sẵn có

- Xây dựng các hoạt động can thiệp phù hợp dựa trên việc phân tích những thông tin, dữ liệu về các yếu tố nguy cơ tác động đến tai nạn thương tích trẻ em.

- Đánh giá các hoạt động can thiệp để xác định được hiệu quả của việc giảm gánh nặng của vấn đề sức khỏe trẻ em.

Để thực hiện phòng chống tai nạn thương tích trẻ em có hiệu quả; trong việc áp dụng mô hình y tế công cộng cần chú trọng thực hiện triệt để các biện pháp dự phòng TNTT và các biện pháp phòng ngừa TNTT trẻ em. Cụ thể:

Một là, dự phòng TNTT trẻ em có thể thực hiện theo 3 giai đoạn:

- Dự phòng cấp một (giai đoạn trước khi xảy ra tai nạn): là phòng tai nạn thương tích xảy ra; nhằm loại bỏ các yếu tố nguy cơ hoặc không cho tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ. Ví dụ, đặt rào chắn quanh ao hồ; phích nước hay các vật sắc nhọn trong gia đình phải để ở nơi an toàn để trẻ không với tới…

- Dự phòng cấp hai (giai đoạn trong khi xảy ra tai nạn): làm giảm mức độ nghiêm trọng của TNTT cho trẻ em. Ví dụ: mũ bảo hiểm xe máy có bảo đảm chất lượng để phòng chấn thương sọ não khi gặp tai nạn giao thông không, có sử dụng các thiết bị an toàn khi chơi thể thao, hay thực hành thí nghiệm ở trường học cho học sinh không?

- Dự phòng cấp 3 (giai đoạn sau khi xảy ra tai nạn): làm giảm thiểu hậu quả tàn tật, tử vong do tai nạn thương tích gây ra; bằng cách khống chế các hậu quả do TNTT nhờ sơ cấp cứu, điều trị tích cực các chấn thương và các biện pháp phục hồi chức năng.

Cả ba giai đoạn dự phòng này đều rất quan trọng và cần được áp dụng thực hiện một cách triệt để; nhằm góp phần giảm tối đa các nguy cơ và hậu quả gây tai nạn thương tích cho trẻ, đặc biệt là giảm mức độ thương tích nghiêm trọng gây tàn tật hoặc tử vong ở trẻ em.

Hai là, thực hiện các biện pháp phòng ngừa TNTT cho trẻ em. Có hai biện pháp phòng ngừa chủ yếu TNTT cho trẻ em, đó là phòng tránh chủ động và phòng tránh thụ động.

Phòng tránh chủ động là các biện pháp ngăn ngừa tai nạn thương tích với sự hợp tác tham gia chủ động của trẻ em. Trong biện pháp phòng tránh chủ động, trẻ em phải tự giác thực hiện các hành vi an toàn để tự bảo vệ mình không bị tai nạn thương tích. Chẳng hạn, khi trẻ em tham gia giao thông; nếu đi bộ, phải đi trên vỉa hè hoặc lề đường bên phải; khi sang đường, các em phải đi theo vạch kẻ trắng (qui định cho người đi bộ sang đường). Trẻ em cần kiên quyết từ chối và khuyên các bạn không tham gia các trò chơi, hoạt động không an toàn, có nguy cơ dẫn đến tai nạn thương tích như: đá bóng bên lề đường, nhảy cầu, tắm ở ao, hồ, sông, suối có nước sâu và dòng chảy xiết, hoặc vắng người qua lại.

Phòng tránh thụ động là các biện pháp nhằm ngăn ngừa TNTT cho trẻ em bằng hành động tích cực của người lớn nhằm bảo vệ và đảm bảo an toàn cho trẻ em. Chẳng hạn, nhà sản xuất thuốc tây sản xuất bao bì đựng thuốc an toàn đối với trẻ như: lọ đựng thuốc có nắp vừa xoay vừa ấn chống trẻ nhỏ có thể mở; nhà sản xuất máy giặt có chế độ ngừng quay vắt, vò khi trẻ nhỏ mở nắp máy giặt; nhà sản xuất thiết bị điện có thiết bị khóa các ổ cắm điện đề phòng trẻ nhỏ chọc các vật bằng kim loại gây giật điện; nhà sản xuất ô tô thiết kế túi khí ở vô lăng phồng ra khi xe bị va chạm,…hay xây dựng đường giao thông đường bộ có phân tách các tuyến đường dành riêng cho ô tô, xe máy, xe thô sơ và người đi bộ.

Cần kết hợp chặt chẽ và thực hành thường xuyên hai biện pháp phòng tránh chủ động và phòng tránh thụ động; để hạn chế các nguy cơ, nhằm giảm tối đa tai nạn thương tích cho trẻ em.

Việt Nam đang nỗ lực đẩy lùi TNTT trẻ em thông qua các chương trình truyền thông, giáo dục sức khoẻ cộng đồng. Đây là một chiến lược quan trọng để nâng cao nhận thức về nguy cơ và gánh nặng TNTT trẻ em của người dân, gia đình và cộng đồng. Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành đang xây dựng hệ thống luật pháp với đầy đủ chế tài phòng tránh TNTT trẻ em; nỗ lực triển khai các chương trình về thay đổi môi trường, thiết kế xây dựng nhà cửa, trường học, xây dựng chuẩn mô hình về gia đình an toàn, trường học an toàn và cộng đồng an toàn. Với mục tiêu chuyển tải tất cả những kiến thức và kỹ năng phòng tránh TNTT trẻ em đến với mỗi người dân trong cộng đồng; nhằm mang lại một cuộc sống an lành và cơ hội phát triển toàn diện cho trẻ em.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – UNICEF. Báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em Việt Nam. Hà Nội, 2010

2. Học viện TTN VN – UNICEF VN- Cục Bảo vệ  CSTE VN. Tài liệu tập huấn Bí thư Đoàn, phụ trách Đội cấp xã/phường về phòng chống TNTT trẻ em. Hà Nội, 2011

3. ???. Tai nạn thương tích TE: Khái niệm, cách tiếp cận, biện pháp phòng ngừa.

BÀI 4

MỘT SỐ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH THƯỜNG XẢY RA VỚI TRẺ EM

Thời gian: 18 giờ

A. MỤC TIÊU

a) Kiến thức:

        + Học viên nắm được vấn đề TNTT là vấn đề sức khỏe cộng đồng và mang tính toàn cầu; Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em của Việt Nam và các loại tai nạn thương tích trẻ em

b) Kỹ năng

        + Có khả năng nhận biết đươc các loại tai nạn thương tích thường xảy ra đối với trẻ em

c) Thái độ::

        + Có thái độ nhìn nhận nghiêm túc về tai nạn thương tích từ đó ý thức được đối với bản thân và tuyên truyền cho cộng đồng về phòng chống tai nạn thương tích trong đời sống tại cộng đồng, gia đình, nhà trường.

B. NỘI DUNG

I. TAI NẠN GIAO THÔNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH ĐỐI VỚI TRẺ EM

1. Khái niệm chung và thực trạng của tai nạn giao thông đối với trẻ em.

        Mỗi năm, có khoảng 1,2 triệu người tử vong do tai nạn giao thông đường bộ trên toàn thế giới, và 50 triệu người khác bị chấn thương. Khoảng 85% các trường hợp tử vọng và 90% số năm sống hiệu chỉnh do tàn tật xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.Các nước có thu nhập thấp và trung bình cũng là nơi chiếm đến khoảng 96% số trẻ em tử vong trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên thế giới. Ở các nước này, tốc độ phát triển phương tiện giao thông đường bộ nhanh hơn và nhiều hơn là tốc độ phát triển hệ thống giao thông, nhưng khi xây dựng hệ thống giao thông cũng không tính đến yếu tố trẻ em là nhóm có nguy cơ bị tai nạn cao nhất trong số những người tham gia giao thông, với vai trò là người ngồi trên phương tiện, người đi bộ, người đi xe đạp hay người sống ngay gần đường. Với số lượng các phương tiện giao thông tăng lên cấp số nhân, số  vụ tai nạn giao  thông lại tăng thêm (ở các nước nghèo và đang phát triển tỉ lệ tai nạn giao thông cao hơn ở các nước công nghiệp phát triển).(Peden và cộng sự, 2004).

Vậy, tai nạn giao thông (TNGT) có thể định nghĩa là những sự cố bất ngờ xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, gây ra bởi các phương tiện và người tham gia giao thông (bao gồm người điều khiển phương tiện giao thông và người tham gia các phương tiện đó),do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản.

 Ở Việt Nam, TNGT đã và đang ngày một gia tăng ở mức báo động nghiêm trọng. TNGT có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào, với mọi loại phương tiện (đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy) nhưng đặc biệt đáng lo ngại là đường bộ. tuy nhiên, điều đáng mừng là phần lớn TNGT đều có thể phòng tránh được.

Tai nạn giao thông đường bộ được định nghĩa là “một va chạm hay tác động có thể hoặc không gây thương tích, xảy ra trên đường công cộng liên quan đến ít nhất một phương tiện di chuyển”. Tai nạn giao thông đường bộ được định nghĩa là “thương tích tử vong hay không tử vong xảy ra do hậu quả của va chạm giao thông đường bộ”(Peden và cộng sự, 2004). Một trường hợp tử vong do tai nạn giao thông đường bộ có thể là tử vong xảy ra trong vòng 30 ngày sau khi va chạm giao thông xảy ra (Uỷ ban kinh tế Châu Âu- Ecônnmic Commission of Europe, 2003)

Trên thế giới, người đi bộ là nạn nhân phổ biến nhất trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, trong đó tỉ lệ ở các nước có thu nhập trung bình và thất là 30-40% (Toroyan và cộng sự, 2007). Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhóm tham gia giao thông có tỉ lệ tử vong cao nhất là người đi xe máy (57%), tiếp theo là những người đi xe đạp (22%) rồi mới đến người đi bộ (11,8%). Nhưng tỉ lệ này sẽ khác nhau khi chia nhỏ theo từng nhóm tuổi, người đi bộ có tỉ lệ tử vong cao nhất ở nhóm 0-4 tuổi, người đi xe đạp có tỉ lệ tử vong cao nhất ở nhóm 5-14 tuổi, và người đi xe máy có tỉ lệ tử vong cao nhất ở nhóm từ 15 tuổi trở lên (Linnan và cộng sự, 2003).

VIMS cũng cho thấy trên 50% trẻ em bị chấn thương  là do tai nạn giao thông phải nghỉ học ít nhất 2 tuần (Linnan và cộng sự, 2003). Điều tra cũng cho thấy rằng khoảng 14% nạn nhân phải chịu những tàn tật tạm thời hay vĩnh viễn sau khi xảy ra tai nạn (Linnan và cộng sự, 2003). VÌ nhóm này bao gồm trẻ thuộc nhóm trẻ 15- 19 tuổi, , báo cáo VMIS cho thấy rằng khoảng 4% trong số những trẻ bị tai nạn là những người có đóng góp thu nhập cho gia đình, vì vậy có ảnh hưởng đến tình trạng kinh tế của hộ gia đình (Linnan và cộng sự, 2003). Tai nạn giao thông cũng có những ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý của trẻ có liên quan trực tiếp hay gián tiếp trong các vụ tai nạn (Peden và cộng sự, 2008).

2.Nguyên nhân và nguy cơ TNGT ở trẻ em                

Có nhiều yếu tố cấu thành nên TNGT, có các yếu tố khách quan (cơ sở hạ tầng, đường xá chật hẹp, ổ gà...) nhưng quan trọng và chủ yếu nhất là do ý thức của những người làm công tác an toàn giao thông cũng như của người tham gia giao thông.

Yếu tố phát triển và hành vi của trẻ. Trẻ em có vóc dáng trẻ nhỏ cũng làm tăng nguy cơ bị tai nạn vì lái xe có thể không nhìn thấy trẻ khi đi trên đường, đặc biệt là với những tai nạn ở người đi bộ (Peden và cộng sự, 2008). Vóc dáng nhỏ của trẻ có nghĩa là trẻcó thể không quan sát được hết giao thông xung quanh. Hạn chế về khả năng nhận thức của trẻ trong việc ước lượng khoảng cách giữa chùng và các vật thể di chuyển khác dẫn đến những xử lý sai và có thể có hậu quả là một vụ tai nạn.(Toroyan và cộng sự, 2007)

Trẻ cũng chưa phát triển đầy đủ về khả năng nhận thức cần thiết để tổng hợp các yếu tố môi trường để biết được những tín hiệu nguy hiểm. Quá trình nhận thức để phán đoán và đưa ra quyết định chưa thể trưởng thành đến khi trẻ đạt 11 tuổi và do đó trẻ thường có những sai lầm nghiêm trọng khi đi trên đường (Peden và cộng sự, 2008 ).Trẻ có thời gian tập trung ngắn và dễ dàng bị phân tán bởi các kích thích khác gây ra những phản xạ giật mình, cách phản ứng nguy hiểm khi đi trên đường (Toroyan và cộng sự, 2007).

Ở nhiều nước có thu nhập thấp và trung bình là trẻ vui chơi trên đường hay gần đường giao thông hoặc tham gia các công việc như bán hang ngay bên lề đường, bán hang cho những người đi đường, rửa kính xe hoặc ăn xin ở gần đèn giao thông (Peden và cộng sự, 2008). Các hoạt động này làm tăng phơi nhiễm của trẻ với những nguy hiểm của môi trường đường xá và các nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông đường bộ.

Sử dụng không đúng hay thiếu các thiết bị an toàn là một yếu tố nguy cơ quan trọng trong tai nạn giao thông đường bộ ở trẻ em. Vị thành niên lái xe máy và không đội mũ bảo hiểm có thể là yếu tố nguy cơ quan trọng (Peden và cộng sự, 2008). Vị thành niên cũng có tỉ lệ sử dụng dây bảo hiểm thấp nhất so với những nhóm tuổi khác (Peden và cộng sự, 2008)

Phương tiện thiết kế thiếu an toàn cũng là một yếu tố quan trọng lien quan đến nguy cơ tai nạn và mức độ nghiêm trọng của trẻ (Peden và cộng sự, 2008). Điều này đúng với tất cả các loại phương tiện mà trẻ có thể sử dụng như ô tô, xe đạp, xe máy. Những người ngồi trên xe máy hay các phương tiện thô sơ đặc biệt dễ bị tổn thương vì thiếu các phương tiện vật lý bảo vệ (Toroyan và cộng sự, 2007)

Môi trường cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng liên quan tới tai nạn giao thông ở trẻ em. Ở nhiều nước có thu nhập thấp, thiết kế đường không cân nhắc đến yếu tố có nhiều nhóm đối tượng khác nhau cùng tham gia giao thông,  người đi bộ, người sử dụng các phương tiện thô sơ thường đi chung đường với các phương tiện cơ giới to, nhỏ, thậm chí cả súc vật kéo, làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông và chấn thương.(Torouyan và cộng sự, 2007).Ở Việt Nam một số yếu tố môi trường đặc thù cũng tăng nguy cơ tai nạn ở trẻ em khi tham gia giao thông:

Tình trạng kinh tế xã hội cũng là một trong những nguyên nhân có mối liên quan với nguy cơ tai nạn giao thông của trẻ. Tai nạn giao thông thường xảy ra nhiều hơn ở những trẻ có tình trạng kinh tế xã hội thấp (Laflamme và cộng sự, 2000). Vì nghèo đói có thể ảnh hưởng đến nguy cơ theo nhiều cách, ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương tiện của gia đình (Toroyan và cộng sự, 2007), trẻ phải làm việc ở trên đường hay gần đường và thiếu các phương tiện để điều trị khẩn cấp và phục hồi cho nạn nhân khi tai nạn xảy ra.

Một nghiên cứu về tai nạn giao thông được tiến hành ở huyện Ba Vì đã đưa ra, nguy cơ tai nạn giao thông cao nhất là nhóm có thu nhập trung bình. Lý do là nhóm này có thể mua xe đạp cho trẻ nhỏ, mua xe máy cho trẻ lớn tuổi hơn, hai đối tượng sử dụng phương tiện dễ bị ảnh hưởng nhất (Thành và cộng sự,2005). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguy cơ tai nạn ở người đi bộ vẫn cao nhất ở các gia đình có thu nhập thấp (Thành và cộng sự, 2005).

Trên thế giới, tỉ lệ tử vọng do tai nạn giao thông ở trẻ em là khoảng 10,7/100.000. Tai nạn giao thông là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nhóm tuổi 15-19, và là nguyên nhân tử vong lớn thứ hai trong nhóm tuổi 5-14 tuổi. Các kết quả này phản ánh tình trạng tăng lên trong việc đi lại và cả hành vi nguy cơ khi trẻ lớn dần (Peden và cộng sự, 2008).

Các nước Nam Á, tai nạn giao thông là nguyên nhân tai nạn thương tích gây tử vong lớn thứ hai ở trẻ em, với tỷ lệ tử vong là 6/100.000 (BYT,2008) và là nguyên nhân tai nạn thương tích gây tàn tật lớn thứ ba ở trẻ em với tỷ lệ là 900,2/100.000. Ở Việt Nam tỉ lệ tử vong và tàn tật do tai nạn giao thông cao nhất ở nhóm 15-19 tuổi (Linnan và cộng sự, 2003; BYT,2008). Theo số liệu thu thập từ 64 tỉnh thành phố của Bộ Y tế, trong năm 2008 ở Việt Nam có tổng số 494.545 trường hợp chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đường bộ. Trong đó, số trường hợp là trẻ dưới 14 tuổi chiếm khoảng 13,4%. Gần 50% trẻ em bị chấn thương sọ não do không đội mũ bảo hiểm (PVS Đại diện BYT). Nguồn số liệu này cũng cho thấy  hơn 21% tổng số nhập viện do tai nạn giao thông là trẻ em và vị thành niên ở nhóm 0-19 tuổi.

Số liệu tỉ lệ tử vong do tai nạn giao thông có sự khác nhau giữa nam và nữ trên toàn thế giới, với tỉ lệ bé trai là 13,8/100.000 và ở bé gái là 7,5/100.000 (Peden và cộng sự,2008). Ở Việt Nam, báo cáo cảu Bộ Y tế cũng cho thấy sự khác biệt này (BYT, 2008). Sở dĩ có sự khác nhau này, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ trai hiếu động hơn trẻ em gái và việc thực hiện hành vi nguy hiểm của bé trai cao hơn bé gái. Cùng với việc bố mẹ và cộng đồng cho phép bé trai tham gia các hoạt động trong nhà và ngoài cộng đồng hơn các bé gái.

* Các tình huống xảy ra TNGT do người tham gia giao thông

Các tình huống do người tham gia giao thông là người lớn:

Các tình huống do người tham gia giao thông là trẻ em:

* Tình huống tai nạn do phương tiện giao thông và môi trường không an toàn

* Trẻ em trực tiếp gây ra tai nạn giao thông

3. Xử lý sơ cứu tai nạn giao thông trẻ em

3.1.Hô hấp

- Để nạn nhân nơi thoáng đãng, nới bớt quần áo, mũ, khăn. Nếu trẻ me: Cần cho nằm ưỡn cổ, độn gối (áo quần quấn lại) dưới hai vai, đầu nghiêng sang một bên.

- Móc hết đờm dãi, đất cát, dị vật ở mũi, miệng.

- Nếu trẻ ngừng thở cần hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt ngay: Người cấp cứu quỳ cạnh trẻ, mở rộng miệng nạn nhân, một tay bịt mũi trẻ trong lúc hô hấp miêng- miệng. Thổi ngạt được thực hiện 20-25 lần/ phút.

- Nếu có ngừng tim thì cấp cứu ngừng tuần hoàn (bót tim) đồng thời với cấp cứu hô hấp. Nếu thấy trẻ hồng trở lại hoặc tự thở lại được là tốt.

3.2.Tuần hoàn

- Ngừng tim: Bóp tim ngoài lồng ngực- Để nạn nhân nằm trên nền cững, người cấp cứu quỳ bên cạnh, hai bàn tay bắt chéo lên nhau và để lên giữa xương ức ép vừa phải lên tim. Tần số ép tim khoảng 80-100 lần/phút. Cứ năm nhịp bót tim thì thực hiện một lần thổi ngạt. trong lúc ép tim, một người sờ mạch đùi (mạch bẹn) nếu có mạch tức là động tác ép timm có hiệu quả, cần tiếp tục cho tới khi tim đập trở lại.

- Chảy máu: nếu chỉ do các vết xây xát nông thì không đáng ngại, chỉ cần đắp gạc sạch và băng nhẹ. Nếu chảy máu nhiều (do tổn thương động mạch, tĩnh mạch, hay vết thương phần mền rộng)- lấy tay ấn nhẹ tạm thời trực tiếp vào vết thương hoặc ấn vào đường đi cảu động mạch ở phía trên vết thương (với chi trên: ấn vào hõm nách; mặt trong cánh tay, mặt trước khuỷu tay. VỚi chi dưới :ấn mạnh vào nếp bẹn. Vết thương vùng cổ: ép vào bên cạnh khí quản). Nếu có túi băng cá nhân tại chỗ- đặt gạc sạch trực tiếp lên vết thương sau đó ép chặt. Tuyệt đối không được garô với vết thương mền. Chỉ garô trong trường hợp chi đã bị cụt sẵn hoặc toàn bộ hay một phần bị giập nát không còn khả năng bảo tồn. Nếu bắt buộc phải garô thì  chuyển nạn nhân tới bệnh viện hoặc cơ sở y tế phải bàn giao cẩn thận  giờ ga rô.

3.3.Gãy xương

- Phải cố định tốt trước khi vận chuyển bệnh nhân, nếu không sẽ có nguy cơ gây di lệch thứ phát (làm tổn thương thêm mạch máu, thần kinh) thậm chí tử vong do sốc, do đau.

- Dùng phương tiện tại chỗ như que tre, thanh gỗ, dát giường, thậm chí là mảnh bìa cứng đối với trẻ nhỏ. Nguyên tắc là bất động trên và dưới chỗ gãy một khớp (ví dụ nếu gãy hai xương cẳng tay thì phải bất động được khớp khủy và khớp cổ tay)

- Đối với gãy xương đùi khi không códụng cụ gì để bất động, có thể tạm thời buộc hai chân vào nhau, dung chân lành có tác dụng như một cái nẹp.

 3.4.Sọ não- hàm mặt

- Rách da đầu: Băng ép là đủ để cầm máu hầu hết các vết thương da đầu

- Chảy máu mũi- tai: chỉ cần dung bong sạch đặt tại lỗ mũi, tai, không cần phải nút chặt

- Nếu trẻ hôn mê: cho nằm ngửa, cổ ưỡn, đầu nghiêng về một bên ( tư thế an toàn) tránh sặc vào đường thở. Nêú trẻ bị tụt lưỡi (thở khò khè) có thể dung tay kéo lưỡi tạm thời ra ngoài.

Di chuyển nạn nhân

- Nhẹ nhàng tránh thô bạo. Nói chung cần luôn giữ trẻ ở tư thế nằm ngang, nghĩa là cần có hai người (với trẻ lớn), một người luồn tay xuống đỡ chân, hông, một người đỡ vai- đầu để tránh các di lệch cột sống.

- Trong các trường hợp đặc biệt và không có người, có thể áp dụng các tư thế đặc biệt để di chuyển nạn nhân như bế xốc nách, kéo lê gót… nhưng nói chung cần hết sức tránh vì nếu vận chuyển không đúng còn làm nguy hại thêm cho nạn nhân.

4. Cách phòng tránh TNGT

TNGT có thể phòng và tránh được, các bước phòng tránh phải đảm bảo đưa ra được: Các mức độ phòng tránh, phương thức tiếp cận chủ động và bị động, tập trung vào nhiều đối tượng và đưa ra được chiến lược có hiệu quả đối với TNGT. Dựa trên đó, có 3 loại biện pháp can thiệp: Truyền thông và giáo dục, luật pháp và thi hành luật pháp, biện pháp kỹ thuật.

4.1. giáo dục

Các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về TNGT đường bộ và các biện pháp phòng chống, UNICEF Việt Nam đã phối hợp với Ỷu Ban Dân số Gia đình và Trẻ em tiến hành một số hoạt động truyền thông thông tin và giáo dục ở nhiều địa phương trong cả nước gômg phổ biến thông điệp thông qua các chương trình TV toàn quốc, các kênh phát thanh và báo, biển báo, thiết kế và phân phát các tài liệu truyền thông trong nước và Ngày sức khoẻ thế giới năm 2004 được phát động với chủ đề an toàn giao thông đường bộ và tổ chức với khẩu hiêu “An toàn giao thông là không tai nạn”. Các hoạt động này giúp tăng cường các biện pháp cải tại môi trường như biển cảnh báo ở đường cắt ngang với đường tàu hoả và các đoạn đường có gờ giảm tốc để kiềm chế tốc độ. Quỹ Phòng chống thương vong châu Á cũng thực hiện các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng trong chiến lược chung về phòng chóng TNGT ở trẻ em. Các chiến dịch này đã sử dụng những buổi hoà nhạc, người nổi tiếng và truyền thông đại chúng để tuyên truyền các thông điệp về an toàn giao thông cho trẻ em. Quỹ Phòng chống thương vong châu Á cũng phối hợp vơi Bộ giáo dục và đào tạo xây dựng một chương trình an toàn cho tre thực hiện tại trường học. Đạid diện của quỹ cho biết, giáo viên và cán bộ làm việc tại trường được đào tạo về kỹ năng an toàn giao thông cho trẻ để có thể dạy lại cho học sinh. “ Các phương pháp đào tạo bao gồm các tình huống giao thông giả như các tín hiệu giao thông, các đường giao nhau giả định để học sinh có thể thực hiện các hành vi giao thông an toàn và thực hiện các hành vi này hang ngày”. Quỹ cũng đang xây dựng một chương trình đào tạo trực tuyến để hỗ trợ cho các tình huống giao thông giả định. Khía cạnh thay đổi môi trường trong chương trình này bao gồm kiềm chế giao thông ở các khu vực trường học sử dụng gờ giảm tốc,thay đổi khu vực đỗ xe trong trường học và tạo ra khu vực đón, trả học sinh an toàn (PVS đại diện AIPF)

Bằng các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền để các em thấy rõ các tình huống dẫn tới TNGT, những ngyu cơ và hiểm hoạ của TNGT đối với sức khoẻ. Giúp các em có những hiểu biết, tuân thủ các quy tắc, uật lệ về an toàn giao thông.

Tạo dư luận xã hội cổ vũ cho các hành vi an toàn, lên án những hành vi không an toàn.

Tổ chức các hoạt động do các em tham gia làm chủ như: Thành lập nhóm tuyên truyền của trẻ em, học sinh ở các trường học, thôn xóm, khu dân cư để cung cấp các kiến thức phòng tránh TNGT.

Tổ chức cho các em các cuộc thi tìm hiểu về luật giao thông.

4.2.Luật pháp và thi hành luật pháp

 Việc thi hành luật gồm các biện pháp như chấp hành giới hạn tốc độ ở những khu vực dân cư. Các nghiên cứu cũng chi ra rằng việc thực thi các luật này có thể gỉm tỉ lệ bị tai nạn và cũng giúp thay đổi hành vi của người lái xe ( Cơ quan đường bộ, 1997). Luật giao thông đường bộ hiện nay có một mục về an  toàn cho người đi bộ là trẻ em, Điều 32 nêu rõ trẻ dưới 7 tuỏi khi qua đường trong thành phố, thị trấn hay đường có nhiều phương tiện phải  có người lớn đi cùng (Luật giao thông đườg bộ, 2008)

Thi hành luật an toàn giao thông như giới hạn tốc độ giúp giảm tai nạn giao thông ở trẻ em. Đặt giới hạn tốc độ cho thấy hiệu quả trong việc giảm nguy cơ xảy ra tai nạn trên đường và cần thực hiện quy định này ở các khu vực có nhiều người đi bộ và đi xe đạp đặc biệt là trẻ em, giới hạn tốc độ ở mức dưới 30km/h ( Toroyan và cộng sự, 2007).

Hạn chế uống rượu bia khi tham gia giao thông cũng rất quan trọng cho những người lái xe trẻ tuổi. Các vụ va chạm liên quan đến tốc độ thường xảy ra vào buổi tối và người ngồi sau/ ngồi cạnh trẻ tuổi thường khuyến khích lái xe đi thật nhanh. Hạn chế sử dụng rượu bia ở  những người trẻ tuổi khi lái xe , lái xe buổi tối và số người ngồi sau, ngồi cạnh trên xe là biện pháp hỗ trợ cho việc thi hành luâtvà giới hạ tốc độ (Toroyan và cộng sự, 2007). Tại Việt Nam, các biện pháp không chỉ áp dụng với ô tô mà áp dụng cả với xe máy, vì các vụ tai nạn xe máy làm chết rất nhiều người trẻ tuổi ở Việt Nam. Bộ y tế, phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới và được sự hỗ trợ của Quỹ Gia đình Bloomberg, hiện đang triển khai các can thiệp trong dự án Sáng kiến An toàn Giao thông đường bộ tại Việt Nam. Các sáng kiến này chủ yếu nhằm tăng cường sử dụng mũ bảo hiểm và giảm tỉ lệ sử dụng rượu bia khi lái xe trên đường, trong đó áp dụng cách tiếp cận toàn diện từ trung ương đến địa phương. Can thiệp gồm các biện pháp thi hành luật, nâng cao năng lực, giáo dục cộng đồng và vận động chính sách, luật pháp an toàn đường bộ.

Một đánh giá hệ thống Cochrane gần đây đã chỉ ra rằng mũ bảo hiểm có thể giảm nguy cơ bị tổn thương 69% và nguy cơ tử vong đến 42% (Liu và cộng sự, 2008).Ở Việt Nam, chính phủ thực hiện một số biện pháp để thực hiện quy định đội mũ bảo hiểm đối với người đi xe máy. Tuy nhiên, trước khi luật có hiệu lực, các tổ chức phi chính phủ như Hội chữ thập đỏ hay Quỹ Phòng chống thương vong châu Á đã tiến hành mộy số chiến dịch nhằm nâng cao nhận thức của người dân về đội mũ bảo hiểm và cấp phát mũ bảo hiểm miễn phí cho trẻ em.

Luật đội mũ bảo hiểm được đưa ra lần đầu tiên vào năm 2000, bổ sung vào năm 2001 với quy định bắt buộc trên một số tuyến đường. Tuy nhiên, việc thi hành luật còn kém, mặc dù đã có quy định, tỉ lệ người đi xe máy đội mũ bảo hiểm rất thấp với ước lượng dựa vào cộng đồng là khoảng 30% (Hùng và cộng sự, 2006). Năm 2007, tỉ lệ đội mũ bảo hiểm ở người lớn tăng lên rõ rệt khi có luật mới quy định bắt buộc đội mũ bả hiểm trên tất cả các tuyến đường (Nghị định 32 2007/NQ-CP ngày 29/6/2007). Tuy nhiên, quy định không đề cập đến đội mũ bảo hiểm ở trẻ em dưới 14 tuổi, khuyến khích đội mũ bảo hiểm ở nhóm tuổi 14-16 tuổi, và phạt tiền bằng một  nửa  với mức phạt của người lớn cho độ tuổi 16-18 tuổi (Pervin và cộng sự, 2009).

Hơn nữa, sau khi ban hành luật năm 2007 (Nghị định 32 2007/NQ-CP ngày 29/6/2007), cộng đồng có những lo ngại về vấn đề chấn thương cổ ở trẻ em do đội mũ bảo hiểm, mặc dù không có căn cứ, nhưng nhiều bậc cha mẹ từ chối đội mũ bảo hiểm cho con em mình (Pervin và cộng sự, 2009). Một điều tra quan sát đội mũ bảo hiểm tiến hành ở 4 thành phố lớn ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ sử dụng mũ bảo hiểm ở trẻ em dưới 14 tuổi chỉ đạt khoảng 38% (Pervin và cộng sự, 2009). Những quan ngại về ảnh hưởng của đội mũ bảo hiểm đối với trẻ em ở Việt Nam cần phải được làm rõ nhằm nâng cao tỉ lệ đội mũ ở trẻ em.. Các cơ quan như Tổ chức Y tế Thế giới, UNICEF và Quỹ Phòng chống thương vong châu Á cũng đã đề cập đến vấn đề này trong chiến dịch vận động chính sách và Liên minh đội mũ bảo hiểm ở Việt Nam, đang tập trung nỗ lực giải quyết vấn đề đội mũ bảo hiểm ở trẻ em (Pervin và cộng sự, 2009). Dưới sự hỗ trợ của Bộ Giao thông vận tải, Tổ chức Y tế Thế Giới đã tổ chức một cuộc hội thảo tư vấn quốc tế, với sự có mặt của nhiều chuyên gia về mũ bảo hiểm trẻ em đến từ nhiều nước khác nhau làm việc với nhiều cơ quan từ bộ đến các cơ quan ban hành luật pháp. Cuộc hội thảo nhằm giải đáp những thắc mắc về mũ bảo hiểm trẻ em tại Việt Nam. Trong đó có vấn đề cộng đồng lo lắng đối với nguy cơ đội mũ bảo hiểm có thể gây chấn thương cổ ở trẻ em. Sau cuộc hội thảo này, một quy định đã được soạn thảo về mức xử phạt người lớn khi trở trẻ 6-16 tuổi không đội mũ bảo hiểm.

Một vấn đề khác được đề cập đến ở Việt Nam mặc dù đã có các tiêu chuẩn về sản xuất và nhập khẩu mũ bảo hiểm, nhưng các tiêu chuẩn này thường không được thực hiện. Kết quả là có nhiều mũ bảo hiểm rẻ tiền, chất lượng thấp và người dân mua mũ chỉ để không bị phạt. Rất khó sản xuất mũ bảo hiểm chất lượng, tiêu chuẩn với giá thành cạnh tranh với mũ không có chất lượng ngoài thị trường. Vì vây, rất cần thực thi luật và quy định trong sản xuất và nhập khẩu mũ bảo hiểm ở Việt Nam.

4.3.Biện pháp kỹ thuật

Các biện pháp này bao gồm thay đổi hệ thống đưòng xá như đường dành cho người đi bộ và các biện pháp kiểm soát giao thông, đặ biệt là các khu dân cư (MacKay và cộng sự, 2006). Thay đổi kỹ thuật sẽ hiệu quả hơn khi kết hợp với các hoạt động giáo dục và thi hành luật (MacKay và cộng sự, 2006). Các chương trình giáo dục, vận động chính sách dựa và cộng đồng để phòng chống tai nạn cho người đi bộ từ 0-14 tuổi đax cho thấy hiệu quả rx rệt khi giảm được tỉ lệ tai nạn xuống 12-54% (Turner và cộng sự, 2004). Chương trình này có thể kết hợp với đào tạo tăng cương kỹ năng qua đường cho trẻ.Trong các chương trình đào tạo này, sự tham gia của bố mẹ giúp tăng tính hiệu quả và kinh nghiệm thực hành trên đường là một phần rất cần thiết (MacKay và cộng sự, 2006).

4.4. Dự phòng cấp II 

Khi tai nạn xảy ra, cấp cứu ban đầu và vận chuyển nhanh đến cơ sở điều trị là một phần quan trọng trong giảm nguy cơ chấn thương và tử vong. Theo đại diện của tổ chức Counterpart International tại Việt Nam (PVS đại diện ngày 28 tháng 8 năm 2009), chỉ có khoảng 5% nạn nhân chấn thương được vận chuyển đến bệnh viện bằng xe cứu thương. Một số sang kiến hiện được xây dựng và triển khai để xác định vấn đề này tại Việt Nam. Ví dụ như đại diện Tổ chức Y tế Thế giới nhấn mạnh đến vai trò của tổ chức trong chương trình chính phủ để tăng cường chăm sóc trước viện, đặc biệt là chấn thương do  tai nạn giao thông đường bộ (PVS đại diện ngày 28 tháng 8 năm 2009). Chương trình sẽ đào tạo 3.000 tình nguyện viên về thực hiện sơ cấp cứu ban đầu, đánh giá tình huống va chạm và loại bỏ các nguy hiểm.

4.5.Hướng dẫn trẻ cách đi lại an toàn 

a. Đi bộ

- Chỉ qua đường ở những nơi có đường qua đường dành cho người đi bộ (đi qua khi có đèn xanh), cầu vượt.

-Khi qua đường phải có người lớn đi kèm (đặc biệt với trẻ dưới 7 tuổi)

- Nếu phải qua đường ở những nơi không có đường dành riêng cho người đi bộ: Dừng lại lề đường, nghe và quan sát bên trái, bên phải, đi qua khi đường vắng, vừa đi vừa nhìn đường đến khi sng được đầu bên kia an toàn.

- nếu có ô tô đậu ở nơi bạn đang đi qua thì phải quan sát kỹ trước sau và nên giơ tay để tăng them chú ý

- Không đi bộ hoặc cạnh xe ô tô, búyt.

- Luôn đi đúng phần đường dành riêng cho người đi bộ.

- Đi bộ ở vỉa hè bên phải. Nếu không có vỉa hè thì đi vào phần đường bên phải càng cách xa các phương tiện giao thông càng tốt.

- Không đi dàn hang ngang trên đường.

- Từ trong ngõ đi ra đường phải quan sát kỹ, không chạy nhanh ra.

b. Đi xe đạp

- Đi đúng phần đường dành cho người đi xe đạp và những nơi an toàn.

- Không đi xe đạp vào buổi tối

-Khi đi muốn dừng phải quan sát kỹ phải trái và đằng sau đi chậm lại và làm tín hiệu để người khác biết bạn định dừng.

- Chấp hành đúng luật lệ giao thông

+ Dừng và đi theo tín hiệu đèn

+ Giơ tay xin rẽ khi muốn rẽ

+ Đi chậm lại, quan sát rồi mới rẽ

+ Không đi dàn hang ngang 3-4

+ Không đèo 2-3 người

+ Nên dắt xe qua đường, không nên đi qua đường.

c. Đi xe ô tô và xe buýt

- Ngồi ghế sau, đeo dây an toàn, ngồi ghế dành cho trẻ em.

- Khi mở cửa xe phải quan sát xem xung quanh có người không? Mở từ từ để người ngồi sau biết mình mở cửa và thường nên mở cánh cửa sát lề đường.

- Không đùa nghịch, leo trèo trên xe

- Đi vào xe thành một hang không chen lấn xô đẩy.

- Ngồi tại chỗ.

-Không thò đầu, tay ra ngoài

-Không ném đồ vật ra ngoài cửa xe

- Khi ra khỏi xe, đi lên vỉa hè để lái xe nhìn thấy  mình.

- Không nhặt những đồ vật gần xe ô tô, nếu cần phải nói với người lái xe trước để đề phòng họ không nhìn thấy và đâm phải trẻ.

e. Hướng dẫn người lớn cách đèo trẻ bằng xe đạp và xe máy an toàn.

- Trẻ em dưới 6 tuổi phải ngồi trong ghế có dây an toàn

- Không bế trẻ em vừa đi xe

- Quan sát kỹ và bấm còi, đèn khi xe đi từ đường vào ngõ và ngược lại.

5. Biện pháp

- Cần kết hợp các chương trình học khác nhau vào một chương trình chuẩn để đưa ra những thực hành tốt nhất về an toàn theo cách đơn giản có thể thực hiện ở các trường học trên cả nước.

- Quy định mới về  quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm ở trẻ em từ 6 tuổi trở lên là biện pháp tốt để tăng cường đội mũ bảo hiểm. Mở rộng luật bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm với tất cả các độ tuổi nên được tiếp tục để nâng cao hơn nữa an toàn giao thông cho trẻ.

- Giải quyết vấn đề về chất lượng bảo hiểm cần thực hiện song song với thực thi quy định mũ bảo hiểm. Mũ bảo hiểm sản xuất/ nhật khẩu rẻ với chất lượng thấp không có khả năng bảo vệ và làm giảm hiệu quả các nỗ lực khuyến khích đội mũ bảo hiểm. Mạc dù đã có những tiêu chuẩn lien quan đến chất lượng mũ bảo hiểm, hiện nay việc thực thi các quy định này vẫn chưa triệt để. Do đó, cần đưa ra những tiêu chuẩn chất lượng mũ bảo hiểm với nhập khẩu và sản xuất mũ bảo hiểm ở Việt Nam.

- Thực thi các quy định khác như giới hạn tốc độ ở ku vực dân cư và khu vực trường học và sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông cũng cần triển khai chặt chẽ song song với các quy định về mũ bảo hiểm.

- Tiếp tục các nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giao thông, phát triển hệ thống giao thông công cộng như: phân luồng giao thông ở những tuyến đường và phố chính, bố trí đường an toàn dành cho người đi bộ khi sang ở những tuyến đường và phố chính bằng đèn giao thông.

- Vận chuyển cấp cứu và hệ thống sơ cấp cứu ban đầu cần tăng cường nhằm giảm nguy cơ tử vong và thưong tích ở những ngưòi bị tai nạn.

6. Tuyên truyền cách phòng tránh tai nạn giao thông khi đi bộ

Ở nông thôn, miền núi, đường xá giao thông nói chung còn dừng ở mức độ thô sơ đất đá, còn gồ ghề, thậm chí còn hố sâu lại vòng qua các cung đường hiểm trở. Vì thế, phải nhắc nhở trẻ em đi lại phải hết sức thận trọng.

 Giáo dục trẻ em không nên chạy khi xuống dốc. Không giẫm lên các vật như gỗ, đá tảng, các vật lạ khác vương vãi trên đường.Không nô đùa khi đi trên đường.Không đi ra mép đường.Trường hợp đi tối phải có đèn, đuốc. 

* Trường hợp đường có suối chảy cắt ngang phải cẩn thận dò đường tìm chỗ nước nông, lựa chân từng bước một để khỏi ngã do rong rêu, hoặc do đá trượt.

* Giáo dục cho các em cần chú ý khi đi lại trên đường phố:

 - Không đi bộ dưới lòng đường. Không đùa nghịch, đá bóng, cầu  trên hè phố.

 - Không chạy qua đường, nếu cần qua đường phải đi vào chỗ quy định cho người qua đường, phải quan sát, đến nơi có đèn tín hiệu thì khi trông thấy đèn xanh bật sáng mới đi qua.

 - Các em còn nhỏ nên chờ người lớn đi qua nhờ dắt qua đường.

* Tuyên truyền cho mọi người hiểu biết về luật an toàn giao thông

* Phòng tránh tai nạn khi đi xe đạp, xe máy: 

- Không đạp xe xuống dốc dù xe có phanh hay không có phanh. Hãy chịu khó dắt bộ một đoạn cho hết dốc.

- Không dừng xe ở giữa lòng đường.Không đi xe hàng hai, hàng ba, không bỏ hai tay.Không vượt ngã ba, ngã tư khi đèn giao thông có tín hiệu đỏ.

- Không vừa đi vừa đùa nghịch. Khi cần dừng lại, phải nép vào sát lề đường bên phải.

- Khi muốn rẽ, phải giơ tay xin đường.

- Không đua xe, không phóng nhanh, vượt ẩu.Khi lên xuống xe máy, cần thận trọng và quan sát trước sau để khỏi bị va quệt. Ngồi trên xe máy phải ôm vào eo người lái hoặc bám vào yên xe để đề phòng bị hất ra khỏi xe.

- Mọi phương tiện tham gia giao thông cần nghiêm chỉnh chấp hành luật an toàn giao thông. (bao gồm cả đội mũ bảo hiểm khi đi đường)

II. ĐUỐI NƯỚC VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC ĐỐI VỚI TRẺ EM

1. Đuối nước là gì?

1.1. Khái niệm

Đuối nước là bất kỳ một chất một chất lỏng nào khi xâm nhập vào đường thở (mũi, mồm, khí phế quản, phổi) làm cản trở sự hô hấp. Đuối nước dẫn đến thiếu ô xy cung cấp lên não, nếu không được cấp cứu kịp thời nạn nhân sẽ bị bất tỉnh, chết hoặc để lại di chứng não nặng nề.

Trẻ em do đặc điểm sinh lý và sức yếu nên khi bị đuối nước rất dễ bị ngạt thở trong khoảng thời gian rất ngắn. Nếu không can thiệp kịp thời với kỹ thuật hô hấp chính xác thì nguy cơ tử vong rất cao.

Khi trẻ bị đuối nước, ngay lập tức trẻ ngừng thở và nhịp tim chậm lại do phản xạ. Nếu tiếp tục ngừng thở sẽ dẫn đến thiếu ô xy máu gây tăng nhịp tim, tăng huyết áp và tan máu. Nếu cơn ngừng thở kéo dài từ 20 giây đến 2 hoặc 5 phút, nhịp thở xuất hiện trở lại khiến nước bị hít vào qua nắp thanh quản, gây co thắt thanh quản tức thì; nước tràn vào phế nang gây rối laọn nhịp tim, ngừng tim và tử vong.

1.2. Tình hình trẻ em bị đuối nước ở Việt Nam

Theo điều tra y tế quốc gia tại Việt Nam năm 2002, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu trong số các tai nạn thương tích gây tử vong cho trẻ em trong nhóm từ 1-14 tuổi. Ở một đất nước có nhiều sông, hồ, ao nước bao quanh khu vực nhà ở của dân cư, tỷ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em rất đáng báo động; bên cạnh đó mưa bão và lũ lụt thường xuyên xảy ra càng khiến cho vấn đề này trở nên nghiêm trọng hơn. Chẳng hạn, năm 2007 có 3.786 trẻ em và người chưa thành niên trong độ tuổi 0-19 tuổi bị tử vong do bị đuối nước (Bộ Y tế, 2008); tỷ lệ tử vong này tương đương với 10,4 trường hợp/100.000 trẻ, cao gần gấp 3 lần tỷ lệ tử vong do đuối nước ở các nước phát triển. Theo các báo cáo thống kê của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trong giai đoạn từ năm 2004 – 2007 cho thấy tử vong do đuối nước chiếm đến 50% tổng số tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em (Bộ LĐ-TB và XH, 2007).

Có sự khác nhau trong tỷ lệ tử vong do đuối nước giữa trẻ em trai và trẻ em gái và trẻ em ở các nhóm tuổi. Báo cáo của Bộ Y tế và Trường đại học Y tế công cộng cho thấy ở Việt Nam tỷ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em trai cao gấp đôi so với trẻ em gái (BYT, 2008; Nguyễn và cộng sự, 2009). Báo cáo tử vong do tai nạn thương tích của Bộ Y tế (BYT, 2008) cũng cho thấy nhóm trẻ em từ 0-4 tuổi có tỷ lệ tử vong do đuối nước cao nhất, tương đương với 17,2 trường hợp/100.000 trẻ em, tỷ lệ này cao gấp khoảng 2 lần so với các nhóm tuổi khác. Một điều tra khác (Linnan và cộng sự, 2003) cũng cho thấy tỷ lệ tử vong do đuối nước rất cao, chiếm 72% ở nhóm trẻ em 5-14 tuổi trong đó khoảng một nửa trong số đó là trẻ em ở nhóm 5-9 tuổi. Điều này giải thích một thực tế là ở Việt Nam hầu hết các trường hợp đuối nước xảy ra bên ngaòi nhà ở, ở các vùng nước mở, là nơi trẻ em 5-14 tuổi thường tắm và chơi đùa hơn là những trẻ em ở lứa tuổi nhỏ hơn.

2.Nguyên nhân và nguy cơ gây đuối nước ở trẻ em Việt Nam

2.1. Nhận thức về tai nạn đuối nước trẻ em còn thấp:

Mặc dù đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong cho nhóm trẻ em và vị thành niên; nhưng nhận thức của lãnh đạo, chính quyền các cấp, của người dân ở cộng đồng và của chính trẻ em về các nguy cơ và hậu quả của đuối nước vẫn còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc vấn đề đuối nước trẻ em vẫn chưa được chú trọng truyền thông trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chưa được bàn thảo rộng rãi trong các cộng đồng dân cư; các cấp chính quyền chưa chú trọng giải quyết các nguy cơ gây đuối nước ở trẻ em một cách nghiêm túc và toàn diện. Chẳng hạn: ở các địa phương có nhiều sông,  hồ,  ao, suối,  hố nước sâu,… chưa được đầu tư xây dựng cầu, phà, không có biển báo nguy hiểm, rào chắn an toàn; thiếu đầu tư trang thiết bị phòng chống đuối nước cho trẻ như phao cứu sinh,.... Tất cả những hạn chế này dẫn đến kiến thức và kỹ năng phòng tránh đuối nước trẻ em ở Việt Nam còn rất thấp.

2.2. Thiếu sự giám sát trẻ đầy đủ của người lớn

Một trong những yếu tố chính dẫn đến tỷ lệ đuối nước cao ở trẻ, đặc biệt là nhóm trẻ nhỏ đó là sự thiếu giám sát đầy đủ của người lớn. Các nguồn nước mở (sông, suối, ao, hồ,...) không được bảo vệ lại thiếu người cứu hộ và thiếu sự giám sát trẻ của người lớn khi các em đi học, chơi đùa gần hoặc tắm ở khu vực này đều làm tăng nguy cơ đuối nước đối với trẻ em; thậm chí ngay cả khi có sự giám sát của người lớn nhưng chỉ cần lơ là trong khoảnh khắc 1-2 phút là nguy cơ đuối nước trẻ em có thể xảy ra. Ví dụ, một nghiên cứu định tính do UNICEF trợ giúp ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã chỉ ra có nhiều trường hợp đuối nước xảy ra với trẻ nhỏ (bị rơi xuống ao, giếng hay bể nước,...) chỉ trong vòng vài phút khi người trông trẻ đi vệ sinh, lấy nước hay làm một số công việc thường ngày. Vào mùa hè, khi khí hậu nắng nóng tăng lên, hiện tượng đuối nước trẻ em xảy ra nhiều hơn với nhóm học sinh ở lứa tuổi tiểu học, THCS do các em đi tắm nhưng không có sự giám sát thường xuyên của người lớn, đặc biệt trong kỳ nghỉ hè các em rất thích đi bơi (nhất là ở vùng nông thôn có nhiều sông, hồ) vì bản tính hiếu động, hơn nữa cũng không có nhiều hoạt động giải trí khác thu hút trẻ.

2.3. Trẻ em Việt Nam thiếu kỹ năng bơi

Không biết bơi là một nguy cơ cực kỳ quan trọng dẫn đến tình trạng đuối nước ở trẻ em Việt Nam. Nhiều cuộc khảo sát của nhiều tổ chức cho thấy một thực tế ở Việt Nam hầu hết trẻ em bị đuối nước là do không biết bơi. Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy rất nhiều trẻ em Việt Nam không biết bơi. Trong khi đó, ở các cộng đồng kể cả ở nông thôn và thành phố trẻ em rất thiếu môi trường vui chơi an toàn; trong các cuộc điều tra phần lớn các em học sinh ở vùng nông thôn khi được hỏi đều trả lời các em thường hay chơi đùa gần ao, hồ, thậm chí ngay trên dòng sông, suối; điều này cho thấy nguy cơ tai nạn đuối nước càng cao nhất là với trẻ em không có kỹ năng bơi. Nguyên nhân chính khiến đại đa số trẻ em Việt Nam không biết bơi là do trẻ không được dạy bơi từ bé bởi cha mẹ quá bận công việc hoặc có khá nhiều bậc cha mẹ quan niệm sợ dạy cho trẻ em biết bơi chúng sẽ đi tắm sông hồ nhiều dễ bị đuối nước hơn. Thực tế nhiều bằng chứng trên thế giới cho thấy tỷ lệ đuối nước giảm nhiều khi trẻ biết bơi.

2.4. Môi trường sống không an toàn

Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài, các khu vực dân cư sống xen lẫn giữa môi trường địa lý có hệ thống ao hồ, sông suối, kênh rạch chằng chịt. Người dân ở nhiều địa phương thường có nhu cầu làm nhà ngay gần sông suối để tiện lấy nước cho sản xuất và sinh hoạt; tuy nhiên, hầu như phần lớn người dân lại không có nhiều hành động tích cực để thực hiện các biện pháp an toàn cho trẻ. Ví dụ rất nhiều nhà ở làm gần ao hồ, sông suối... nhưng không có rào chắn; các giếng đào hay bể nước không có nắp đậy an toàn. Đặc biệt ở khu vực đồng bằng sông Cửu long, người dân phải sống chung với lũ, nhiều nhà ở và nhà vệ sinh xây nổi trên sông, kênh rạch,...càng làm tăng nguy cơ đuối nước, nhất là đối với nhóm trẻ nhỏ dưới 10 tuổi. Mặt khác, do thiếu ý thức một số nhà thầu xây dựng không làm các rào chắn an toàn ở các công trình đang xây dựng như hố đào đất, cống ngầm, hoặc việc san lấp các hố nước tại công trường không đảm bảo kỹ thuật,...cũng là những nguy cơ gây ra đuối nước ở trẻ em.

2.5. Phương tiện vận tải đường thủy không an toàn

Giao thông đường thủy là một trong những phương tiện giao thông quan trọng và phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt ở những khu vực có sông suối dày đặc như đồng bằng sông Cửu Long hoặc một số địa phương ở khu vực miền Trung thì đường thủy là phương tiện giao thông chính của người dân và trẻ em. Số liệu của Bộ LĐTBXH năm 2007 cho thấy cả nước có hơn 2.300 bến sông với hơn 5.000 tàu, thuyền và phà đang hoạt động, phục vụ hơn 80 triệu lượt khách mỗi năm, chiếm khoảng 20% tổng số hành khách vận chuyển bằng các phương tiện. Ở các khu vực này, phần lớn trẻ em thường phải đi học bằng thuyền, phà hoặc qua sông bằng cầu tre tạm bợ,... Tuy nhiên, phần lớn các phương tiện giao thông đường thủy này không được chủ các phương tiện đầu tư đúng mức các biện pháp đảm bảo an toàn cho hành khách như: xuồng cứu sinh, thiếu áo phao trên thuyền cũng là nguyên nhân chính dẫn đến đuối nước chiếm 41,9% (Chuc, 2006).

 Mặt khác, việc thực hiện luật pháp và các quy định về an toàn giao thông đường thủy chưa được thực hiện nghiêm túc cũng là nguy cơ cao đối với đuối nước trẻ em. Luật an toàn giao thông đường thủy được phê chuẩn vào ngày 01/01/2005; nhưng thực tế việc thực thi pháp luật còn rất hạn chế nên vẫn còn tình trạng nhiều tàu thuyền đã quá cũ nát kém chất lượng vẫn còn được lưu thông, nhiều người điều khiển phương tiện giao thông đường thủy không có bằng lái hoặc có bằng lái nhưng không được đào tạo bài bản; nhiều tàu, thuyền thiếu thiết bị an toàn hoặc chở quá tải...vẫn không được các nhà chức trách xử lý nghiêm túc. Kết quả điều tra của Bộ Y tế cho thấy khi các vụ va chạm hoặc lật thuyền, phà xảy ra những nguy cơ trên dẫn đến nguyên nhân trẻ bị đuối nước rất cao chiếm 48,4% (Chuc, 2006). Ngoài ra, thiếu nhân viên cứu hộ, thiếu kỹ năng xử lý và khả năng tiếp cận các dịch vụ điều trị, phục hồi chức năng của các trường hợp bị đuối nước cũng làm cho giao thông đường thủy trở nên nguy hiểm, đặc biệt đối với trẻ em. Tất cả những nguyên nhân này dẫn tới hàng năm rất nhiều tai nạn giao thông đường thủy trầm trọng đã xảy ra cướp đi cuộc sống của hàng ngàn trẻ em.

3. Các biện pháp phòng tránh đuối nước trẻ em

3.1. Tăng cường giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức về phòng tránh đuối nước trẻ em.

Thông qua hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, qua hệ thống giáo dục của nhà trường, qua hoạt động Đoàn, Hội, Đội, câu lạc bộ,…và qua sinh hoạt của cộng đồng tăng cường truyền thông giáo dục, phổ biến các kiến thức cơ bản về đuối nước, về Luật an toàn giao thông đường thủy, về các biện pháp phòng tránh đuối nước an toàn cho trẻ tại trường học, nơi vui chơi công cộng của trẻ, tại gia đình hoặc tại cộng đồng,…Nhà nước và các tổ chức đoàn thể có liên quan cần đa dạng hóa các hình thức phổ biến kiến thức và đào tạo kỹ năng phòng tránh đuối nước trẻ em như: tờ rơi, áp phích, phim hoạt hình, các clip ngắn,…hấp dẫn, ngắn gọn, rõ ràng về thông điệp, hình ảnh, màu sắc và phù hợp với đối tượng để đảm bảo kết quả truyền thông đạt hiệu quả cao.

Tăng cường truyền thông, giáo dục và quản lý trẻ em trong nhà trường là một biện pháp can thiệp tích cực nhằm giảm nguy cơ đuối nước cho trẻ em. Thông qua các hoạt động truyền thông như diễn đàn, thảo luận nhóm, hội thi vẽ tranh, biểu diễn văn nghệ, lồng ghép/tích hợp kiến thức về phòng tránh đuối nước vào các môn học có liên quan; thi tìm hiểu về luật an toàn giao thông đường thủy, thi tìm hiểu về kiến thức và kỹ năng phòng tránh đuối nước; thi tuyên truyền viên xuất sắc, thi xây dựng mô hình sáng tạo “môi trường sống an toàn phòng tránh đuối nước của chúng em” tại trường (gia đình, cộng đồng),…. Bên cạnh đó, tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể, vui chơi lành mạnh để thu hút trẻ em tham gia vào các hoạt động an toàn.

3.2. Chủ động phòng tránh đuối nước cho trẻ em bằng các biện pháp can thiệp tích cực

Tổ chức dạy bơi, dạy phương pháp sơ cứu, chuẩn bị các phương tiện cứu hộ, cứu sinh phù hợp với môi trường sống và điều kiện kinh tế (ví dụ: hướng dẫn cách làm cặp phao cứu sinh); hướng dẫn kỹ thuật cấp cứu đề phòng khi tai nạn đuối nước xảy ra. Các biện pháp can thiệp này phải được tiến hành cho cả trẻ em và người lớn; trong đó, bước đầu có thể huy động nguồn lực của gia đình và xã hội hóa để tiến hành với ngay học sinh, giáo viên và đội ngũ tác viên cộng đồng.

Nâng cao trách nhiệm thực thi Luật an toàn giao thông đường thủy của các bên liên quan. Xây dựng, điều chỉnh và hoàn thiện các quy định để đảm bảo việc thực hiện luật pháp liên quan đến an toàn đường thủy một cách nghiêm túc và hiệu quả. Đồng thời, Nhà nước, chính quyền các cấp, các chủ phương tiện có trách nhiệm nâng cao chất lượng các phương tiện đường thủy và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật giao thông đường thủy. Tổ chức triển khai các hoạt động về an toàn đường thủy cho mọi người dân, đặc biệt là trẻ em. Chẳng hạn mở các chiến dịch truyền thông, hướng dẫn và khuyến khích hành khách đi tàu mặc áo phao (có thể thông qua biện pháp xã hội hóa hoặc qua các dự án phi chính phủ để có nguồn lực cung cấp áo phao miễn phí cho trẻ em và người dân nghèo ở một số vùng trọng điểm có nhiều nguy cơ cao về đuối nước trẻ em); yêu cầu chủ tàu thuyền nghiêm chỉnh thực hiện an toàn vận chuyển đường thủy,…

3.3. Hướng dẫn biện pháp sơ cấp cứu đuối nước trẻ em khi tai nạn xảy ra

Trước hết, cần phải quan sát hiện trường và loại trừ các mối nguy hiểm với chính bạn, nếu bạn không biết bơi cần gọi người giúp đỡ. Nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi tác nhân gây đuối nước càng sớm càng tốt, sau đó tiến hành sơ cứu khẩn trương. Tất cả các hành động cấp cứu phải thật khẩn trương mới có hy vọng cứu sống trẻ, bởi nếu được cứu vớt trong vòng một phút khi bị ngạt có thể cứu sống 95%, còn nếu để trẻ chìm trong vòng 5-6 phút thì tỷ lệ sống chỉ còn 1%. Vì vậy, để đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này, có thể tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Tách trẻ ra khỏi tác nhân gây đuối nước

- Nếu bạn biết bơi, nhanh chóng đưa trẻ lên bờ hoặc nâng đầu trẻ lên khỏi mặt nước để làm thông thoáng đường thở, đưa trẻ đến chỗ an toàn. Tuyệt đối không nhảy xuống cứu khi bạn không biết bơi, vì có thể bạn sẽ trở thành nạn nhân của đuối nước.

- Nếu bạn không biết bơi, ngay khi thấy trẻ ngã xuống nước hoặc có nguy cơ bị đuối nước thì nhanh chóng kêu hô, gọi mọi người tới giúp đỡ; đồng thời, cùng lúc thực hiện các hành động sau:

+ Nếu trẻ lớn bị đuối nước ở gần bờ mà chưa bị chìm: hãy đưa một vật gì đó cho trẻ (gậy, sào, phao có buộc dây thừng hoặc dây thừng…) và để trẻ nắm lấy và kéo trẻ lên bờ một cách an toàn.

+ Nếu trẻ bị đuối nước và đang chìm ở chỗ nước sâu, quá xa bờ: cần nhanh chóng sử dụng thuyền (nếu có sẵn) bơi đến để vớt trẻ lên thuyền.

- Lưu ý: Người bị đuối nước thờng hốt hoảng, dãy dụa, nên khi gặp người cứu thường túm chặt, vì thế rất dễ làm người cứu cũng chìm theo. Vì vậy, người cứu trẻ cần phải biết các kỹ thuật sau:

+ Tìm con đường ngắn nhất bơi đến chỗ trẻ bị đuối nước, bơi vòng phía sau trẻ cách 2-3m, lặn xuống lao tới dùng tay phải giữ chân trái của trẻ ở phía sau dưới kheo chân, còn tay trái đẩy đầu gối trẻ, xoay lưng trẻ về phía mình.

+ Khi kéo trẻ trên mặt nước: để trẻ không túm chặt lấy người cứu, có thể làm một số động tác sau: Xoay lưng trẻ về phía người cứu, hai tay xốc nách trẻ, giữ chặt vai trẻ và bơi bằng hai chân; hoặc để lưng trẻ về phía người cứu, dùng một tay túm tóc trẻ để kéo, giữ cho mũi và miệng trẻ nhô lên khỏi mặt nước, dùng tay còn lại và hai chân bơi nghiêng.

Bước 2:  Sơ cấp cứu trẻ sau khi đã đưa lên bờ an toàn

Khi đã đưa được trẻ bị đuối nước lên bờ an toàn, cần khẩn trương sơ cứu trẻ ngay theo các cách sau:

- Nếu trẻ vẫn tỉnh táo thì đặt trẻ nằm ngửa, đầu thấp và nghiêng sang một bên; kiểm tra và lấy dị vật (nếu có như bùn, đất, rác…) trong miệng và đường thở của trẻ; ép lồng ngực và bụng của trẻ cho nước trào ra ngoài. Chú ý ủ ấm cho trẻ, trấn an tinh thần, tránh để trẻ bị hoảng loạn.

- Nếu trẻ bất tỉnh, thở yếu hoặc đã ngừng thở, ngừng tim: tiến hành hô hấp nhân tạo, hà hơi, thổi ngạt và ép tim ngoài lồng ngực đúng kỹ thuật; kiên trì làm nhiều lần. Hoặc vác trẻ lên lưng, hai tay cầm lấy 2 chân trẻ dốc ngược, để đầu quay xuống phía dưới và chạy để bụng trẻ ép vào lưng mình cho nước ộc hết ra, sau đó đặt trẻ nằm nghiêng, móc đờm dãi, thổi ngạt trực tiếp, tiếp tục ép tim ngoài lồng ngực. Đây là phương pháp hiệu quả nhất để khôi phục sự trao đổi khí. Khi tỉnh lại, trẻ sẽ nôn ra nước; do vậy phải để trẻ nằm ở tư thế nghiêng đầu một bên, hạn chế tình trạng trẻ bị đuối nước trở lại do bị sặc chất nôn của chính mình. Sau đó, chú ý ủ ấm cho trẻ và trấn an tinh thần của trẻ.

Bước 3: Chuyển trẻ bị đuối nước đến cơ sở y tế 

Sau khi đã sơ cấp cứu và trẻ đã được hồi phục bước đầu, tiếp theo phải nahnh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để trẻ được theo dõi và  tiếp nhận sự chăm sóc tiếp theo của nhân viên y tế.

3.4. Các biện pháp phòng ngừa đuối nước cho trẻ em

a. Đối với trẻ nhỏ dưới 10 tuổi:

+ Người lớn luôn ở cạnh trẻ trong phạm vi rất gần khoảng từ 3-4m, đảm bảo luôn nhìn thấy, nghe thấy tiếng trẻ. Khi trẻ tham gia các hoạt động cùng gia đình ở những nơi có nguy cơ đuối nước cao như ăn tiệc, vui chơi, giải trí ở gần sông suối, ao hồ, biển hay nghỉ mát tắm biển cách tốt nhất là phải trang bị áo phao cho trẻ, cử người lớn biết bơi có kỹ năng sơ cấp cứu đuối nước giám sát, theo dõi trẻ, không được lơ là mất cảnh giác. 

+ Không nên để trẻ em dưới 10 tuổi trông em bé hơn. Người lớn hoặc người trong gia đình cần học kỹ thuật sơ cấp cứu trẻ đuối nước như hô hấp nhân tạo, vác ngược trẻ trên lưng chạy để nước dốc ra ngoài…             

b.Đối với trẻ trên 10 tuổi:

+ Dạy trẻ kỹ năng bơi và các nguyên tắc an toàn khi bơi. Bố mẹ hoặc người lớn hướng dẫn trẻ học bơi ở những nơi an toàn. Trẻ chỉ được công nhận biết bơi khi có thể bơi được 25m liên tục và tự lặn nổi ít nhất 5 phút; dạy trẻ tuân thủ những nguyên tắc an toàn khi bơi như không nhảy cắm đầu ở những nơi không có chỉ dẫn; không tắm, bơi ở những nơi có nước sâu, chảy xiết, xoáy; không bơi khi trời đã tối, có sấm chớp, mưa; tuyệt đối tuân theo các bảng chỉ dẫn nguy hiểm; phải khởi động thân thể trước khi xuống nước; không ăn uống khi đang bơi để tránh sặc nước; không dùng các phao bơm hơi;

+ Giáo dục trẻ không đi bơi ở những nơi không có người lớn giám sát; không chơi ở những nơi gần sông, ao, hồ, biển…; không bơi khi vừa đi ngoài nắng về. Đồng thời, cần hướng dẫn trẻ cách xử lý khi bị đuối nước (kêu cứu, kỹ thuật tự cứu và cứu đuối).

c. Đối với môi trường xung quanh:

+ Chủ các phương tiện thuyền, đò, ghe chở trẻ đi học qua sông, hồ phải trang bị phao cứu sinh và các phương tiện cứu hộ.

+ Theo dõi thông tin về thời tiết để có biện pháp chuẩn bị phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai bão lụt gây ra (chuẩn bị phương tiện cần thiết cho cấp cứu đuối nước như phao, thuyền, giây thừng, sào dài…).

3.5. Biện pháp can thiệp phòng ngừa tại gia đình và cộng đồng.

a.Ở tại gia đình:

-  Tuyên truyền hướng dẫn gia đình, những người trực tiếp chăm sóc, quản lý trẻ và bản thân trẻ về nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp phòng tránh đuối nước.

- Làm cổng chắc chắn để trẻ không tự mở; làm cửa chắn nếu nhà gần ao, hồ, sông, biển. Lưu ý khi làm rào chắn, khoảng cách giữa các thanh rào tối đa 15 cm, chiều cao rào tối thiểu là 80 cm.

- Giếng, bể nước, vại, chum nước cần có các nắp đậy an toàn. Đổ hết nước trong các xô, chậu, chum, vại đựng nước khi không sử dụng. Hố tôi vôi khi đã sử dụng hết cần lấp kín, tránh các em chơi đùa bị rơi xuống hố.

- Đối với vùng lũ hoặc nhiều sông suối: dùng giường 3 vách, trẻ mặc áo phao khi đi trên thuyền; trẻ đi học qua vùng kênh rạch phải có ngời lớn dẫn đi.

-  Không được để trẻ đi tắm, bơi lội ở ao hồ một mình mà không có người lớn biết bơi đi kèm.

-  Luôn có người cứu hộ ở cạnh trẻ em và theo dõi sát khi chúng tắm hoặc vui chơi, cắm trại ở chỗ có nước.

-  Bố mẹ, người lớn và trẻ em trong mỗi gia đình cần tích cực học bơi và tham gia các lớp tập huấn về phòng tránh TNTT trẻ em do đuối nước; thực hành các kỹ năng sơ cấp cứu khi bị đuối nước.

b.Ở cộng đồng dân cư

- Lập biển báo nguy hiểm hoặc làm rào chắn xung quanh ao, hồ, các hố nước đang thi công, rãnh nước quanh các khu dân cư.

-  Nhà trường và các tổ chức đoàn thể cần tổ chức các hoạt động sinh hoạt, vui chơi tập thể để thu hút trẻ vào các hoạt động an toàn lành mạnh.

-  Hướng dẫn cho trẻ em học bơi và các kỹ năng an toàn khi bơi theo trường lớp, đội, nhóm với sự hướng dẫn và quản lý của kỹ thuật viên.

-   Kịp thời phát hiện các yếu tố nguy cơ có biện pháp can thiệp để hạn chế hậu quả của TNTT do đuối nước.

-  Trong mùa mưa lũ, cần phải có biển báo những chỗ nước sâu, nguy hiểm và nhắc nhở trẻ em tuân theo các lời chỉ dẫn.

-  Cộng đồng, gia đình nên chuẩn bị các trang thiết bị dự phòng để ứng phó kịp thời khi xảy ra đuối nước: phao cứu sinh, dây thừng, ca nô, xuồng cứu hộ, các dụng cụ cấp cứu cá nhân...

III. NGÃ VÀ CÁC BIÊN PHÁP PHÒNG TRÁNH ĐỐI VỚI TRẺ EM

Trẻ em là đối tượng rất hiếu động, ham chơi, vì thế tai nạn xảy ra với trẻ là chuyện thường ngày, đặc biệt là đối với tai nạn té ngã ở trẻ. Có thể nói, hầu như đứa trẻ nào trong đời cũng đã từng bị té ngã từ một vài lần đến nhiều lần. Có trường hợp trẻ bị té ngã chỉ bị xây xát nhẹ ngoài da và không gây hậu quả gì nghiêm trọng, nhưng có trường hợp gây ra chấn thương rất nặng nề dẫn đến di chứng suốt đời hoặc tử vong. Vì vậy, việc trang bị kiến thức về ngã và các hậu quả của ngã, chẩn đoán và xử lý ban đầu cho trẻ khi ngã là cần thiết đối với các cán bộ y tế, cộng tác viên cơ sở và nhân viên xã hội.

1. Khái niệm

Ngã và những chấn thương do ngã là những tai nạn rất thường gặp ở trẻ em, ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi lúc và mọi nơi. Ngã để lại những hậu quả trước mắt và lâu dài, nhẹ nhất là trẻ bị chấn thương phần mềm như sưng, bầm hoặc xây xát da tại chỗ, nặng hơn trẻ có thể bị gãy tay, gãy chân, nhiều khi ảnh hưởng nghiêm trọng tới chức năng , nặng hơn nữa trẻ có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

2. Nguyên nhân

Có thể chia các nguyên nhân của ngã thành 3 nhóm lớn:

2.1. Do trẻ thiếu ý thức và kiến thức

Ngã thường xảy ra tại nhà (bố mẹ đi vắng), tại trường học và dễ gây tổn thương, hoặc chẩn đoán muộn (trẻ không nói) làm thương tích trầm trọng hơn.

2.2. Do người lớn thiếu kiến thức và ý thức

2.3. Môi trường có nhiều yếu tố nguy cơ

3.Các biện pháp phòng tránh tai nạn ngã cho trẻ em

3.1. Phòng tránh cấp I: (trước khi xảy ra tai nạn)

a. Đối với đối tượng nguy cơ (trẻ em và gia đình, bố mẹ):

b. Đối với các nhà chuyên môn

          3.2. Phòng tránh cấp II

3.3. Phòng tránh cấp III

  1. Biểu hiện và chẩn đoán

        Ngã và các hậu quả của nó có các biểu hiện rất khác nhau về mức độ nặng nhẹ, có khi rất rầm rộ nhưng cũng có khi rất kín đáo, phải hết sức để ý mới phát hiện được.  Cần biết rằng ở trẻ em các tổn thương do ngã liên quan mật thiết với hoàn cảnh, tư thế lúc ngã. Do vậy, việc khai thác và hỏi bệnh nhiều khi có giá trị định hướng tổn thương rất lớn.

        Chấn thương trẻ nhỏ được chia ra 3 mức độ tổn thương: Mức độ nhẹ, mức độ trung bình và mức độ nặng.

Mức độ nhẹ: Sau ngã, trẻ bị sưng bầm tại một vùng nào đó trên cơ thể nhưng sinh hoạt đi đứng ăn uống bình thường thì chỉ cần giữ sạch tránh xoa bóp và sức dầu nóng lên vùng này trong 72 giờ đầu. Ở múc độ này quí phụ huynh có thể giữ trẻ lại tại nhà để chăm sóc và theo dõi.

Mức độ trung bình:

-  Nếu trẻ có vết xây xát hoặc có vết thương trên bề mặt da thì cần giữ sạch và băng bó tạm thời bằng gạc sạch sau đó đem trẻ tới cơ sở y tế gần nhất để được xử trí vết thương và hướng dẫn chích ngừa bệnh uốn ván.

- Nếu sau ngã trẻ bị sưng tay hoặc chân kèm cử động tay chân hạn chế cần cố định tạm vùng chi bị chấn thương, sau đó đem trẻ tới cơ sở y tế có chuyên khoa về chấn thương chỉnh hình để được hướng dẫn và xử trí.

Mức độ nặng: Nếu sau ngã trẻ có những dấu hiệu sau:

Thì phải đưa trẻ tới ngay cơ sở y tế gần nhất để được sơ cứu và chuyển tuyến chuyên khoa điều trị.

b. Một số chấn thương khi trẻ ngã:

Tổn thương xương khớp

Một số tư thế gãy xương đặc hiệu ở trẻ:

Chấn thương bụng

Chấn thương vùng bụng thường do sang chấn trực tiếp (ngã đạp bụng xuống nền cứng…), nhiều khi rất khó phát hiện hoặc phát hiện muộn do trẻ giấu hoặc không hợp tác.

Chấn thương ngực

Chấn thương sọ não

Chấn thương sọ não có thể có các mức độ khác nhau:

Đa chấn thương

Đa chấn thương là trường hợp bị tổn thương từ hai cơ quan trong cơ thể trẻ trở lên có đe dọa đến tính mạng. Với trường hợp này cần thăm khám thường xuyên, toàn diện để không bỏ sót tổn thương và xử lý thương tổn theo trình tự ưu tiên

  1. Xử trí ban đầu

Có một số biện pháp xử trí ban đầu ở các địa phương (theo kinh nghiệm dân gian) đối với những thương tổn do ngã có hiệu quả. Tuy nhiên, khi xử lý ban đầu cần tuân theo một quy trình khoa học, nếu làm sai có thể biến một tổn thương ban đầu vốn dĩ nhẹ nhàng thành phức tạp, để lại hậu quả nặng nề và lâu dài. Cần tuân theo một số nguyên tắc chung nhưn sau:

Cần lưu ý xử trí đối với từng loại tổn thương nhưn sau:

Tổn thương phần mềm: trầy xước da, tụ máu, bầm tím

Những việc cần làm

+ Rửa nước muối ấm sạch.

+ Đặt gạc vô khuẩn, băng nhẹ.

+ Đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra.

Những việc không được làm

+ Xoa dầu, cao.

+ Bôi cồn trực tiếp vào vết thương (dễ gây sót, bỏng)

+ Rắc thuốc kháng sinh bột vào vết thương

Bong gân, tổn thương dây chằng

Những việc cần làm

+ Với vết thương dưới 6 giờ : Chườm mát, bất động chi.

+ Với vết thương trên 6 giờ :  Ngâm nước muối ấm, băng chun cố định, dùng thuốc giảm đau, chống phù nề.

+ Hạn chế vận động đi lại.

+ Đến cơ sở y tế để kiểm tra.

Những việc không được làm

+ Xoa bóp.

+ Bôi dầu, đắp lá láng.

+ Tự nắn chỉnh hoặc đi khám ông lang.

Trật khớp, gãy xương

Những việc cần làm

+ Cần để trẻ nằm bất động thật tốt trước khi di chuyển trẻ tới các cơ sở y tế (nẹp bằng tre, gỗ, thậm chí bằng bìa cứng).

+ Nếu nghi trẻ bị chấn thương cột sống thì để trẻ nằm ngửa trên ván cứng.

Những việc không nên làm

+ Tuyệt đối không được xoa bóp, tự nắn chỉnh vì chỉ gây đau them, thậm chí làm tổn thương them mạch máu và thần kinh.

Chấn thương bụng – vỡ tạng

Những việc cần làm

+ Lập đường truyền tĩnh mạch.

+ Không thay đổi tư thế trẻ đột ngột.

+ Chuyển tới cơ sở ngoại khoa gần nhất (nếu đi tới các bệnh viện xa, trẻ có thể tử vong dọc đường do đau, do sốc, do mất máu…)

Những việc không nên làm

+ Giữ theo dõi tại nhà.

+ Tự động dùng thuốc giảm đau mạnh (làm mất triệu trứng).

+ Khám bác sĩ tư không thuộc chuyên khoa.

+ Xoa dầu cao.

Chấn thương sọ não

+ Kê gối dưới vai, nghiêng đầu sang một bên.

+ Thở oxy qua sonde mũi.

+ Hút đờm dãi.

+ Tuyệt đối không cho ăn uống (dễ có nguy cơ sặc vào đường thở).

Chấn thương ngực

Chấn thương nhẹ:

Chấn thương mạnh:

Các tổn thương khác

IV. BỎNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH ĐỐI VỚI TRẺ EM.

1. Khái niệm:

Bỏng là tổn thương của cơ thể ở mức độ khác nhau do tác dụng trực tiếp với các nguồn năng lượng sức nóng (nhiệt), điện, hóa chất và bức xạ, để lại di chứng sẹo, tàn tật, thậm chí dẫn đến tử vong.

Bỏng là một trong những tai nạn rất nguy hiểm đối với trẻ em và trẻ nhỏ. Bỏng không những gây đau đớn, việc chữa chạy phức tạp, lâu dài, tốn kém mà còn có thể gây tử vong cho trẻ, để lại nhiều di chứng nặng nề như sẹo, co kéo cơ hoặc da gây tàn phế suốt đời.

Hàng năm, trên thế giới, bỏng chiếm vị trí hàng đầu trong những tai nạn tại nhà ở trẻ em và nguyên nhân thứ hai gây tử vong cho trẻ. Theo con số thống  kê chưa đầy đủ, ước tính ở Việt nam mỗi ngày có gần 180 trẻ bị bỏng, trong đó:

+ 41% các ca bỏng xảy ra ở trẻ 1 – 4 tuổi.

+ 83,5% các ca bỏng do nước sôi, thức ăn nóng.

+ 80% các ca bỏng xảy ra ngay tại nhà.

Bỏng là một thương tích có thể dự đoán trước được và có thể phòng tránh được. Việc thiếu những kiến thức về bỏng trong cộng đồng góp phần làm tai nạn bỏng hay gặp hơn ở trẻ em và diễn biến bệnh bỏng cũng nặng nề hơn.

2. Một số nguyên nhân gây bỏng thường gặp và hậu quả của bỏng:

a) Nguyên nhân:

+ Nhiệt ướt: là nguyên nhân hàng đầu. Trẻ bị bỏng do nước sôi, thức ăn nóng sôi như mỡ, cháo, canh, cám lợn, mật, nước đậu phụ, hơi nước sôi nóng…

+ Nhiệt khô như lửa, kim loại nóng…, là nguyên nhân thứ hai. Trẻ bị bỏng lửa trong các vụ cháy nổ, do nghịch thuốc pháo, diêm, nến, đốt củi, rơm, dùng cồn nướng  mực… Trẻ còn bị bỏng do tiếp xúc với vật nóng như xoong nồi nóng, ống xả xe máy, bàn là, lò sưởi, hơi nóng của lò nung…

+ Bỏng do điện giật: có thể gặp hai loại bỏng sau:

Bỏng điện sinh hoạt (hạ thế):

Bỏng cao thế:

+ Bỏng do hóa chất:

Địa điểm xảy ra tai nạn bỏng:

Trẻ em, đặc biệt là trẻ em từ 2 – 5 tuổi rất hiếu động, tò mò, chưa ý thuwcsw được sự nguy hiểm nên sự an toàn của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức và kỹ năng của cha mẹ, người chăm sóc trẻ và người lớn. Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi dễ bị bỏng khi:

Trẻ lớn hơn có thể bị bỏng khi nấu ăn giúp bố mẹ hoặc đùa nghịch gần những nơi nấu ăn.

b) Hậu quả của bỏng:

Bỏng rất nguy hiểm và gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Cụ thể:

+ Tổn thương về mặt thể chất:

+ Tổn thương về mặt tinh thần:

c) Một số biểu hiện tổn thương do bỏng:

+ Tại vết bỏng: da đỏ hoặc tím (giống như đi tắm nắng) hoặc các nốt phồng to nhỏ, xung quanh nề đổ, đau rát.

+ Nếu sâu hơn thấy đám da chết màu trắng bạch, trắng xám như đá hoa, hoặc đỏ tím sẫm, khô đen. Bỏng sâu khi khỏi để lại sẹo.

+ Bỏng rộng gây rối loạn toàn thân: trẻ hốt hoảng sợ hãi, vật vã, la hét hoặc li bì, mạch nhanh, đái ít…Sau đó, trẻ có biểu hiện nhiễm độc, nhiễm khuẩn (sốt cao…), gầy mòn có thể dẫn tới chết. Sau khi vết bỏng liền, cơ thể mới dần phục hồi.

Biểu hiện khi bị điện giật:

+ Bỏng điện rất nguy hiểm: Điện giật có thể gây chết người tức khắc do làm ngừng thở, ngừng tim hoặc gây bỏng rất sâu dẫn tới tàn phế nặng. Khi trẻ lại gần dòng điện cao thế (không cần chạm vào nguồn điện) sẽ xảy ra phóng điện.

+ Điện gật gây sốc điện ngay tức khắc: nếu nhẹ gây co cúng, giật cơ, trẻ còn tỉnh; nếu thoát khỏi nguồn điện, các rối loạn sẽ hết nhanh. Nặng hơn: trẻ co giật mạnh, thậm chí bất tỉnh (trẻ tím xám, ngừng thở, ngừng tim, hôn mê, đồng tử giãn…) gây chết tức khắc. Trẻ có thể phục hồi nếu ngắt dòng điện và cấp cứu kịp thời.

+ Điện giật gây bỏng rất sâu: Trẻ bị bỏng sâu tại nơi chạm phải dòng điện. Da bị bỏng khô đen, có thể bỏng tới cơ, gân, xương, mạch máu, thần kinh, khớp… Có thể phải cắt cụt chân tay. Bỏng sâu ở đầu, mặt gây viêm não, màng não…, gây mù mắt. Điện giật gây ngã làm gãy xương, vỡ sọ, thủng bụng…

+ Sét đánh là bỏng điện cao thế hàng triệu vôn của khí quyển, có thể gây chết tức khắc hoặc làm đứt lìa một chi thể, bỏng sâu.

3. Các biện pháp phòng tránh bỏng cho trẻ em.

Công tác dự phòng bỏng nhằm mục đích:

+ Phòng tránh tai nạn bỏng xảy ra. Phòng tránh tiến hành trước khi xảy ra tai nạn bỏng.

+ Giảm thiểu mức độ nặng của bỏng khi tai nạn bỏng đã xảy ra (bao gồm các biện pháp tiến hành tại thời điểm xảy ra tai nạn).

+ Giảm thiểu hậu quả của bỏng: giảm di chứng, tàn phế và tỷ lệ tử vong (các biện pháp tiến hành sau khi tai nạn bỏng xảy ra).

  1. Dự phòng bỏng do nhiệt.

Dự phòng bỏng nhiệt khô:

  1. Dự phòng điện giật và bỏng do điện.
  1. Dự phòng bỏng hóa chất.:
  1. Hoạt động tuyên truyền giáo dục dự phòng tai nạn bỏng ở trẻ em.

Hoạt động tuyên truyền giáo dục là hoạt động phòng tránh chủ động, nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của mọi người trong cộng đồng. Cần phối hợp các phương thức tiếp cận sau:

4. Xử trí khi trẻ bị bỏng.

Vì sao cần biết cách xử trí đúng khi bị bỏng?

Xử trí đúng ngay sau khi bỏng làm giảm diện tích, độ sâu bỏng, làm diễn biến của bệnh nhẹ hơn, giảm tỷ lệ chết. Xử trí sai làm tăng diện tích bỏng, làm bệnh nặng hơn.

  1. Sơ cấp cứu bỏng nhiệt:

Bước 1: Loại trừ tiếp xúc với tác nhân gây bỏng càng sớm càng tốt.

Bước 2: Thăm khám nhanh chóng nạn nhân, cần kịp thời đánh giá và tiến hành cấp cứu toàn thân như khi có ngừng hô hấp, tuần hoàn, suy thở, chấn thương kèm theo (hay gặp ở trẻ bị bỏng do lửa cháy trong phòng kín, do bị bỏng đường thở, do nhiễm khí độc, khí CO và CO2).

Bước 3: Sơ cấp cứu vùng bỏng, gồm các thao tác sau:

Một số lưu ý khi ngâm rửa vết bỏng:

Nước như thế nào có thể ngâm rửa được vết bỏng?

Yêu cầu phải là nước sạch, nhiệt độ nước tiêu chuẩn là từ 16 – 20 độ C. Tuy nhiên vì là cấp cứu, cần tận dụng nguồn nước sẵn có ngay tại nơi bị nạn như nước đun sôi để nguội, nước máy, nước mưa, nước giếng… Không dùng nước đá gây nhiễm lạnh cho nạn nhân.

Ngâm rửa vết bỏng như thế nào?

Băng bó vết thương như thế nào?

Bước 4: Giữ ấm cho trẻ, bù nước và muối sau bỏng: Cho trẻ uống nước oresol nếu cháu không nôn, không chướng bụng, vẫn tỉnh táo… Có thể cho uống nước chè đường ấm, nước cháo loãng, nước hoa quả… Nếu trẻ còn bú thì vẫn cho trẻ bú bình thường.

Bước 5: Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất để được chăm sóc chuyên môn. Đặc biệt khi trẻ em có các dấu hiệu như:

Những điều không được làm khi sơ cứu bỏng:

  1. Sơ cấp cứu điện giật và bỏng điện

Bước 1: Bình tĩnh, nhanh chóng tách nạn nhân khỏi nguồn điện.

Bước 2: Thăm khám nhanh chóng nạn nhân và tiến hành cấp cứu tối khẩn cấp:

Bước 3: Xử trí vết bỏng chỉ tiến hành sau khi trẻ tim đập, thở trở lại.

Bước 4: Chuyển tới bệnh viện gần nhất khi trẻ đã thở và tm đập trở lại. Trên đường vận chuyển tiếp tục hồi sức.

  1. Sơ cấp cứu bỏng hóa chất.

Công tác sơ cấp cứu cũng cơ bản bao gồm các bước như bỏng nhiệt, tuy nhiên cần thêm động tác trung hòa, cụ thể:

Bước 1: Nhanh chóng đưa trẻ khỏi tiếp xúc với tác nhân bỏng.

Bước 2: Đánh giá nhanh chóng và duy trì các chức năng sống như hô hấp, tuần hoàn (phòng sặc vôi vào phổi, sốc do bỏng quá rộng…).

Bước 3: Tiến hành sơ cấp cứu:

+  Với bỏng do chất kiềm, vôi tôi: có thể dung các chất sẵn có hoặc dễ kiếm sau để rửa và trung hòa: nước vắt chanh, nước dấm ăn, nước ép quả khế…

+  Đặc biệt nên dung các dung dịch đường như glucose, đường ăn, đường mía, mật, mật ong để rửa và đắp vết bỏng do vôi tôi nóng vì đây là những chất dễ kiếm với khối lượng lớn và có thể dùng diện rộng được.

+  Với bỏng do axit: dùng nước xà phòng 5% hoặt natri-bicacbonat 2-3%. Nếu không có thì dùng nước vôi trong để rửa.

Bước 4: Ủ ấm cho trẻ, bù nước điện giải sau bỏng.

Bước 5: Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất.

Trong mọi trường hợp bỏng ở trẻ em, sau khi sơ cứu cần nhanh chóng đưa trẻ tới cơ sở y tế gần nhất. Viện Bỏng Quốc gia với nhiệm vụ điều trị và chỉ đạo tuyến trong cả nước sẵn sang nhận điều trị, tăng cường cấp cứu, chỉ đạo, tư vấn về mọi vấn đề bỏng chung cũng như tai nạn bỏng ở trẻ em. Viện sẵn sàng hợp tác với các tổ chức, cơ quan trong và ngoài nước tiến hành công tác dự phòng tai nạn bỏng.

Khi cần xin liên hệ theo địa chỉ:

Viện Bỏng Quốc gia

Tân Triều – Thanh Trì

Điện thoại: 04.6882236 – 069826334

Fax: 04.8612180

V. NGỘ ĐỘC VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH NGỘ ĐỘC CHO TRẺ EM

1. Các biểu hiện bên ngoài của ngộ độc

Ngộ độc có thể định nghĩa là một tổn thương ở cơ quan nội tạng hay rối loạn chức năng sinh học của cơ thể do phơi nhiễm với hóa chất môi trường (Persson, 2000). Hiểu cách khác, ngộ độc đề cập đến một thương tổn tế bào hay tử vong do hít vào, ăn vào, tiêm vào hay hấp thụ các chất có độc tố hay “chất độc” (WHO, UNICEF, 2008).

Ngộ độc cấp tính là do tiếp xúc với các chất độc liều cao, trong một lần và trong một khoảng thời gian ngắn với những triệu chứng xuất hiện rất nhanh ngay sau khi phơi nhiễm (Persson, 2000). Ví dụ về các trường hợp ngộ độc cấp tính gồm nguyên nhân do thức ăn nhiễm bẩn, các loại thuốc chữa bệnh và một loạt các chất hóa học như thuốc trừ sâu, dầu mỏ và các hóa chất lau nhà. Thời gian giữa phơi nhiễm với chất đọc và sự xuất hiện các triệu chứng lâm sàng là rất quan trọng vì đây là giai đoạn có thể giảm thiểu sự hấp thu bằng cách trung hòa chất độc hoặc sử dụng các tác nhân đề phòng các tác hại cho các cơ quan (Penden và cộng sự, 2008)

Chúng ta phải nghĩ ngay đến khả năng trẻ bị ngộ độc cấp khi thấy có chất độc hay một bình rỗng bên cạnh trẻ, trẻ đau bụng, nôn mửa và kèm theo một hoặc nhiều những biểu hiện sau:

2. Nguyên nhân gây ra ngộ độc ở trẻ em.

2.1. Nguyên nhân khách quan

Loại ngộ độc và tác nhân gây độc khác nhau ở các khu vực trên thế giớ phụ thuộc vào trình độ văn hóa, niềm tin và tập quán địa phương (Akhtar và cộng sự, 2006).

 Ở Việt Nam, theo số liệu của VMIS (Điều tra chấn thương liên trường Việt Nam).  Ngộ độc thức ăn chiếm 44% số trường hợp ngộ độc, ngộ độc rau/ quả là 25% ngộ độc khí gas và khói chiếm hơn 15%, ngộ độc dược phẩm chiếm hơn 12% và ngộ độc chất lỏng khác khoảng hơn 4%.

Biếu đồ 1: Nguyên nhân gây ngộ độc ở trẻ.

VIMS cũng cho thấy trên 60% trẻ em bị ngộ độc nằm viện trung bình 5,2 ngày (giao động từ 1 đến 30 ngày). Khoảng hơn  2/3 (68,2%) trẻ bị ngộ độc phải nghỉ học trung bình khoảng 6,2 ngày. Mặc dù tỉ lệ chết mắc cao, nhưng ngộ độc không để lại khuyết tật lâu dài cho trẻ.

Một nghiên cứu về ngộ độc ở trẻ em ở Thừa Thiên Huế và Đồng tháp cũng cho thấy ngộ độc thức ăn là loại ngộ độc chủ yếu ở trẻ em, sau đó là ngộ độc hóa học, ngộ độc thuốc hoặc sinh phẩm và cuối cùng là ngộ độc do động vật có nọc độc cắn (Trần, 2007). Nghiên cứu cũng chỉ ra nhiễm khuẩn do chuẩn bị, nấu nướng và bảo quản thức ăn không hợp vệ sinh và sử dụng các sản phẩm cấm như Borax và acid boric trong sản xuất, bảo quản và chế biến thực phẩm, là những nguyên nhân chính gây ra ngộ độc thức ăn. Dư lượng chất hóa học còn lại trong các sản phẩm nông nghiệp và sữa động vật cũng gây ra một số trường hợp ngộ độc thức ăn. Liên quan đến ngộ độc hóa chất, gồm thuốc trừ sâu và các sản phẩm gia dụng, nguyên nhân chính là do bảo quản không cẩn thận và sử dụng các sản phẩm hóa học giả hoặc hết hạn. Bảo quản không an toàn, lạm dụng và sử dụng quá liều là những nguyên nhân chính gây ra ngộ độc thuốc và ngộ độc sinh học. Các trường hợp ngộ độc khác trong nhóm này là do sử dụng thuốc cổ truyền (Trần, 2007).

Tình trạng kinh tế xã hội cũng liên quan đến tình trạng ngộ độc của trẻ. Trẻ em trong các hộ gia đình nghèo thường ăn thức ăn tại nhà và trong cộng đồng mà không được nấu nướng và bảo quản vệ sinh, làm tăng nguy cơ nhiễm vi khuẩn và là nguồn gây ngộ độc chính với trẻ em Việt Nam (Trần, 2007). Các hộ gia đình nghèo thường không có khu vực chứa đồ đảm bảo an toàn cho trẻ nhỏ do vậy trẻ  có nguy cơ cao khi tiếp cận với những chất nguy hiểm. Nghèo đói và suy dinh dưỡng cũng có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc ở trẻ em vì trẻ ăn những thức ăn không an toàn nhưng rẻ tiền và giảm khả năng loại trừ chất độc của cơ thể (Peden và cộng sự, 2008). Hơn nữa, giống như các trường hợp tai nạn loại khác, trẻ em ở các hộ gia đình nghèo thường bị hạn chế khả năng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc y tế, điều này rất nguy hiểm với những trường hợp ngộ độc cấp tính.

Các nguyên nhân dẫn đến ngộ độc trẻ em rất đa dạng và khác nhau tùy thuộc vào mỗi tác nhân gây ngộ độc. Đối với ngộ độc thực phẩm, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kiến thức, kém ý thức và thói quen thao tác mất vệ sinh của người dân trong quá trình sản xuất, bảo quản, chế biến thực phẩm, dẫn đến thực phẩm bị nhiễm khuẩn, dư lượng hóa chất tồn lưu trong thực phẩm, và sử dụng các loại hóa chất, phẩm mầu cấm hoặc không rõ nguồn gốc trong tẩm ướp hoặc chế biến thức ăn. Với các trường hợp ngộ độc do hóa chất (dùng trong nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt gia đình), các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ngộ độc là do sự bất cẩn trong việc bảo quản và cất giữ hóa chất, do sử dụng các sản phẩm mỹ phẩm giả hoặc quá hạn sử dụng, hoặc do trẻ vô tình hoặc cố ý tự gây ngộ độc. Với các trường hợp ngộ độc do thuốc hoặc sinh phẩm, các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ngộ độc là do bất cẩn trong bảo quản thuốc, sử dụng nhầm hay sử dụng thuốc quá liều và sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc xuất sứ.

2.2.  Nguyên nhân chủ quan

Trẻ em do bản tính tò mò và muốn khám phá thế giới bằng tất cả các giác quan của chúng, kể cả vị giác. Kết quả là, ngôi nhà và các môi trường xung quanh chúng trở thành địa điểm nguy hiểm khi các chất độc được nuốt vào bụng một cách tình cờ. Mô hình ngộ độc thay đổi theo nhóm tuổi, loại hình phơi nhiễm và bản chất và liều lượng chất độc.

VMIS cho thấy rằng tỉ lệ ngộ độc ở nhóm trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi thường cao hơn và giảm dần cho đến nhóm 14 tuổi, và tăng lên ở nhóm trẻ 15 đến 19 tuổi (Linnan và cộng sự, 2003). Tình hình tương tự cũng cho thấy rõ trong báo cáo tử vong của Bộ y tế năm 2007 ở các khu vực khác trên thế giới (Peden và cộng sự, 2008; BYT). Lý giải cho tỉ lệ ngộ độc cao ở trẻ nhỏ có thể là do khả năng vận động của trẻ phát triển nhanh hơn nhận thức và hành vi của trẻ (Schmertmann và cộng sự, 2008). Kết quả là trẻ nhỏ có xu hướng khám phá và đưa mọi thứ vào miệng, một cách tự nhiên trẻ có thể tiếp xúc với các đồ vật mà không hiểu được nó có nguy hiểm không. Trẻ càng nhỏ càng dễ bị ngộ độc hơn bởi vì kích thước nhỏ bé của chúng và sinh lý chưa được phát triển đầy đủ, đặc biệt là đặc tính độc của hầu hết các chất liên quan tới liệu lượng theo cân nặng của cơ thể.

Ngộ độc xảy ra với trẻ dưới 2 tuổi chủ yếu tại nhà do cha mẹ hoặc người trông trẻ vô tình gây ngộ độc cho trẻ.Tình huống ngộ độc với trẻ 2 đến 5 tuổi xảy ra ở phạm vi rộng hơn (tại nhà, tại hàng xóm hoặc nhà trông trẻ) do cha mẹ, người trông trẻ vô tình gây ngộ độc cho trẻ hay trẻ vô tình bị ngộ độc. Hoàn cảnh xảy ra ngộ độc với nhóm trẻ trên 5 tuổi phức tạp hơn: trẻ bị ngộ độc vô tình hay cố ý ở tại nhà, trường học, quán ăn, đường phố….

Với trẻ vị thành niên, mặc dù trẻ có nhận thức tốt hơn về hậu quả của hành động của mình nhưng áp lực đồng đẳng và hành vi liều lĩnh có thể dẫn chúng tới việc lạm dụng rượu hay thuốc trái phép, dẫn tới việc có tỉ lệ tử vong cao hơn ở trẻ nhỏ.

Tỉ lệ tử vong do ngộ độc ở trẻ em dưới 20 tuổi khác nhau tùy theo mức thu nhập trung bình giữa các nước. Ở các nước có thu nhập cao, tỉ lệ tử vong do ngộ độc ở trẻ em là khoảng 0,5/100.000, trong khi tỉ lệ này ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cao hơn khoảng 4 lần, xấp xỉ 2/ 100.000 (TCYTTG, 2008). Ở Việt Nam, tỉ lệ tử vong do ngộ độc ở trẻ 0 – 19 tuổi năm 2007 là khoảng 0,4/100.000 (BYT, 2008). Tỉ lệ này có thể ước lượng thấp hơn rất nhiều khi trong điều tra VMIS năm 2001, tỉ lệ tử vong do ngộ độc cao hơn rất nhiều (khoảng 10 lần so với con số này). Tỉ lệ chết mắc do ngộ độc cũng rất cao, khoảng 3,3 (Du, 2001). VIMS cũng cho thấy tỉ lệ ngộ độc không tử vong của trẻ em là 168,1/100.000 và khác nhau tùy theo độ tuổi với tỉ lệ cao nhất là ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi, thấp nhất là ở nhóm 10 – 14 tuổi.

Theo Linnan và cộng sự (2003), số lượng trẻ em dưới 20 của trẻ em Việt Nam tử vong được miêu tả ở biểu đồ 2 dưới đây:

Số liệu tử vong của trẻ bị ngộ độc cho thấy tỉ lệ ngộ độc ở bé trai cao hơn so với bé gái (BYT, 2008). Lý giải sự khác nhau này, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ trai hiếu động hơn trẻ em gái và việc thực hiện hành vi nguy hiểm của bé trai cao hơn. Cùng với việc bố mẹ và cộng đồng cho phép bé trai tham gia các hoạt động trong nhà và ngoài cộng đồng hơn các bé gái.

3. Sơ cứu ban đầu

Hộp 1: Ví dụ về cách sơ cứu một số trường hợp ngộ độc thường gặp.

CÁCH SƠ CỨU MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NGỘ ĐỘC THƯỜNG GẶP

TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

Khi gặp những trường hợp bị ngộ độc sắn, ngộ độc thuốc trừ sâu, ngộ độc thuốc paracetamol dùng để hạ sốt giảm đau, ngộ độc thuốc an thần gây ngủ, ngộ độc khí CO (carbon monoxide)... những người xung quanh có thể làm gì để giúp nạn nhân thoát khỏi nguy kịch?

Ngộ độc sắn

Biểu hiện: nôn nao, nôn ra nhiều sắn đã ăn; nạn nhân bị đầy bụng, sôi bụng, đau bụng, tiêu chảy. Ngoài ra còn có các dấu hiệu như choáng váng đầu, chóng mặt, vật vã, run, co giật, bất tỉnh, da và niêm mạc xanh tím, khó thở...

Ngộ độc sắn thường xảy ra đối với trẻ em.

Khi phát hiện được trẻ em có triệu chứng ngộ độc do nguyên nhân ăn sắn thì việc cần làm đầu tiên là gây nôn nếu trẻ còn tỉnh táo và mới ăn sắn trong vòng dưới 1 giờ. Sau đó cho trẻ uống nước đường và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất nhất hoặc gọi điện thoại đến các trung tâm chống độc để xin ý kiến tư vấn.

Ngộ độc thuốc trừ sâu

Ngộ độc thuốc trừ sâu thường xảy ra trong các hoàn cảnh do ăn rau, quả mới phun thuốc trừ sâu; do uống nhầm thuốc trừ sâu đựng trong những chai lọ thường dùng để chứa đồ ăn, thức uống. Ngoài ra cũng hay gặp do nạn nhân đứng cuối ngọn gió khi đang phun thuốc trừ sâu...

Biểu hiện: các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, đi ngoài phân lỏng, chảy nhiều nước bọt, da lạnh, mạch đập chậm, con ngươi hay đồng tử của mắt co lại. Trường hợp bị ngộ độc nặng có thể bị giật các thớ cơ, co giật, bất tỉnh...

Sơ cứu ban đầu được thực hiện bằng cách gây nôn nếu nạn nhân vừa mới uống nhầm hoặc ăn nhầm phải thuốc trừ sâu, thay quần áo đã bị nhiễm thuốc trừ sâu, đồng thời phải tắm rửa, gội đầu trước khi mặc quần áo khác. Cho nạn nhân nằm nghiêng, kê đầu cao để hạn chế bị sặc chất nôn có thể trào ngược vào phổi. Không được cho nạn nhân uống sữa và tìm mọi phương tiện đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất và thuận lợi nhất.

Ngộ độc thuốc paracetamol

Ngộ độc thuốc paracetamol thường gặp trong các hoàn cảnh như uống nhầm thuốc, trường hợp này cũng hay gặp ở trẻ em bị cảm sốt phải dùng thuốc điều trị nhưng người lớn cho trẻ dùng liều quá cao. Tình trạng ngộ độc thuốc paracetamol xảy ra khi dùng liều quá cao trên 100 mg/kg trọng lượng cơ thể. Cần lưu ý rằng, có nhiều loại thuốc chữa cảm cúm có chứa hoạt chất paracetamol nên cần thận trọng.

Biểu hiện: trẻ chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, sau đó xuất hiện mắt vàng, da vàng; triệu chứng này thường xuất hiện sau nhiều giờ. Trên thực tế, cần phải nghĩ ngay tình trạng ngộ độc khi phát hiện thấy trẻ đã uống quá liều thuốc paracetamol mà không cần chờ đợi đến khi xuất hiện các dấu hiệu ngộ độc. Cần phải thực hiện ngay các biện pháp sơ cứu.

Sơ cứu ban đầu được thực hiện bằng cách gây nôn nếu trẻ vừa mới uống thuốc. Nhanh chóng đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế gần nhất, thuận lợi nhất hoặc gọi điện thoại đến các trung tâm chống độc để xin ý kiến tư vấn.

Ngộ độc thuốc an thần gây ngủ

Ngộ độc thuốc an thần gây ngủ xảy ra trong các hoàn cảnh do nạn nhân vô tình hoặc cố ý uống thuốc, cũng có thể xảy ra do người lớn thiếu thận trọng để thuốc trong tầm tay với của trẻ em.

Biểu hiện: lờ đờ buồn ngủ hoặc bất tỉnh và nằm yên như ngủ, thở chậm, yếu. Trong trường hợp bị ngộ độc nặng có thể ngủ sâu, thở rất yếu hoặc không còn thở, có dấu hiệu trụy tim mạch.

Sơ cứu ban đầu được thực hiện bằng biện pháp gây nôn nếu nạn nhân còn tỉnh táo và vừa mới uống thuốc. Đồng thời đưa nạn nhân đến ngay cơ sở y tế gần nhất và thuận lợi nhất.

Ngộ độc khí CO (carbon monoxyde)  

Ngộ độc khí CO (carbon monoxide) thường xảy ra trong hoàn cảnh đốt lò than hoặc chạy máy nổ phát điện trong phòng kín.

Biểu hiện: nhức đầu, ù tai, hoa mắt; buồn nôn, nôn; khó thở, có tình trạng lẫn lộn, giãy dụa, bất tỉnh, da đỏ hồng...

Cách sơ cứu ban đầu là đưa nạn nhân ra khỏi phòng kín, đến chỗ thoáng khí. Đặt nạn nhân ở tư thế đầu cao và chuyển ngay nạn nhân vào bệnh viện hoặc gọi xe cấp cứu đến hỗ trợ và di chuyển nạn nhân.   

Cách phòng tránh ngộ độc khí CO là không dùng lò than, đặt máy nổ phát điện ở trong phòng kín, những nơi ít được thông khí hoặc nơi đầu gió. Không đóng kín các cửa phòng khi đốt lò than hoặc dùng máy nổ phát điện đặt ở trong nhà.

Các bước sơ cứu

- Nếu bị ngộ độc thức ăn, phải ngừng ngay không ăn món đó nữa. Khẩn trương gây nôn cho bệnh nhân, nôn càng nhiều càng tốt để tống hết thức ăn ra ngoài. Có thể gây nôn bằng cách uống đầy nước rồi móc họng, ngoáy vào họng để gây nôn.

Lưu ý, chỉ gây nôn khi bệnh nhân tỉnh và không gây nôn nếu bệnh nhân là trẻ em, vì trẻ rất dễ bì sặc.

- Sau khi gây nôn nên uống 1 tuýp than hoạt, uống oresol bù điện giải.

Nếu bị co giật và ngừng thở, ngừng tim phải cấp cứu cho bệnh nhân bằng cách hà hơi thổi ngạt và ép tim. Nếu bệnh nhân hôn mê, để bệnh nhân nằm đầu thấp, nghiêng về một bên phòng chất nôn sặc vào phổi.

- Sau khi sơ cứu, phải khẩn trương đưa người bị ngộ độc đến bệnh viện sớm nhất để được xử lý tiếp. Cần mang theo thức ăn nghi ngờ gây ngộ độc, chất nôn hoặc phân để giúp bác sĩ chẩn đoán và điều trị nhanh hơn.

Nguồn: http://dantri.com.vn/c7/s7-526348

4. Cách phòng tránh

Can thiệp phòng chống tai nạn thương tích không chủ định được mô tả trong cụm “3 chữ E”: Giáo dục (Education), thi hành luật (Enforcement) và kỹ thuật (Engineering) (Penden, 2008). Dựa trên đó, có 3 loại biện pháp can thiệp: Truyền thông và giáo dục, luật pháp và thi hành luật pháp, biện pháp kỹ thuật.

a.Truyền thông và giáo dục:

Các chương trình giáo dục phòng chống ngộ độc ở trẻ em nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề, nâng cao kiến thức và kỹ năng liên quan đến phòng chống ngộ độc, thay đổi thái độ và hành vi, ảnh hưởng của chính sách và quy định (Penden và cộng sự, 2008). Một số thông điệp chủ đạo về giáo dục ngộ độc trong cộng đồng để xác định các sản phẩm có thể gây hại, xử lý thực phẩm an toàn trong trường hợp thức ăn có độc, bảo quản chất độc ở nơi an toàn trong nhà, và các thông điệp dự phòng cấp hai (cấp giảm mức độ nghiêm trọng của tai nạn thương tích) về cách hiệu quả nhất để tìm kiếm sự giúp đỡ giảm mức độ nghiêm trọng và tử vong của các trường hợp ngộ độc.

Các chương trình giáo dục phòng chống ngộ độc thực phẩm thường hướng đến trẻ em, cha mẹ và những người làm trong ngành công nghiệp thực phẩm. Một nghiên cứu xác định hiệu quả của các chương trình giáo dục về cung cấp thực phẩm an toàn bằng cách lồng ghép các chương trình học của năm trường học ở Mỹ đã chỉ ra chương trình có hiệu quả cao nhất để nâng cao kiến thức và hành vi xử lý thức ăn của học sinh (Richards, 2008). Một đánh giá về các can thiệp giáo dục và hành vi của những người làm trong lĩnh vực thực phẩm chỉ ra rằng trong khi kiến thức và thực hành về xử lý thức ăn được nâng lên, đặc biệt là khi can thiệp được lặp lại, không có bằng chứng nào chỉ ra các tác động của các can thiệp đối với tỉ lệ ngộ độc thực phẩm (Egan, 2007). Các chương trình can thiệp giáo dục cần được sử dụng kết hợpv ới các hoạt động ban thành và thi hành luật để nâng cao hiệu quả.

Trong khi tiếp cận luật pháp hoặc kỹ thuật cần ít hoặc không cần hoạt động của con người, thường hiệu quả hơn trong giảm ngộ độc so với những nỗ lực làm thay đổi hành vi của con người (Mathieu-Nolf, 2008), các chiến dịch giáo dục có vai trò rất quan trọng hỗ trợ các biện pháp can thiệp này. Ví dụ, giáo dục cha mẹ về mục đích và giới hạn của việc đóng gói an toàn cho trẻ là rât cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong giảm nguy cơ ngộ độc không chủ định trẻ em. Chẳng hạn như: Ngộ độc thuốc trừ sâu cũng là một nguyên nhân gây tai nạn thương tích ở trẻ em. Biện pháp phòng tránh thuốc trừ sâu có thể bắt đầu từ việc giáo dục cho nông dân, nhà phân phối và cộng đồng, trong đó có trẻ em đi học về sử dụng và bảo quản thuốc trừ sâu an toàn. Việc nâng cao nhận thức của các đối tượng có liên quan, cho thấy tỉ lệ tử vong do ngộ độc thuốc trừ sâu được giảm đi (nghiên cứu của Roberts và cộng sự 2003, kinh nghiệm từ Sri Lanka).

 Tại Việt Nam, các thông điệp chính về vấn đề liên quan đến ngộ độc trẻ em được truyền đạt cho cha mẹ, cán bộ y tế, cán bộ các ban ngành đoàn thể và công đồng trong chiến dịch truyền thông của UNICEF về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em.

b.Luật pháp và thi hành luật pháp

Việt Nam đã có luật về bảo quản, chế biến và lưu trữ thực phẩm (QĐ 03/2000/NĐ-CP; QĐ 49/2003/NĐ-CP), tuy nhiên mức độ thực hiện các luật này còn rất hạn chế, đặc biệt là với các cửa hàng thực phẩm ở các chợ trên khắp đất nước. Một nghiên cứu tại VN đã chỉ ra rằng một nửa các trường hợp ngộ độc thực phẩm ở trẻ em là do thức ăn không đảm bảo trên đường phố, qua quan sát các hàng ăn rong cho thấy thức ăn đều không được chuẩn bị, chế biến và bảo quản vệ sinh (Trần, 2007). Nghiên cứu này cũng cho thấy phần lớn các trường hợp ngộ độc thức ăn ở trẻ em không được báo cáo, vì vậy vấn đề này không được các cơ quan y tế điều tra và hậu quả là tiếp tục làm tăng nguy cơ lây nhiễm và nhiễm độc cho những trẻ khác. Từ thực trạng trên, rất cần xây dựng một hệ thống thông tin y tế thống nhất, bao gồm các cơ sở y tế phù hợp và các nhà lãnh đạo y tế tăng cường báo cáo các trường hợp ngộ độc thực phẩm. các chỉ số liên quan đến tình trạng ngộ độc cũng nên được lồng ghép trong hệ thống thông tin y tế. Các quy định hiện tại về chế biến và bảo quản thức ăn cần được thực hiện qua hệ thống kiểm tra an toàn thực phẩm ở tất cả các chợ, trong đó có các cửa hàng ở chợ công cộng. Hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến ít nhất 3 Bộ ngành gồm 1- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, liên quan đến nguồn gốc hay chất lượng của thực phẩm như rau trồng có sử dụng phân bón hoặc thuốc trừ sâu bị cấm hay không; 2 – Bộ công thương, liên quan đến quá trình quản lý lưu thông thực phẩm; và 3 – Bộ y tế, liên quan đến vấn đề sức khỏe con người khi sử dụng thực phẩm. Sự phân công trách nhiệm rõ ràng và sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ ngành có ý nghĩa thiết yếu trong việc tăng cường kiểm soát và thi hành luật về an toàn thực phẩm.

Liên quan đến nguyên nhân gây ra ngộ độc phổ biến khác ở trẻ em VN, đó là ngộ độc hóa chất và thuốc chữa bệnh, luật liên quan đến đóng gói và bao gói chống trẻ em. Hơn nữa, việc sử dụng nhãn mác phù hợp và dán cảnh báo nguy hiểm với trẻ em. Tuy nhiêm, với các biện pháp này cần có các quy định kết hợp với giáo dục cha mẹ về các thôgn điệp đóng gói an toàn cho trẻ và để các vật nguy hiểm ra khỏi tầm với của trẻ.

c. Biện pháp kỹ thuật

Sản xuất đóng gói an toàn cho trẻ đối với thuốc, nhiên liệu, các hóa chất gia đình và thuốc trừ sâu là một trong những can thiệp thành công nhất trong phòng chống ngộ độc gây tử vong và không tử vong. Mặc dù phải thêm chi phí liên quan đến sản xuất và phân phối các sản phẩm này, nhưng rất cần thực hiện vì các sản phẩm có hại, đặc biệt là thuốc bán ở quầy, phải được đóng gói an toàn cho trẻ.

Các biện pháp kỹ thuật khác thiết kế để phòng chống ngộ độc không chủ định ở trẻ em là giảm mức độ hại của các sản phẩm (như thuốc trừ sâu) và thay đổi đóng gói hay màu sắc sản phẩm để kém hấp dẫn trẻ em hơn.

d. Dự phòng cấp hai và quản lý các trường hợp ngộ độc ở trẻ em

Một nghiên cứu về ngộ độc trẻ em ở VN chỉ ra hầu hết các trường hợp ngộ độc thức ăn (63%) không được báo cáo và do đó không được cán bộ y tế tiếp tục điều tra để đề phòng tiếp tục lây lan (Trần, 2007). Do đó cần xây dựng hệ thống thông tin y tế thống nhất giữa các cơ quan y tế và tiến hành điều tra côcngj đồng về ngộ đọc thực phẩm để phòng chống dịch.

Nghiên cứu này cũng chỉ ra một nửa các trường hợp ngộ độc được điều tra (52%) đã trực tiếp đến bệnh viện quận hya tỉnh mà không qua sơ cấp cứu ban đầu, 34% các trường hợp tiến hành cấp cứu ban đầu ở trạm y tế trước khi đến cơ sở y tế tuyến trên, trong khi 14% trẻ em bị ngộ độc được điều trị tại nhà hoặc bác sĩ tư trước khi đưa đến bệnh viện (Trần, 2007). Rất cần có các chương trình giáo dục cộng đồng về sơ cấp cứu ban đầu khi xảy ra ngộ độc bảo gồm sử dụng nước để giảm chất độc, giữ lại nhãn/ bình chứa chất độc và gọi số điện thoại khẩn cấp. Ở VN, một số tổ chức phu chính phủ đã nỗ lực giáo dục và đào tạo phối hợp với cộng đồng, cán bộ y tế và tình nguyện viên, đặc biệt là trong sơ cấp cứu ban đầu và kiểm soát ngộ độc, quy mô hoạt động của các chương trình này mới chỉ giới hạn ở một số tỉnh và cần có thêm các nguồn lực hỗ trợ để mở rộng ra các địa phương khác trên cả nước.

Trung tâm chống độc chỉ ra là phương pháp có chi phí hiệu quả trong điều trị và giảm các nguy hiểm cho bệnh nhân ngộ độc là trẻ em vì có thể giảm chi phí các dịch vụ y tế (Penden và cộng sự, 2008). Trung tâm chống độc cung cấp những lời khuyên cho cá nhân và cơ sở y tế, tiến hành cấp cứu ban đầu khi cần thiết và đưa ra các trường hợp ngộ độc năng đến cơ sở y tế phù hợp.

e. Một số biện pháp cụ thể trong việc phòng tránh ngộ độc ở trẻ em

- Duy trì và tăng cường giáo dục cho cộng đồng về các thông điệp chủ đạo liên quan đến phòng chống ngộ độc trẻ em, gồm: xác định các sản phẩm có nguy cơ, chế biến thực phẩm an toàn, bảo quản an toàn các chất độc trọng nhà ở khu vực an toàn và tuân thủ điều trị thuốc cho trẻ.

- Xây dựng một hệ thống thông tin y tế thống nhất với các cơ quan y tế thích hợp và hướng đến điều tra cộng đồng về ngộ độc thực phẩm để phòng chống dịch.

- Tăng cường và thi hành các quy định hiện tại về chế biến và bảo quản thức ăn bằng việc phát triển một hệt hống kiểm tra an toàn thực phẩm ở tất cả các cơ sở sản xuất thực phẩm, bao gồm các cửa hàng ở chợ.

- Phối hợp với các quốc gia khác để điều chỉnh và thực hiện luật về đóng gói sản phẩm chống trẻ em đối với thuốc, nhiên liệu, hóa chất gia đình và thuốc trừ sâu.

- Ban hành luật giảm sử dụng các hóa chất trừ sâu có hàm lược độc tính cao.

- Tăng cường truyền thông, giáo dục và đào tạo cho người dân về sơ cấp cứu ban đầu cho các trường hợp ngộ độc.

- Thành lập thêm các Trung tâm Kiểm soát ngộ độc tại nhiều vùng ở Việt Nam, như là một cơ quan y tế với chi phí hiệu quả cao nhất giải quyết và quản lý các trường hợp ngộ độc.

VI. ĐỘNG VẬT CẮN, ĐỐT VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH ĐỐI VỚI TRẺ EM

1. Một số vấn đề chung

        Một trong những tai nạn thương tích hay gặp mà phải kể đến đó là do chính những con vật nuôi trong nhà và những loài động vật khác. Như trường hợp con trai 2 tuổi khi xem chó ăn, thấy có miếng xương rơi ra ngoài bát liền thò tay nhặt. Con chó nổi giận và đớp luôn tay của cậu bé. Em NTH Ba Đình - Hà Nội cũng bị con chó nhà đang ăn cắn đến rách đến tận xương và phải tháo bỏ cánh tay của cậu bé.Truờng hợp về cái chết thương tâm của cháu Lê Văn Xích, 14 tuổi. Mẹ cháu mua một con chó nhỏ về nuôi và Xích được giao nhiệm vụ cho chó ăn. Một hôm cho cắn vào bơm tiêm sữa và cắn vào tay cháu, sau đó chó cắn thêm anh trai, bà nội, bố và mẹ cháu xích và còn ra đường cắn thêm 6 người nữa. Lúc đó mới biết là chó dại và đem đập chết. Những người bị chó cắn đã đi tiêm phòng, nhưng cháu Xích thì đã muộn và 1 tháng sau cháu lên cơn dại và chết. Ngoài ra nhiều trẻ còn bị ong đốt rắn cắn gây nguy hiểm đến tình mạng.Cháu Trần Văn Tịnh, 8 tuổi ở Kiên Giang bị ong vò vẽ chích 35 mũi đang phải chạy thận nhân tạo. 

Nhiều con vật, kể cả những vật nuôi trong nhà đều có thể gây tai nạn cho trẻ nếu người lớn không cảnh giác và trông chừng chúng. Trẻ nhỏ thường yêu quý các con vật nuôi nhưng hãy coi chừng tai nạn do chính những con vật này gây ra. Động vật cắn, húc rất nguy hiểm. Động vật cắn, húc có thể gây đau, nhiễm trùng, sốc và có thể chết. Hầu hết trẻ em đều có tính hiếu động nên việc chơi với các loại động vật nuôi và động vật khác thường dễ gây ra tai nạn thương tích do bị cắn, đốt, húc. Các loại động vật trẻ thường hay tiếp xúc và dễ gây ra thương tích như: chó, mèo, ong, rắn…         

Động vật cắn, húc rất nguy hiểm. Động vật cắn, húc có thể gây đau, nhiễm trùng, sốc và có thể chết. Trẻ em dễ bị động vật cắn nhất, vì bản tính trẻ em rất hiếu động và tò mò hay trêu chọc súc vật và chưa lường hết được sự nguy hiểm.

Các loại động vật gây tai nạn cho trẻ em bao gồm:

- Bị các loại ong, bọ cạp đốt.

- Rắn độc cắn.

- Chó cắn.

- Trâu/bò húc v.v…

Cách Sơ cứu trẻ em khi bị các loại  động vật cắn:

Nếu không biết rõ động vật nào cắn, bạn cần:

 Những điều không nên làm khi sơ cứu vết thương do động vật cắn.

Hãy chuyển trẻ đến cơ sở y tế gần nhất, nơi có sự giúp đỡ của nhân viên y tế đối với các trường hợp sau:

- Khi trẻ bị trâu bò húc chảy máu, bị ong bò vẽ, ong bò lỗ đốt, bị chó cắn họăc bị rắn cắn.

- Khi trẻ bị cắn bởi những động vật khác (không nêu tên trên) mà trẻ bị choáng, khó thở (điều này có thể xảy ra khi vết thương gần họng gây xưng tấy và khó thở) họăc nhiễm trùng vết cắn.

Nên sử dụng kinh nghiệm dân gian (phương thuốc địa phương):

Một vài phương thuốc dân gian cũng có thể có hại nhưng có nhiều phương thuốc dân gian chữa một số vết cắn của động vật có hiệu quả. Sau đây liệt kê một số cách chữa mẹo (hay dân gian) để bạn khuyên người khác tham khảo (dùng hay không nên dùng).

+ Kinh nghiệm sai lầm của dân gian không nên áp dụng khi bị động vật cắn như ví dụ dưới đây:

Sau đây là một số loại mà trẻ em thường gặp khi bị động vật, vật nuôi cắn, đốt, húc:

2. Ong đốt

        a) Biểu hiên khi bị ong đốt

Bên cạnh các hình thái nhẹ chỉ có đau nhức tại vết đốt, ong đốt có thể gây ra các phản ứng dị ứng nặng nề hoặc gây nhiễm độc với nguy cơ tử vong cao.

Tại chỗ:

 Tình trạng nhiễm độc

 Phản ứng dị ứng:

b) Sơ cứu ban đầu:

     + Giúp trẻ bình tĩnh bằng cách an ủi và giải thích rằng bạn sẽ sơ cứu   ngay. Điều này sẽ giúp cho trẻ tránh sợ hãi và phòng trẻ bị choáng.

     + Loại bỏ côn trùng, lấy bỏ ngòi (dùng móng tay hoặc dùng nhíp)

        c) Các trường hợp cần theo dõi và đưa vào viện:

        d) Phòng tránh:

d. Kết luận

3. Rắn cắn

Nguyên nhân thường gặp:

  1. Cách nhận biết rắn độc cắn

 Rắn độc có hai loại chính là nhóm rắn hổ và nhóm rắn lục. Cả hai loại đều rất độc, nhưng biểu hiện độc khác nhau:

Nhóm rắn hổ:

Tại chỗ cắn:

Toàn thân: thường nặng và xuất hiện sớm trong vòng vài giờ:

Nhóm rắn lục:

Tại chỗ cắn: biểu hiện thường rất dữ dội:

Toàn thân:

Phân biệt rắn lành và rắn độc:

  1. Sơ cứu ban đầu
  1. Các trường hợp cần theo dõi và nhập viện:
  1. Phòng tránh:

Kết luận

Lúc ban đầu khó phân biệt chắc chắn là bị rắn độc hay rắn lành cắn. Biểu hiện nhiễm độc có thể không thể xuất hiện ngay sau khi bị cắn nhưng có thể tiến triển rất nhanh gây nguy hiểm đến tính mạng.

4. Chó cắn

  1. Tìm hiểu về bệnh dại

+ Bệnh dại là do virus dại được truyền qua nước bọt của con vật bị nhiễm bệnh dại (gồm nhiều loại: chó, mèo, cáo, chồn…). Bệnh dại là bệnh gây tử vong. Hiện nay y học chỉ dự phòng được bệnh dại, không điều trị được bệnh dại lên cơn.

+ Các vết thương chảy máu, nhiễm trùng. Đặc biệt nặng nếu bị cắn vào các vùng quan trọng: cổ, mặt, bộ phận sinh dục.

+ Thời gian từ khi bị cắn đến khi phát bệnh dại: 1 tuần đến 1 năm, trung bình 40 ngày. Trong khoảng thời gian này, nếu được tiêm phòng dại sẽ tránh được bệnh dại.

  1. Nguyên nhân thường gặp:
  1. Cách nhận biết bệnh dại:
  1. Biểu hiện bệnh dại lên cơn:
  1. Sơ cứu ban đầu:

Sơ cứu vết cắn:

Các trường hợp phải tiêm vaccin phòng bệnh dại:

  1. Các trường hợp cần theo dõi và đưa đến bệnh viện:
  1. Phòng tránh

Kết luận

Trong trường hợp không thể lường được mức độ nguy hiểm cần đưa trẻ đến sớm các cơ sở y tế có thể tránh được nguy hiểm và tử vong cho

4. Tuyên truyền Giáo dục cách phòng tránh động vật cắn:

  - Cắt cỏ mọc cao và làm sạch môi trường xung quanh nhà bạn.

  - Gây tiếng động bằng cách dùng gậy để khua khi bạn đi vào bụi rậm làm cho rắn sợ phải chạy xa khi chúng ở trước mặt.

  - Dùng đèn pin chiếu sáng nếu bạn đi vào ban đêm.

  - Cảnh báo với mọi người nguy cơ bị rắn cắn, đặc biệt là trong khi và sau khi lũ lụt.

VII. NGẠT, TẮC ĐƯỜNG THỞ VÀ CÁCH XỬ LÝ ĐỐI VỚI TRẺ EM

        

1. Khái niệm

Tắc đường thở ở trẻ em là tình trạng trẻ không thở được do bất kỳ một vật gì lọt vào đường thở gây cản trở thông khí dẫn đến ngạt thở hoặc do thiếu ô xy trong không khí dẫn đến ngạt thở. Nếu không được cấp cứu sau 3 phút trẻ sẽ có di chứng não hoặc tử vong.

Tắc đường thở ở trẻ em thường là do dị vật, nhất là trẻ nhỏ dưới 4 tuổi. Dị vật có thể ở miệng, mũi, thanh quản, khí quản và phế quản. Dị vật đường thở là một trong những nguyên nhân gây chết đọt ngột ở trẻ em, chiếm tỷ lệ tử vong tương đối cao. Dị vật thường là thức ăn như: hạt lạc, hạt dẻ, hạt hoa quả, mảnh tôm, cua hoặc các đồ chơi nhỏ...

Ngạt thở không phải do dị vật đường thở thường do thiếu ô xy trong không khí thở trong thời gian dài dẫn đến ngạt thở ví dụ như ngạt hơi khói, trẻ nghịch trùm kín đầu bằng túi nilon...

         2. Các dấu hiệu ngạt, tắc đường thở ở trẻ

Khi dị vật rơi vào đường thở, ngay tức khắc sẽ gây ra một hội chứng riêng biệt điển hình gọi là hội chứng xâm nhập. Hội chứng xâm nhập rất có giá trị để xác định dị vật đường thở ở trẻ, nhưng thường không được quan tâm để ý đến.

Hội chứng xâm nhập được nhận biết ban đầu bởi triệu chứng ho. Bởi lẽ khi dị vật rơi vào đường thở sẽ gây phản xạ co thắt thanh môn kèm theo phản xạ ho mạnh tống dị vật ra ngoài. Trẻ sẽ ho cơn rũ rượi, dồn dập, đỏ mặt, tím  tái.

Sau đó tùy theo vị trí dị vật ở thanh quản, khí quản, hay phế quản mà trẻ có các dấu hiệu khác nhau. Cụ thể như sau:

Ngoài dấu hiệu trẻ bị ho, những dấu hiệu như trẻ không thể phát âm được, hay không thể khóc thành tiếng, hay trẻ phải lấy tay nắm cổ của mình...cũng là những dấu hiệu ban đầu có thể nhận biết trẻ đang bị ngạt, tắc đường thở.

Dấu hiệu muộn khi trẻ bị ngạt, tắc đường thở đó là: Môi lưỡi tím tái, mạch máu nổi rõ, có khi bất tỉnh hoặc tử vong ngay nếu dị vật gây tắc hoàn toàn đường thở.

        3. Nguyên nhân gây tắc đường thở, cách xử trí khi phát hiện trẻ bị ngạt, tắc đường thở

a) Nguyên nhân gây tắc đường thở

Trẻ bị ngạt, tắc đường thở do nhiều nguyên nhân khác nhau. Đối với trẻ nhỏ, nguyên nhân có thể do trẻ bị sặc nước/sữa, sặc bột...Đối với những trẻ lớn hơn, khi đã có thể cầm nắm các đồ vật, trẻ thường thích khám phá thế giới bằng cách cho vào miệng. Những nguyên nhân này đều dễ dẫn tới ngạt, tắc đường thở ở trẻ nhỏ và nếu không được sơ, cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Có một số nguyên nhân cơ bản dẫn tới trẻ dễ bị ngạt, tắc đường thở bao gồm:

        b) Cách xử trí khi phát hiện trẻ bị ngạt, tắc đường thở

Nguyên tắc chung khi phát hiện trẻ bị ngạt, tắc đường thở là ngay lập tức lấy dị vật ra khỏi mũi, miệng trẻ để làm thông đường thở. Tùy thuộc vào từng lứa tuổi của trẻ mà kỹ thuật sơ cứu học nghẹn tắc đường thở có khác nhau.

Với trẻ nhỏ, thực hiện động tác vỗ lưng ấn ngực với các bước như sau:

so-cuu-hocso-cuu-hoc-1

Với trẻ lớn: quan sát biểu hiện của bé, sau đó áp dụng các cách xử trí khác nhau.

http://bacsinhikhoa.files.wordpress.com/2011/06/sacthucan11.gif?w=134&h=200

Lúc này, tình hình chưa quá nghiêm trọng. Thông thường, khi di chuyển trong đường hô hấp, không khí sẽ gây ra tiếng ồn. Bé ho hoặc khóc thành tiếng có nghĩa là bé đang thở, đường hô hấp không bị tắc nghẽn hoàn toàn, bé không bị ngạt trầm trọng.

Nếu bé thở được thì không nên can thiệp vì điều này có thể gây nguy hiểm. Đừng tìm cách lấy vật lạ ra bằng động tác vỗ lưng ấn ngực, bạn có thể đẩy dị vật vào sâu hơn, khiến bé ngừng thở.

Những việc cần làm bao gồm:

- Kiểm tra miệng bé và lấy ra tất cả những thứ bạn có thể nhìn hoặc sờ thấy.

- Đứng sau lưng trẻ, vòng 2 tay ôm lấy thắt lưng trẻ

- Nắm chặt bàn tay làm thành một quả đấm đặt ở vùng thượng vị, ngay dưới chóp xương ức, phía trên rốn.

- Ấn 5 cái dứt khoát theo hướng từ trước ra sau và từ dưới lên trên, mạnh và nhanh

- Có thể lặp lại 6-10 lần ấn bụng cho tới khi dị vật được tống ra khỏi đường thở.

socuutainan4socuutainan5socuutainan6

- Để trẻ nằm ngửa, quỳ xuống dạng 2 chân cạnh đùi người bị nạn

- Đặt gót lòng bàn tay lên vùng thượng vị, dưới chóp xương ức, đặt tiếp bàn tay thứ hai chồng lên bàn tay thứ nhất. Ấn 5 cái dứt khoát, mạnh và nhanh vào bụng theo hướng từ dưới lên trên

- Có thể lập lại 6-10 lần ấn bụng cho tới khi dị vật được tống ra khỏi đường thở.

socuutainan7

Chú ý

- Nếu người bị nạn ngưng thở, phải bắt đầu thổi ngạt 2 cái chậm trước và xen kẽ thổi ngạt với việc vỗ lưng ấn ngực cho tới khi trẻ thở lại được.

- Sau khi lấy được dị vật, vẫn nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra.

Gọi cấp cứu ngay. Trong lúc chờ xe cấp cứu tới, tiếp tục hà hơi thổi ngạt và ấn tim ngoài lồng ngực để hồi sức tim, phổi (thực hiện các bước như trẻ bị hôn mê).

Lưu ý: điều không nên làm khi sơ cứu trẻ bị ngạt, tắc đường thở:

Không can thiệp nếu trẻ vẫn còn hồng hào, có thể ho, thở hay khóc được.

Không cố móc lấy vật lạ ra nếu không nhìn thấy, vì có nhiều khả năng làm cho dị vật rơi vào đường thở sâu hơn.

Những dấu hiệu nguy hiểm cần chuyển đến cơ sở y tế.

* Trẻ không thể ho hoặc phát ra thành tiếng.

* Môi lưỡi bắt đầu tím tái, mạch máu ở mặt và cổ bắt đầu nổi lên.

* Trẻ trở nên bất tỉnh.

c) Cách phòng tránh

Biện pháp phòng ngừa tốt nhất để tránh cho trẻ gặp phải các tai nạn thương tích đó là phải trông trẻ đúng cách. Mọi thành viên trong gia đình, bố mẹ, ông bà, người trông trẻ...đều cần phải học cách trông trẻ và sau đó là cách sơ cấp cứu cho trẻ khi gặp phải tình huống bất ngờ.

Nhìn chung, trẻ nhỏ cần được ngủ trên đệm cứng, nằm nghiêng hoặc ngửa, tránh nằm sấp. Các vật dễ gây ngạt đường thở cho trẻ như túi nylon, báo, gối, chăn, nệm quá êm phải để xa chỗ trẻ nằm. Ngoài ra, cần phải lưu ý đến một số điều như sau:

Đối với đồ chơi:

Để bóng bay (đã thổi căng hoặc chưa thổi) ngoài tầm tay của bé.

Để đồ chơi nhỏ, ví dụ như đồ chơi xếp hình Lego, giầy dép của Barbie… xa tầm tay của bé. Nhắc anh chị của bé tuân thủ quy định này.

http://bacsinhikhoa.files.wordpress.com/2011/06/lego1.jpg?w=200&h=135

Không cho bé chơi với những thứ đồ chơi có thể tháo rời.

Đồ đạc trong nhà

Các vật nhỏ như kim băng, đồng xu, cúc áo, hạt trái cây, pin... và các vật nhỏ dễ cho vào mũi, miệng phải đảm bảo được để xa tầm tay của trẻ. Tốt nhất nên để các vật đó trên giá cao trẻ không với tới, hoặc để trong các hộp, tủ có khóa.

http://bacsinhikhoa.files.wordpress.com/2011/06/s25e125ba25b7cv25e125ba25adtl25e125ba25a11.jpg?w=200&h=200

Khóa những ngăn tủ chứa vật dụng nhỏ mà trẻ có thể với tới. 

Phòng ngừa sặc thức ăn

+ Đối với trẻ nhỏ dưới 5 tuổi:

Chỉ cho trẻ chơi những đồ chơi có đường kính lớn hơn 5 cm
Không mặc các loại áo, yếm có dây vòng qua cổ cho trẻ nếu trẻ không có người lớn trông trẻ.

Đế  tránh sặc sữa cần phải cho trẻ bú bình đúng cách, đúng tư thế,  không được vừa bú vừa cười đùa. Cần tập trung khi cho bé bú mẹ hoặc bú bình, quan sát bé bú, tránh trường hợp sữa ra nhiều, bé không bú kịp hay người cho bé bú không xử lý kịp cũng khiến cho bé dễ bị sặc. Mặt khác, bé ngủ vừa bú mẹ, bú trong tư thế nằm ngửa cũng dễ dẫn tới sặc sữa.

Khi cho trẻ em ăn bột, ăn cơm chú ý không để đầu trẻ ngả về phía sau, không để trẻ vừa ăn vừa cười đùa dễ làm thức ăn lọt vào đường thở gây hóc nghẹn. Cha mẹ nên cho trẻ nhỏ ăn thức ăn nghiền nát, không lẫn xương, lẫn hạt và cho ăn từng tí một; tạo cho trẻ thói quen ăn chậm, nhai kỹ.

Không để đầu trẻ ngả về phía sau, dễ làm thức ăn lọt vào đường thở gây hóc nghẹn.

Khi cho trẻ ăn không được chủ quan vừa cho ăn vừa làm các việc khác,

Cho trẻ ăn từ từ với lượng vừa phải; nên cho trẻ nhỏ ăn thức ăn nghiền nát, nhuyễn, không lẫn xương, lẫn hạt,…

http://bacsinhikhoa.files.wordpress.com/2011/06/phongnguasacthucan1.gif?w=320&h=233

Không bao giờ ép bé ăn, vì như vậy bé có thể bị nghẹn.

+ Đối với trẻ lớn hơn (6-12 tuổi):        

Nhắc trẻ không vừa ăn,uống vừa cười đùa, chạy nhảy.

Cuối cùng, điều quan trọng nhất cần ghi nhớ: Trong mọi trường hợp, người trông giữ trẻ phải được học cách sơ cứu ngạt, tắc đường thở.

VIII. TAI NẠN DO CÁC VẬT SẮC NHỌN VÀ CÁC BIỆN PHÁP

 PHÒNG TRÁNH ĐỐI VỚI TRẺ EM

1. Khái niệm và các thực trạng tai nạn do các vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em.

1.1. Khái niệm:

Các vật được gọi là sắc nhọn khi chúng có ít nhất một đầu, một góc,  một cạnh hay một mặt nhỏ sắc nhọn và không bằng phẳng có thể gây rách, cắt, cứa, đứt hay đâm thủng da cơ thậm chí cả xương khớp. Các vật này được tạo bởi vô số các chất liệu khác nhau như mảnh thủy tinh, mảnh sành, dao, kéo, kim băng, cưa, cành cây, hàng rào.

1. 2. Thực trạng tai nạn do các vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em.

 Tai nạn gây ra bởi vật sắc nhọn là một loại hình thương tích rất thường gặp ở trẻ em, xảy ra với mọi lứa tuổi, vào mọi lúc, ở mọi nơi.

Thương tích do các vật sắc nhọn gây ra đứng thứ 3 trong số các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Năm 2001, tỷ suất tử vong trẻ em của tai nạn là 5,8/100.000 trẻ em ( Theo tài liệu “ Phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giành cho các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các cấp - 2008” ) trong đó:

2. Nguyên nhân và hậu quả gây tai nạn thương tích do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em.

2.1. Nguyên nhân.

Tai nạn do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ, đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau:

Tóm lại tai nạn do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em có từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân đến từ phía trẻ, có nguyên nhân từ ý thức của người lớn và từ điều kiện môi trường.

a. Nguyên nhân từ trẻ em:

Có thể nói tai nạn do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em đến với mọi lứa tuổi.

Qua tìm hiểu các nguyên nhân đến từ phía trẻ em ta thấy nguy cơ mắc hoặc tử vong do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ tuỳ theo lứa tuổi. Khi trẻ còn nhỏ, tuy khả năng nhận thức chưa được nhiều nhưng được sự quản lý giám sát chặt chẽ của người lớn (cha mẹ và người xung quanh) nên tỷ lệ tai nạn không cao, đặc biệt độ tuổi càng lớn (từ 10 - 19 tuổi) tỷ lệ tai nạn do vật sắc nhọn gây ra càng lớn do đặc điểm tâm lý “tự khẳng định mình” trẻ bướng bỉnh không chịu nghe lời hay tự ý làm điều mà mình cho là đúng. Sự giám sát của người lớn (đặc biệt là cha mẹ cũng lỏng lẻo dần) vì nghĩ rằng trẻ đã lớn có ý thức trong việc tránh những vật  nguy hiểm có thể gây tai nạn thương tích.

b. Nguyên nhân từ người lớn:

Gia đình là nơi chăm sóc bảo vệ đảm bảo sự an toàn cho trẻ nhưng thực tế ý thức của người lớn trong nhiều gia đình chưa tốt như:

c. Nguyên nhân đến từ môi trường:

2.2. Hậu quả của tai nạn do vật sắc nhọn gây ra:

Thương tích do vật sắc nhọn gây ra để lại những hậu quả nặng nề đối với trẻ và gia đình trẻ.

a. Đối với trẻ: gây đau đớn về sức khỏe, thể chất và tinh thần cho trẻ.

b. Đối với gia đình:

3. Phát hiện những thương tổn và sơ cứu ban đầu

Tổn thương do các vật sắc nhọn gây ra có thể để lại nhiều hậu quả với các mức độ khác nhau từ mức độ như: xây xát ngoài da phần mềm đến mức độ nặng như ảnh hưởng các chức năng cơ thể như thủng các cơ quan nội tạng, nhiễm trùng hoại tử chi, thậm chí gây tử vong cho trẻ.

3.1. Các loại tổn thương thường gặp:

- Vết thương phần mềm: Vết thương phần mềm nông được biểu hiện là vết rách da và phần mềm ở tay, chân, lưng, bụng, ngực vv... đối với vết thương phần mềm rộng và sâu có thể kèm theo thương tổn mạch máu và thần kinh, các cơ quan nội tạng như gan, lách cũng như gân, cơ, xương, mắt.

- Vết thương còn dị vật: que tre, củi, thanh sắt, dao dính vào.

3.2. Phát hiện thương tổn và sơ cứu ban đầu:

- Tai nạn do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ có thể từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng thậm chí gây tử vong, do đó việc phát hiện ra thương tổn và sơ cứu ban đầu là rất quan trọng trong việc giảm thiểu tác hại thương tích cho trẻ. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp do xử lý sai mà biến một thương tổn ban đầu vốn dĩ nhẹ thành phức tạp để lại những hậu quả nặng nề đáng tiếc xảy ra. Vì vậy, có một số nguyên tắc chung cần được tuân thủ như sau:

+ Động viên, an ủi trẻ, tránh đổ lỗi làm trẻ lo lắng sợ hãi, gây đau tăng hoặc dễ làm trẻ nói dối.

+ Hỏi han để biết hoàn cảnh xảy ra tai nạn, diễn biến của các triệu chứng từ lúc xảy ra tai nạn tới lúc khám, từ đó có thể phần nào dự đoán tổn thương rồi quyết định điều trị tại nhà hay đưa trẻ tới các trung tâm  y tế hoặc bệnh viện.

* Trẻ bị tổn thương phần mềm:

- Nếu vết thương có đất cát dị vật bẩn có thể dùng nước sạch xối rửa nhẹ nhàng.

- Bôi cồn y tế (70 độ) xung quanh vết thương. Chú ý không được dội cồn trực tiếp vào vết thương vì sẽ gây xót cho trẻ có thể đẩy dị vật đất cát vào sâu hơn.

- Nếu vết rách nhỏ: dùng băng dính y tế che vết thương.

- Nếu vết rách rộng chảy máu nhiều: băng, cầm máu như sau:

+ Lưu ý rửa sạch tay trước và sau khi băng bó. Đi găng tay hoặc dùng các túi nilon sạch khi băng bó vết thương cho trẻ để tránh nhiềm trùng cho trẻ và bảo vệ người băng.

+ Dùng gạc vô khuẩn (nếu có sẵn) hoặc khăn vải sạch đặt lên trên vết thương, dùng băng cuộn băng ép vừa phải tới khi máu ngừng chảy. Chú  ý gạc băng đệm phải to, dày, phủ kín các mép vết thương.

+ Khi máy chảy thấm qua băng, không được lấy băng ra mà cần đặt thêm miếng bạc khác chồng lên để cầm máu.

+ Nếu thấy đầu chi gần chỗ băng tái xanh, lạnh, da xám và tê, cần nới lỏng băng vì đó là dấu hiệu băng quá chặt.

+ Nếu có ruột, cơ quan nội tạng thoát ra ngoài thành bụng: không được đẩy ruột trở lại ổ bụng lấy bát hoặc vật tương ứng úp vào khối ruột thoát ra rồi băng vòng qua để giữ cố định vào thành bụng.

Lưu ý không được:

- Garo tay, chân phía trên vết thương bằng dây chun các loại với mục đích cầm máu (ngoại trừ trường hợp một phần chi đã đứt rời).

- Xối rửa, kỳ cọ hay dùng dụng cụ để cố lấy dị vật ra khỏi vết thương vì sẽ gây tổn thương thêm phần mềm xung quanh.

Trường hợp vết thương vẫn còn dị vật (que tre, thanh sắt, dao ...)

- Tuyệt đối không được rút dị vật ra, đặc biệt trong trường hợp vết thương xuyên vào bụng, vào ngực, vào nách, vào đùi vào mắt.

- Nếu dị vật quá dài gây khó khăn cho việc di chuyển nạn nhân, cần dùng phương tiện cắt bớt dị vật sau đó chuyển ngay trẻ tới cơ sở y tế gần nhất. Trên đường di chuyển có thể cho trẻ dùng các thuốc giảm đau đường tiêm để chống choáng.

- Nếu vết thương ở ngay mạch máu, thì nên ấn vào đường đi của mạch máu ở phía trên vết thương, đồng thời băng ép đủ chặt để cầm máu. Sau đó phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.

- Các vật gây thương tích như dao, kéo, đinh… có dính bùn đất, phân hoặc gỉ có thể gây uốn ván và các nhiễm trùng nặng khác, nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để tiêm phòng. Nhưng cách phòng tốt nhất là các bậc cha mẹ nên cất riêng đồ sắc nhọn, tránh lối ra vào và để xa tầm với của trẻ.

4. Các biện pháp phòng tránh tai nạn do vật sắc nhọn gây ra

4.1. Đối với trẻ:

Để trẻ không bị thương do các vật sắc nhọn gây ra thì biết cách phòng, tránh là hữu hiệu nhất. Tai nạn thương tích do vật sắc nhọn gây ra cho trẻ có thể phòng tránh được khi chúng ta quan tâm bảo vệ trẻ, chúng ta chỉ dẫn cho trẻ thấy được sự nguy hiểm như: khi sử dụng, chơi đùa bên cạnh các đồ vật sắc nhọn dễ bị vật sắc nhọn đâm, cứa sẽ dẫn tới đau, chảy máu, mất chân tay.

 Hướng dẫn và dạy trẻ tránh các trò chơi nguy hiểm như ném nhau, trèo cây, đấu kiếm, chạy nhảy….v..v

Hướng dẫn trẻ không bắt chước người lớn làm các công việc có nguy cơ gây tai nạn thương tích khi không có sự giám sát của người lớn như: gọt hoa quả, thái thịt, khâu vá, băm rau bèo vv.. mà không có sự giám sát của người lớn.

4.2. Đối với cha mẹ trẻ, người chăm sóc trẻ và nhà quản lý:

- Chỉ bảo, răn đe, giúp trẻ biết được và lường trước được các hoàn cảnh có thể dẫn tới tai nạn thương tích do vật sắc nhọn, các hậu quả do nó để lại.

- Xây dựng môi trường an toàn: để ngoài tầm với của trẻ tất cả những vật sắc nhọn gây nguy hại như dao, kéo, dùi đục, kim băng, đinh, các loại vũ khí (súng, kiếm). Bao bọc các đầu mút sắc nhọn trong nhà như góc bàn, góc ghế, dựng hàng rào ngăn cách trẻ tới chỗ nguy hiểm như đống gạch, khu vực xây dựng vv...

- Tổ chức và giám sát chặt chẽ để trẻ có hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn, các dụng cụ vui chơi như đu quay, xích đu, cầu trượt phải được kiểm tra an toàn chước khi cho trẻ chơi. Địa điểm chơi, sân chơi phải bằng phẳng không có vật sắc nhọn như mảnh chai, lọ vỡ.. v.v..

- Trang bị kiến thức tối thiểu cho các bậc cha mẹ, người giám sát và các nhân viên y tế biết cách sơ cứu ngay tại chỗ trong trường hợp tai nạn do vật sắc nhọn gây nên.

Tai nạn thương tích do các vật sắc nhọn gây ra cho trẻ em rất thường hay gặp trong cuộc sống. Những tai nạn đó có thể rất nhẹ nhàng nhưng cũng có thể gây ra hậu quả nặng nề hoặc có thể gây ra nguy hiểm đến tính mạng. Tuy vậy, chúng ta cũng có thể phòng tránh được nếu chúng ta nâng cao nhận thức, tuyên truyền giáo dục cộng đồng, cho các bậc cha mẹ và người giám sát những kiến thức phòng tránh tai nạn cho trẻ. Đây là một việc làm rất quan trọng và cần thiết.

IX.TAI NẠN DO CÁC TRÒ CHƠI NGUY HIỂM VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH ĐỐI VỚI TRẺ EM

1. Những vấn đề chung

1.1. Khái niệm về trò chơi

         Trò chơi là một hình thức vui chơi giải trí dùng các kỹ thuật, phương tiện, biểu cảm (cử chỉ, ngôn ngữ) để biểu đạt một sự vật hiện tượng hành động trong đời sống tự nhiên xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần.

1. 2. Ý nghĩa của trò chơi:

Trò chơi là hoạt động không thể thiếu, là món ăn tinh thần, nó đáp ứng nhu cầu tâm lý của trẻ em. ở lứa tuổi này tham gia hoạt động trò chơi chính là tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách tốt nhất, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi là ham chơi nên khi tổ chức các hoạt động vui chơi mọi trẻ em đều hưởng ứng, nhiệt tình, tham gia với tinh thần tự nguyện. Thông qua trò chơi để giáo dục trẻ một cách toàn diện vừa đảm bảo quyền trẻ em.

1.3. Tác dụng của trò chơi:

Có thể nói trò chơi có tác dụng đặc biệt đối với trẻ em. Thông qua hoạt động này, trẻ được phát triển mọi mặt đức, trí, thể mỹ:

- Giáo dục đạo đức tác phong: trò chơi phát triển tính nhanh nhẹn hoạt bát, tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, giáo dục tính kỷ luật, đặc biệt thông qua trò chơi tuyên truyền luật pháp rất có hiệu quả.

- Trí tuệ: phát triển trí nhớ, suy nghĩ độc lập sáng tạo, xử lý tình huống tính quyết đoán.

- Thể lực: trò chơi đòi hỏi trẻ em phải vận động, chạy nhảy, giúp rèn luyện sức khoẻ dẻo dai, bền bỉ.

- Thẩm mỹ: trò chơi giúp trẻ em nhận biết được cái đẹp: chơi thế nào cho đẹp, làm thế nào để chơi đẹp vv...

- Trò chơi là phương pháp rèn luyện sức khoẻ cho trẻ em: khi tham gia trò chơi các em vận động, chạy nhảy một cách thoải mãi, nếu chơi tích cực sẽ giúp trẻ rèn luyện thể chất đạt kết quả cao.

1.4. Đặc trưng của trò chơi:

- Trò chơi là hoạt động tự do với đặc điểm là thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu tâm lý, nhu cầu hoạt động nên mọi trẻ em đều có thể tham giam một cách tự nguyện, tự giác với ý thức cao và chấp hành tốt luật chơi quy định.

- Trò chơi phản ánh đời sống tự nhiên xã hội: trò chơi dùng cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, mầu sắc để mô tả lại những sự vật hiện tượng hoạt động trong đời sống tự nhiên, xã hội mang tính giả định như đóng vai, bắt chước vv... nhưng lại phản ánh được đời sống tự nhiên xã hội.

Những sự vật hiện tượng, những hoạt động hàng ngày được mô tả lại thông qua trò chơi như: làm người bán hàng, nấu cơm, làm bác sĩ, cô giáo vv... giúp các em tăng cường hiểu biết, tạo cho các em một tinh thần thoải mãi vui vẻ và thỏa mãn nếu chơi đúng lúc, đúng mức độ.

- Trò chơi là một hoạt động có nguyên tắc: trò chơi dù đơn giản hay phức tạp, chơi tự phát hay tự giác cũng phải tuân thủ theo những quy định, quy tắc nhất định và có phần chặt chẽ.

Kết luận: Trò chơi là một hoạt động không thể thiếu được ở trẻ em, tuỳ mỗi độ tuổi khác nhau thì có những hoạt động trò chơi khác nhau. Có những trò chơi lành mạnh được tổ chức và hướng dẫn của người lớn thì giúp trẻ phát triển toàn diện, ngược lại có những trò chơi nguy hiểm có thể mang lại thương tích hoặc thương tật suốt đời cho trẻ em, thậm chí gây tử vong ở trẻ.

2. Tai nạn do các trò chơi nguy hiểm và các biện pháp phòng tránh đối với trẻ em.

2.1. Thế nào là trò chơi nguy hiểm:

- Trò chơi nguy hiểm là những trò chơi ở những khu vực hoặc sử dụng những phương tiện để chơi không an toàn có nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ và những người xung quanh.

- Trò chơi nguy hiểm có thể xảy ra với mọi trẻ em, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, trò chơi nguy hiểm có thể xảy ra mọi lúc, mọi nơi.

- Trò chơi nguy hiểm xảy ra khi trẻ tham gia vào các hoạt động trò chơi mà không có sự hướng dẫn của người lớn hay người có trách nhiệm.

2.2. Nhận biết một số trò chơi nguy hiểm.

Dù trò chơi đơn giản hay phức tạp, chơi tự phát hay tự giác, người chơi cũng phải tuân thủ theo những quy tắc, quy định nhất định, VD: trò chơi phải an toàn, phải có địa điểm thích hợp, phải được hướng dẫn và cho phép chơi, nhưng thực tế, nhiều trẻ em đã tham gia một số trò chơi mang tính chất nguy hiểm ảnh hưởng đến người khác và chính bản thân trẻ. Có thể kể tên một số trò chơi thông dụng mà trẻ hay chơi như: bắn súng cao su, đánh nhau bằng que, kiếm, chơi khăng, nhảy cầu ao, nhảy từ cây cao xuống đất, trượt cầu thang, nhảy ngựa, bắn chun vv...

Bên cạnh những trò chơi nguy hiểm kể trên còn một số trò chơi có tiềm ẩn, có thể gây tai nạn thương tích cho trẻ, nếu không được sự hướng dẫn của người lớn. VD: đá bóng gần đường giao thông, tổ chức cắm trại gần ao hồ (có thể gây chết đuối do trẻ tự tắm), hoặc gần bụi cây rậm rạp (dễ bị động vật cắn như rắn, rét vv...).

2.3. Nguyên nhân và hậu quả các trò chơi nguy hiểm

a. Nguyên nhân:

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn do các trò chơi nguy hiểm gây ra, có những nguyên nhân đến từ phía trẻ, có nguyên nhân đến từ người lớn, nguyên nhân đến từ môi trường (khi tổ chức các hoạt động vui chơi).

*  Nguyên nhân đến từ phía trẻ:

- Do đặc điểm tâm sinh lý: có thể nói tham gia trò chơi và chơi các trò chơi là một hoạt động gắn liền với trẻ em từ khi còn nhỏ (4,5 tháng tuổi) cho đến khi trưởng thành.

Kết luận: Do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ như hiếu động, tò mò, thích khám phá, trẻ thường chưa ý thức và nhận thức được sự nguy hiểm của các trò chơi nói chung và trò chơi nguy hiểm nói riêng hoặc sự nguy hiểm của mình làm trong khi chơi (VD: vừa an ngô vừa nhảy dây dễ gân hóc hoặc chọc tổ ong vò vẽ, bạn đứng dậy rút ghế vv...).

- Do trẻ chơi một số trò chơi không đúng luật, không tuân thủ các qui định an toàn khi chơi VD: chơi kéo co, trọng tài chưa thổi còi đã kéo gây ngã hàng loạt.

- Do thể lực, sức khoẻ, sự khéo léo và các phản xạ của trẻ chưa phát triển toàn diện.

b.Nguyên nhân đến từ phía người lớn:

- Do sự bất cẩn, chủ quan, thiếu ý thức, kiến thức về mối nguy hiểm của các trò chơi có thể gây tai nạn cho trẻ của người lớn.

- Dụng cụ chơi, thiết bị vui chơi không an toàn VD: kéo co dây đã bị mục.

- Rào chắn không hợp lý, sân chơi không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật vv...

- Trẻ trong quá trình vui chơi thiếu sự hướng dẫn của người lớn như: cách chơi, luật chơi, cách xử lý tình huống khi va chạm, xích mích trong quá trình vui chơi.

- Tổ chức những trò chơi quá sức so với lứa tuổi của trẻ.

b. Hậu quả do các trò chơi nguy hiểm gây ra.

Tai nạn do trẻ chơi những trò chơi nguy hiểm gây ra để lại  hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần.

*Về thể chất: trẻ có thể bị gãy tay, gãy chân, hoặc bị thương các bộ phận khác ở cơ thể, bị hỏng hay mù mắt (do súng cao su hay phi tiêu)

- Bị chấn thương sọ não do ngã (trèo cây hay trượt cầu thang ...)

* Về tinh thần: sau tai nạn để lại một di chứng nặng nề, trẻ rơi vào trạng thái hoảng loạn tinh thần, suy thoái tâm lý khi biết mình bị khiếm khuyết một phần cơ thể (như vết sẹo trên mặt, mất chân hoặc tay vv...).

3. Cách xử lý ta nạn do trò chơi nguy hiểm gây ra.

3.1. Những tai nạn thường gặp do trò chơi nguy hiểm gây ra.

Trong quá trình tham gia các trò chơi nói chung và trò chơi nguy hiểm nói riêng, trẻ thường gặp một số tai nạn thương tích sau:

- Tổn thương phần mềm: chảy máu, xay xát da, tụ máu, bầm tím.

- Chảy máu cam, máu mồm.

- Bong gân, tổn thương dây chằng

- Trật khớp, gãy xương.

- Chấn thương ngực

- Đuối nước.

- Động vật cắn: chó cắn, ong đốt, rắn cắn.

3.2. Nguyên tắc chung:

- Khẩn trương nhanh chóng tách trẻ khỏi địa điểm với tác nhân gây ra tai nạn. VD: trẻ đang phá tổ ong, bị ong đốt, trượt cầu thang thì cần đưa trẻ ra khỏi nơi xảy ra tai nạn...

- Người lớn cần động viên, an ủi để trẻ không qua lo sợ, từ đó trẻ sẽ phối hợp cộng tác trong việc sơ cứu, nếu chúng ta không quan tâm đến vấn đề này, chắc chắn sẽ gặp khó khăn không ít trong sơ cứu.

- Người sơ cứu cần phải thao tác nhanh, đúng động tác nếu không sẽ làm tai nạn thêm trầm trọng.

3.3. Các cách sơ cứu.

Hoạt động trò chơi mang tính đa dạng gồm những hoạt động khác nhau và mỗi hoạt động trò chơi (kể cả trò chơi nguy hiểm) đều có thể bất ngờ mang tai nạn thương tích đến cho trẻ, từ nhẹ có thể gây xây sát ngoài da, phần mềm, tới nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chức năng (nhiễm tuỳ, hoại chi, dập gan, lá lách, ngộ độc ...) thậm chí rất nặng gây nguy hiểm tới tính mạng trẻ. Vì vậy mỗi tai nạn thương tích có cách sơ cứu khác sau đó báo cho nhân viên y tế và gia đình trẻ có mặt để cùng sơ cứu, tiếp đó ta đưa trẻ đến cơ sở ý tế gần nhất.

Một số cách sơ cứu xử lý tai nạn thương tích khi trẻ tham gia các trò chơi nguy hiểm.

* Chảy máu cam: cho trẻ nằm ngửa, kê vật mềm vào cổ (hoặc ngửa đầu ra đằng sau) thở bằng miệng.

* Chấn thương phần mềm: chỗ xây xước, chảy máu, bầm tím, tụ máu.

- Rửa nước sạch, nước muối nhẹ.

- Đặt gạc vô khuẩn, băng nhẹ.

- Tiêm uốn ván (SAT) nếu trẻ dưới 6 tuổi đã được tiêm chủng mở rộng đầy đủ chống 6 bệnh thì không cần tiêm SAT.

- Uống kháng sinh thông thường nếu vết thương bẩn.

- Thuốc giảm đau.

* Bong gân gây tổn thương dây chằng.

- Dưới 6 tiếng: chườm mát bất động 4 chi.

- Trên 6 tiếng: ngâm nước muối ấm, băng chun cố định, dùng thuốc giảm đau.

- Hạn chế vận động đi lại.

* Trật khớp, gãy xương:

- Cần bất động thật tốt trước khi chuyển trẻ em tới cơ sở y tế (nẹp to, gỗ, bìa cứng ....).

- Nếu nghi có chấn thương cột sống để trẻ trên ván cứng.

- Không tự nắn chỉnh.

* Chấn thương ngực:

- Nhẹ:

+ Cho trẻ nằm nghỉ ngơi yêu tĩnh, thoáng khí

+ Nới lỏng quần áo, mũ

+ Nằm nghỉ cao đầu, thở oxy

+ Giảm đau.

- Nặng: khó thở đưa vào trung tâm y tế

* Sơ cứu đuối nước:

- Sau khi đưa trẻ bị đuối nước lên bờ cần thực hiện các bước sơ cứu sau:

Nếu trẻ vẫn tỉnh chỉ lo sợ hoảng hốt:

+ Cởi bỏ quần ướt.

+ Làm sạch đường thở và thông thương bằng cách dốc ngược đầu trẻ xuống thấp rồi lay mạnh kích thích gây nôn móc cho trẻ non bớt nước trong dạ dày ra ngoài, móc dị vật trong miệng ép lồng ngực để tháo nước ở đường hô hấp.

+ Kiểm tra hơi thở và mạch

+ Cho trẻ nằm ngửa động viên, an ủi sau đó đưa đến sở y tế.

Nếu trẻ bất tỉnh nhưng thở:

+ Bằng mọi cách nhanh chóng làm thoát nước đường thở từ dạ dày ra ngoài, vác trẻ lên vai dốc đầu trẻ xuống đất và lắc mạnh.

+ Tư thế trẻ cúi gập người, đầu thấp, cán bộ cấp cứu đứng sau lưng ôm lấy bụng trẻ và ép mạnh vào phần trên bụng để ép vào cơ hoành và dạ dày đẩy nước ra ngoài.

Nếu ngừng thở, ngừng tim:

+ Phải hô hấp nhân tạo bằng miệng ngay. Tuy nhiên trước đó phải thoát bớt nước ra ngoài, để trẻ dốc đầu lắc mạnh một vài cái, sau đó để trẻ nằm ngửa. Hà hơi thổi ngạt đồng thời xoa bóp tim lồng ngực ngay. Chú ý bóp tim 5 nhịp thì thổi ngạt một lần, trong khi thổi ngạt thấy lồng ngực trẻ phồng lên hạ xuống. Cần tiếp tục cho trẻ khi trẻ tự thở lại. Khi đó bằng các phương tiện nhanh nhất đưa trẻ đến cấp cứu.

Lưu ý: Trong khi chờ đợi phương tiện cấp cứu cần:

- Để trẻ nằm nơi thoáng đãng, kê gối dưới vai, cổ ngửa, đùa nghiêng sang một bên.

- Thay quần áo khô, giữ ấm cơ thể trẻ.

- Dỗ dành an ủi động viên trẻ khỏi sợ hãi.

4. Các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích do các trò chơi nguy hiểm gây ra đối với trẻ em.

Phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em khi tham gia các trò chơi nói chung và trò chơi nguy hiểm nói riêng có thể phòng tránh được nếu tất cả mọi người, mọi gia đình cũng như các cấp các ngành chú ý quan tâm đến chăm sóc bảo vệ trẻ em.

4.1.Trong gia đình:

Cha mẹ, người giám sát hoặc người chăm sóc trẻ cần phải có ý thức và trách nhiệm hướng dẫn trẻ, nhận biết môi trường an toàn như: nơi chơi, đồ chơi, trò chơi an toàn, đồ đạc trong gia đình phải được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng, để những đồ vật dễ vỡ, sắc nhọn nguy hiểm xa tầm với của trẻ, hướng dẫn trẻ không chơi những đồ vật, những trò chơi có thể gây nguy hiểm, cha mẹ, người giám sát cần phải biết cách sơ cứu ngay từ khi trẻ bị tai nạn.

4.2. Đối với trẻ:

- Giáo dục trẻ nhận biết và ý thức được hậu quả tránh các trò chơi nguy hiểm như: nhảy từ trên cao xuống, bắn súng cao su, nhảy ngựa... không đuổi nhau chơi đùa ở chỗ nguy hiểm như: đường mấp mô, gần ao hồ không đụng vào những trò chơi nguy hiểm như: dao, súng, kiếm vv...

- Hướng dẫn trẻ thực hiện đúng các trò chơi có luật và những qui định an toàn khi chơi.

- Hướng dẫn trẻ biết phải làm gì khi xảy ra tai nạn do các trò chơi nguy hiểm xảy ra như gọi mọi người đến giúp nếu bạn gặp tai nạn thương tích cho bạn uống nước, động viên an ủi bạn, giúp đỡ bạn.

4.3. Đối với xã hội: 

- Các tổ chức đoàn thể cũng như trường học có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức cho các em tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí an toàn và lành mạnh: như tham quan, cắm trại (ở những nơi an toàn, đủ điều kiện theo quy định chơi các trò chơi lành mạnh và an toàn).

- Xây dựng môi trường an toàn: nhà nước có chính sách dành quỹ đất để xây dựng những điểm vui chơi an toàn cho trẻ em có khu vui chơi giải trí riêng cho trẻ em tại cộng đồng, đồ dùng, trang thiết bị vui chơi cho trẻ phải an toàn có biển báo nguy hiểm báo cấm (cấm đi, cấm trèo) ở những nơi cần thiết hoặc những nơi an toàn có thể gây tai nạn thương tích cho trẻ.

- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong việc  hướng dẫn, giám sát các hoạt động vui chơi của trẻ đảm bảo trẻ được chơi vui, khoẻ, lành mạnh và an toàn.

BÀI 5

 CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI

THIÊN TAI VÀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH

Thời gian: 8 giờ

I. CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI THIÊN TAI VÀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH.

1. Khái niệm Công tác xã hội cá nhân

Công tác xã hội với cá nhân là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình. Trong tiến trình này, nhân viên xã hội biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý, xã hội học và các khoa học xã hội có liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng chuyên môn, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của mình đang gặp phải và có khả năng tự vượt qua những vấn đề có thể xẩy ra trong tương lai.

2. Các yếu tố cấu thành trong công tác xã hội cá nhân.

2.1. Con người:

a. Đối tượng: (cá nhân – còn gọi là thân chủ): có thể là nam hay nữ, già hay trẻ, họ là những người có chức năng xã hội hay bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau (khách quan/chủ quan: tình trạng sức khỏe, kính tế yếu kém, mâu thuẫn xã hội, ô nhiễm môi trường,…) nên họ cần đến sự giúp đỡ.

b. Nhân viên xã hội: Nhân viên xã hội đóng vai trò quan trọng trong tiến trình làm việc với cá nhân. Là người được đào tạo chuyên nghiệp, có kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn và biết sử dụng những kiến thức kỹ năng này vào quá trình hỗ trợ, giúp đỡ cho đối tượng.

c. Vấn đề: là những tình huống hay hoàn cảnh/trường hợp khó khăn mà đối tượng đang gặp phải mà bản thân đối tượng không thể đối phó, giải quyết được có thể là: sức khỏe, kinh tế, việc làm, quan hệ xã hội,… đã gây ra và ảnh hưởng tới các hoạt động chức năng xã hội của đối tượng.

d. Các cơ quan, tổ chức xã hội:

+ Là nơi cung cấp, tổ chức các hoạt động hỗ trợ dựa trên hệ thống chính sách, chương trình quốc gia hay của cơ quan nào đó. Cơ quan, tổ chức xã hội ở đây có thể là tổ chức chính phủ hay phi chính phủ (phi chính phủ Việt Nam hay phi chính phủ quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam).

+ Mỗi tổ chức cung cấp dịch vụ xã hội đều có nhiệm vụ, chức năng và cách tiếp cận khác nhau và có thể đáp ứng nhu cầu phục vụ cho một hoặc nhiều loại đối tượng khác nhau. Ví dụ như: Có những tổ chức chuyên làm việc với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích; đối tượng là trẻ em và quyền trẻ em nói chung; nhưng cũng có những tổ chức lại làm với rất nhiều đối tượng: người già, trẻ em lang thang, người khuyết tật,…

e. Quá trình hỗ trợ (Tiến trình công tác xã hội cá nhân): Đây chính là phương pháp mà nhân viên xã hội tiếp cận, sử dụng trong quá trình trợ giúp cho đối tượng. Sự trợ giúp này là quá trình tương tác, hỗ trợ chuyên nghiệp và khoa học giữa nhân viên xã hội và đối tượng. Ở đây bao gồm các bước hoạt động chuyên môn nhằm hỗ trợ cho đối tượng đạt được mục đích của mình và cũng chính là mục đích của công tác xã hội nói chung.

3. Khái niệm trẻ em, công tác xã hội cá nhân với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

 “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Trẻ em là tương lai của đất nước, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nước nhà. Công tác xã hội đối với trẻ em là một bộ phận trong ngành công tác xã hội chuyên nghiệp, đã được hình thành trong bối cảnh, mạng lưới phát triển của hệ thống an sinh xã hội nói chung và an sinh xã hội về trẻ em nói riêng.

Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người. Đó là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời. Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục.

Theo Điều 1 của Công ước Liên hợp Quốc về quyền trẻ em, “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, Trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tuy nhiên, Luật BVCS&GD trẻ em của nước ta (12/8/1991) xác định trẻ em là “Công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”.

Các luật khác, như Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự, Luật quốc tịch, Luật hôn nhân và gia đình… của nước ta đều có những điều liên quan đến việc xác định đối tượng trẻ em, xuất phát từ đặc thù của từng ngành luật và căn cứ vào quyền lợi và nghĩa vụ tốt nhất của trẻ em.

Quy định trẻ em là “công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” sẽ tạo điều kiện để tập trung hơn cho những đối tượng thuộc nhóm tuổi nhỏ. Quy định này sẽ là căn cứ chính để xây dựng chiến lược BVCS&GD trẻ em trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động, lứa tuổi 16 – 18 vẫn cần được coi là trẻ em. Vì đây là lứa tuổi thuộc nhóm vị thành niên mà công tác BVCS&GD trẻ em cần đặc biệt quan tâm.

Như vậy, Công tác xã hội với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích chính là một phần không thể tách rời của công tác xã hội với trẻ em nói riêng và trong công tác xã hội nói chung, và được hiểu là: quá trình nhân viên xã hội sử dụng những kiến thức chuyên ngành, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp vào trong quá trình trợ giúp cho trẻ em:từ quá trình tuyên truyền, vận động phòng ngừa cho đến trị liệu, phục hồi và phát triển. Qua đó giúp cho đối tượng hòa nhập tốt với công đồng, xã hội và tăng năng lực cho chính mình.

Công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích là một bộ phận không thể trách rời trong công tác bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em, chính vì vậy cần đào tạo những nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp làm việc trong lĩnh vực theo một hệ thống xuyên suốt từ trung ương cho tới cơ sở (làng, bản, thôn, ấp).

4. Mục đích Công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

Mục đích của công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực này là nhằm phục hồi, củng cố và phát triển các chức năng xã hội nhằm giúp cho trẻ/nhóm trẻ giải quyết được các vần đề, cải thiện được tình hình đang mắc phải, thông qua sự huy động tham gia tích cực, tiềm năng của cá nhân và xã hội vào quá trình giải quyết vấn đề.

Công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực phòng chống thiên tai và tai nạn thương tích trẻ em có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt: tin vào giá trị vốn có và sự quan trọng của bản thân trẻ và gia đình trẻ; sự phụ thuộc lẫn nhau của trẻ và xã hội; đồng thời công tác xã hội cá nhân cải thiện những điều kiện gây ra các vấn đề làm đổ vỡ các mối quan hệ lành mạnh giữa trẻ và gia đình, giữa trẻ và những người khác hay giữa trẻ và môi trường; công tác xã hội cá nhân giúp trẻ xác định và giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của họ hay ít nhất là giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực;… hướng tới phát triển, tăng năng lực cho trẻ, tạo sự tham gia tối đa tích cực và đảm bảo sự phát triển tự nhiên của trẻ. Sự phát triển của trẻ em này “được hiểu là một quá trình biến đổi tổng thể, cải biến toàn vẹn các sức mạnh thể chất, tinh thần và xã hội,, cũng như các năng lực của trẻ em có tính đến các lứa tuổi”. Sự phát triển về thể chất biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện các giác quan, sự phối hợp các vận động; sự phát triển về tâm lý biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức, xúc cảm, ý chí, ở sự hình thành các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách. Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở những biến đổi trong cách cư xử với những người xung quanh, trong việc tích cực tham gia vào đời sống xã hội. Với ý nghĩ như vậy, nói đến sự phát triển của trẻ em cũng là nói đến sự phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách của trẻ em.

5. Các vai trò, chức năng của công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

Nhân viên xã hội hoạt động trong lĩnh vực phòng chống thiên tai và tai nạn thương tích cho trẻ em nói riêng hay hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn nói chung thường đảm nhận nhiều vai trò, nhiệm vụ khác nhau: Có lúc nhân viên xã hội là nhà giáo dục; có lúc là nhà tham vấn; có lúc là nhà kết nối;… không thể kết luận vai trò, nhiệm vụ nào là quan trọng nhất hay vai trò nhiệm nào là quan trọng hơn. Điều này tùy thuộc vào từng đối tượng cụ thể mà ở đây chính là trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích, hoàn cảnh, môi trường và vần đề. Khi đó chúng ta thể hiện vai trò và nhiệm vụ của mình một cách phù hợp nhất.

5.1 Vai trò, chức năng là nhà giáo dục:

Với vai trò này chúng ta có thể hiểu chính là vai trò, chức năng phòng ngừa trong công tác xã hội đối với đối tượng là trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích. Ở đây, nhân viên xã hội trang bị cho đối tượng không chỉ là trẻ em mà còn có cả người lớn, gia đình, các tổ chức trong cộng đồng và chính quyền địa phương những kiến thức, rèn luyện những kỹ năng để họ có thể thực hiện tốt chức năng xã hội và ngăn ngừa tốt nhất những vấn đề có thể xẩy ra cũng như những tác hại của nó: lũ lụt, động đất, sóng thần hay các tai nạn thương tích như: đuối nước, bỏng, tai nạn giao thông, ngộ độc, xúc vật cắn,… nhân viên xã hội thực hiện chức năng này thông qua việc cung cấp, trao đổi kiến thức, tài liệu liên quan, giúp đối tượng nhận thức, nâng cao hiểu biết, hiểu rõ ngọi nguồn của vấn đề từ đó giúp cho trẻ em, người thân của trẻ có thể ngăn ngừa những tai nạn, những rủi ro không đáng có có thể xẩy ra. Ví dụ như: cung cấp cho trẻ em và người nhà của trẻ về kiến thức phòng chống bỏng, tai nạn giao thông hay đuối nước,… qua đó giúp gây nhận thức và giảm thiểu tới mức tối đa những tai nạn không đáng tiếc xẩy ra.

5.2. Vai trò, chức năng của nhà tham vấn.

- Tham vấn có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hỗ trợ cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích nói riêng, và hỗ trợ cho đối tượng của Công tác xã hội nói chung. Có thể hiểu, tham vấn trong công tác xã hội với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích chính là quá trình giúp cho trẻ em và người thân của trẻ nâng cao nhận thức, chức năng xã hội thông qua mối quan hệ tương tác trợ giúp nhằm để họ hiểu hơn về cảm xúc, hành vi, thái độ, của chính mình và học cách ứng phó, trải nghiệm với những tình huống có vấn đề trong thực tiễn.

- Vai trò, chức năng của nhà tham vấn là một bộ phận quan trọng trong chức năng trị liệu của công tác xã hội. Sở dĩ như vây là: Chức năng, vai trò của nhà tham vấn trong công tác xã hội với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích chính là quá trình tham gia đánh giá, chuẩn đoán về tâm lý xã hội của trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích; cung cấp các dịch vụ chăm sóc cho trẻ và lên kế hoạch trị liệu; thực hiện kế hoạch trị liệu và lượng giá toàn bộ quá trình tham vấn.

5.3. Vai trò, chức năng của người kết nối.

- Nhân viên xã hội hoạt động trong lĩnh vực trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích cần thực hiện tối đa vai trò, chức năng này, thông qua việc kết nối nhóm trẻ và người thân của trẻ với các dịch vụ hỗ trợ, các nguồn lực phù hợp: Ví dụ như: trẻ em bị tai nạn giao thông, bị bỏng, vật sắc nhọn hay súc vật cắn,… cần phải nhanh chóng kịp thời kết nối với các dịch vụ y tế để sơ cấp cứu và cấp cứu cho trẻ; hay như trẻ em sống trong các vùng thiên tai, lũ lụt, sóng thần, hỏa hoạn thì nhân viên xã hội cũng kịp thời kết nối cho trẻ em tới những ngôi nhà an toàn hơn, cộng đồng an toàn hơn, kêu gọi sự trợ giúp của các cá nhân, tổ chức xã hội.

- Để thực hiện tốt vai trò, chức năng này thì nhân viên xã hội cần phải thực hiện tốt các chức năng cụ thể:

+ Đánh giá nhu cầu/khả năng của nhóm trẻ: đây là hoạt động mà nhân viên xã hội cần phải đánh giá một cách chính xác các nhu cầu và khả năng của nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích cũng như người thân của nhóm trẻ.

+ Đánh giá nguồn lực hỗ trợ: nhân viên xã hội tìm kiếm, kêu gọi và đánh giá các nguồn lực ở bên trong và bên ngoài cộng đồng có liên quan đến nhu cầu thiết thực của nhóm trẻ. Ví dụ như: nhóm trẻ em nói riêng sau khi bị lũ lụt tàn phá thì rất cần lương thực, quần áo, chăn màn để sinh hoạt, sách vở, bàn học để tiếp tục đến trường. Nhân viên xã hội đánh giá được mức độ khó khăn như vậy thì tìm kiếm các nguồn hỗ trợ từ nhiều cá nhân, tổ chức xã hội: hội chữ thập đỏ,… từ chính quyền các cấp.

+ Kết nối: Ngay sau khi đánh giá được nhu cầu và khả năng của nhóm trẻ cũng như tìm kiếm được nguồn hỗ trợ thích hợp thì nhân viên xã hội nhanh chóng kết nối lại để đáp ứng được nhu cầu thiết thực trước mắt cho nhóm trẻ cũng như đáp ứng được mong muốn, nguyện vọng của các tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ.

II .QUY TRÌNH TIẾN HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI THIÊN TAI VÀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH

Quy trình tiến hành hay tiến trình giải quyết vấn đề trong công tác xã hội cá nhân là quá trình tương tác trợ giúp giữa nhân viên xã hội và đối tượng (trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích) mà ở đó diễn các bước hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đối tượng được tăng năng lực và giải quyết vấn đề. Quá trình này được bắt đầu khi nhân viên xã hội tiếp cận trẻ cho tới lượng giá và kết thúc. Để có thể thực hiện tốt và giải quyết vấn đề của trẻ một cách hiệu quả nhất cần đòi hỏi nhân viên xã hội phải thật sự có chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm nhất là trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

Quy trình làm việc với trẻ em nói chung và nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích nói riêng có nhiều bước/nhiều giai đoạn khác nhau, ở mỗi tài liệu khác nhau hoặc các cách tiếp cận khác nhau thì mỗi tác giả đưa ra quy trình khác nhau. Ở tập tài liệu này, chúng tôi đưa ra quy trình giải quyết vấn đề 7 giai đoạn.


Quy trình giải quyết vấn đề cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích (7 giai đoạn)

- Hoàn cảnh nào nhân viên xã hội gặp đối tượng.

- Vấn đề của đối tượng là gì: thể chất, vật chất hay tình cảm, tinh thần.

                                                                         Thu thập thông tin từ đối tượng,

                                                                  gia đình, làng xóm, cộng đồng, các

                                                                   dịch vụ xã  hội khác

- Vấn đề thực sự của đối tượng là gì, những yếu tố có liên quan trong trong vấn đề của thân chủ.

- Mục đích của việc lập kế hoạch, các giải pháp thực thi, thứ tự ưu tiên cho các giải pháp, các yếu tố khác như thời gian, địa điểm, tài chính.

- Các hoạt động mà kế hoạch đã đề ra như hỗ trợ, tư vấn, biện hộ…

- Xem xét đánh giá kế hoạch hành động đã đạt được mục tiêu hay không? ghi chép tổng hợp, rút kinh nghiệm.

1. Tiếp nhận đối tượng (thân chủ - trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích)

Tiến trình công tác xã hội cá nhân khởi đầu bằng giai đoạn tiếp nhận đối tượng. Việc tiếp nhận đối tượng được thực hiện từ lúc nhân viên công tác xã hội tiếp nhận hồ sơ/gặp gỡ tiếp đón ở buổi đầu tiên. Hoạt động tiếp nhận này diễn ra rất đa dạng, có thể do phía nhân viên công tác xã hội chủ động theo phạm vi chức năng của mình hoặc do phía thân chủ có nhu cầu cần được giúp đỡ tìm đến nhân viên xã hội, hoặc có thể thông qua một trung gian nào đó giới thiệu: như nhân viên xã hội tiếp nhận đối tượng thông qua chuyển giao do cơ quan cấp trên là Sở lao động thương binh – Xã hội chuyển xuống; trung tâm, tổ chức chuyển giao.

Sau khi tiếp nhận đối tượng, nhân viên xã hội nhanh chóng xem xét và đánh giá, xác định đối tượng cần có những nhu cầu hỗ trợ khẩn cấp nào. Công việc này lại rất quan trọng và cần phải luôn chú trọng trong quá trình tiếp nhận đối tượng. Đặc biệt là đối với những đối tượng cần sự can thiệp khẩn cấp: trẻ em bị bỏng; bị tai nạn giao thông; bị ngộ độc; súc vật cắn;… đối với những trường hợp này nhân viên xã hội cần xác nhận phải có những biện pháp can thiệp đáp ứng nhu cầu cấp bách như: dịch vụ y tế - sơ cấp cứu ban đầu cho đến khám chữa bệnh trị liệu. Còn đối với trẻ em là đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt, sóng thần,… thì trẻ phải chịu cảnh đói rét, màn trời chiếu đất,… nhân viên xã hội cần cung cấp thức ăn, chăn màn, quần áo và những hoạt động giúp đỡ phù hợp cho trẻ.

Trong giai đoạn đầu này có một công việc quan trọng nữa là nhân viên xã hội cần phải thông báo cho đối tượng về vai trò và mục tiêu hỗ trợ. Công việc này không chỉ giúp đối tượng hiểu hơn về nhân viên xã hội, về mục tiêu nghề nghiệp và mối quan hệ trợ giúp mà còn giúp cho đối tượng thêm xây dựng lòng tin ở nhân viên xã hội và mở đầu mối quan hệ nghề nghiệp, cởi mở, chân thành.

Sau khi có những thông tin ban đầu về trẻ trong giai đoạn này, nhân viên xã hội cần bắt đầu tiến hành ghi chép hồ sơ. Thông thường những thông tin cơ bản ban đầu bao gồm:

- Thông tin cá nhân của trẻ:

+ Họ và tên.

+ Giới tính.

+ Ngày, tháng, năm sinh.

+ Nơi sinh.

+ Hiện cư tú tại.

+ Các thông tin liên quan khác.

- Thông tin về môi trường của thân chủ.

+ Thông tin về môi trường sống.

+ Thông tin về những mối quan hệ xung quanh.

- Vấn đề của thân chủ: Mô tả vắn tắt vấn đề của thân chủ trong những buổi gặp gỡ tiếp cận thân chủ ban đầu. Nhân viên xã hội cần lưu ý đảm bảo nguyên tắc giữ bí mật cho đối tượng, trong hồ sơ không được ghi tên thật của đối tượng, chỉ được ghi mã số hồ sơ hoặc ký hiệu đánh dấu.

Trong giai đoạn tiếp nhận thân chủ này nhân viên công tác xã hội cần có những kỹ năng cần thiết như:

+  Kỹ năng thiết lập mối quan hệ: Đây được xem như là kỹ năng đặc biệt quan trọng thể hiện sự khéo léo, tinh tế và kinh nghiệm của nhân viên xã hội. Việc thiết lập mối quan hệ ban đầu tốt sẽ dẫn tới hệ quả là giữa nhân viên xã hội và đối tượng có mối quan hệ tốt, thân mật có nhiều điều kiện thuận lợi cho quá trình trợ giúp và ngược lại.

+  Ngoài ra còn có một số kỹ năng quan trọng khác như: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng quan sát; Kỹ năng đánh giá; Kỹ năng lắng nghe,…

Nhiệm vụ của nhân viên xã hội trong giai đoạn đầu tiếp cận đối tượng được thể hiện cụ thể:

+  Giúp trẻ giảm bớt những cảm xúc và ý nghĩ tiêu cực.

+  Làm cho trẻ cảm thấy an toàn và tin tưởng.

+  Tạo bầu không khí thoải mái để trò chuyện, chia sẻ.

+  Nói với trẻ những nguyên tắc và cách thức làm việc.

Tóm lại. nếu bước tiếp nhận đầu tiên này mà nhân viên công tác xã hội tạo được ấn tượng ban đầu tích cực với trẻ/ nhóm trẻ (bằng những hành động: cởi mở, thái độ tôn trọng, sẵn sàng giúp đỡ, đón nhận trẻ,…) thì các bước sau sẽ có rất nhiều thuận lợi.

2. Nhận diện vấn đề.

Bước vào giai đoạn này, mối quan hệ giữa đối tượng (trẻ em) và nhân viên công tác xã hội bắt đầu thật sự định hình và phát triển dần.

Công tác xã hội cá nhân bắt đầu với việc xác định vấn đề do thân chủ trình bày. Đó là vấn đề đã gây ra cho trẻ nhiều khó khăn và sự mất cân bằng trong chức năng tâm lý, xã hội. Bước này diễn ra ở giai đoạn “đăng ký”, nghĩa là khi đối tượng tự mình hay được giúp đỡ để chính thức yêu cầu một sự giúp đỡ của nhân viên xã hội hay cơ quan tổ chức nơi sẽ hỗ trợ cho đối tượng.

Thông thường, vấn đề của đối tượng sẽ được trình bày ngay từ đầu. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng đôi khi do những hạn chế về năng lực trình bày, sự đau yếu, bệnh tật hay những lý do tế nhị khác khiến thân chủ không thể nhận ra hoặc nói ra đâu là nguyên nhân căn bản cho những vấn đề mà họ đang gặp phải. Cụ thể ở đây là trẻ/ nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích các em hạn chế về mặt ngồn ngữ, trình bày hoặc bị sốc, sang chấn,… không thể trình bày rõ dàng và cụ thể, chi tiết hết được cho nhân viên xã hội. Mà bản thân trẻ sẽ thấy dễ dàng hơn trong việc nêu ra các triệu chứng chứ không phải là nguyên nhân. Chính vì thế, nhân viên xã hội cần cùng với trẻ khám phá vấn đề thực sự là gì?, thu thập những thông tin từ môi trường sống và từ bản thân của trẻ có thể ảnh hưởng tới việc thực  hiện chức năng tâm lý, xã hội của trẻ.

Nhân viên xã hội có thể sử dụng kỹ thuật phân tích “cây vấn đề” nhằm xác định rõ những vấn đề liên quan và các nguyên nhân.

Nhân viên xã hội cũng cần phải xác định rõ đối tượng chính ở đây là ai, việc xác định này có ý nghĩa trong việc xác định được vấn đề trọng tâm của việc giải quyết vấn đề. Trong thực tế, có những vấn đề chỉ liên quan đến đến một người, nhưng cũng có những vấn đề liên quan đến nhiều người. Ví dụ: trẻ bị tai nạn giao thông, chúng ta cần xác định rõ ai là người gây ra tai nạn cho trẻ: có thể là do trẻ, có thể là do người trực tiếp gây tai nạn hay cũng có thể là do cha mẹ/người thân không chăm sóc, do trẻ không có sân chơi cho riêng mình;… để trẻ tự chơi một mình, đi lang thang, chơi dưới lòng lề đường,… dẫn tới bị tai nạn. Thực tế trẻ là người bị tại nạn nhưng nguyên nhân gây ra tai nạn có thể là không phải bắt nguồn từ trẻ mà gián tiếp là từ người lớn chúng ta.

Trong gian đoạn này nhân viên xã hội cần phải có những kỹ năng cần thiết để có thể thực hiện tốt trong giai đoạn này như: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng quan sát, Kỹ năng đánh giá; Kỹ năng vấn đàm,…

3. Thu thập thông tin.

Đây là tiến trình thu thập thông tin để có cái nhìn tổng thể về vấn đề của trẻ. Nhưng những thông tin ban đầu cũng có nhiều mập mờ, tương phản hay sai lệch cần được làm sáng tỏ hay được kiểm chứng lại. Có nhiều lý do để giải thích cho vấn đề này có thể là: do truyền thông không được tốt giữa nhân viên xã hội và trẻ; hoặc chính bản thân trẻ đang ở trong tình trạng mập mờ, mâu thuẫn, cảm xúc bị rối loạn do sau khi bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích,…

Công việc thu thập thông tin và kiểm chứng thông tin cần được duy trì liên tục trong thời gian thực hành Công tác xã hội cá nhân vì bản thân và hoàn cảnh của trẻ luôn luôn vận động, thay đổi nhất là từ khi có sự can thiệp của nhân viên xã hội.

Việc thu thập thông tin tốt có hiệu quả cần trả lời được những câu hỏi lớn:

+  Thu thập những thông tin gì? (nội dung cần thu thập): Những thông tin mà nhân viên công tác xã hội cần thu thập: bản thân của trẻ: sức khoẻ, tâm lý xã hội, mối quan hệ xã hội, gia đình, thông tin về những điểm mạnh, điểm yếu, tiềm năng của trẻ, và những thông tin về những trải nghiệm của trẻ trong đời sống. Tóm lại đối với bản thân trẻ những thông tin cần thu thập là:

- Vấn đề của trẻ thuộc loại vấn đề gì? (rối nhiễu tâm lý, tổn thương về sức khỏe, sang chấn tâm lý, sốc,…).

- Vấn đề xuất phát từ khi nào? Trẻ bị tai nạn từ khi nào.

- Nguyên nhân chính của vấn đề này là do đâu?

- Các tác động của nó tới tâm, sinh lý, sức khỏe của trẻ và gia đình trẻ?

+  Thu thập thông tin từ đâu? (nguồn thông tin cần thu thập): Nhân viên xã hội thu thập thông tin từ:

Chính bản thân trẻ đây là nguồn cung cấp thông tin rất quan trọng cho nhân viên xã hội. Hơn ai hết chính trẻ là người hiểu bản thân mình nhất và biết rõ nhất về vấn đề, hậu quả mà mình đang gặp phải chính vì vậy nhân viên xã hội cần phải khai thác tối đa những thông tin từ phái trẻ. Trong quá trình khai thác thông tin từ trẻ nhân viên xã hội cũng cần lưu ý đến cảm xúc, ngôn ngữ biểu cảm thông qua cử chỉ, hành động của trẻ, cũng cần lưu ý đến những thói quen mà trẻ hay thể hiện trong quá trình giao tiếp với nhau và với nhân viên xã hội.

Gia đình, bạn bè: là đối tượng thứ hai giúp nhân viên xã hội có thể thu thập được nhiều thông tin về trẻ và những vấn đề liên quan đến trẻ. Qua đây, nhân viên xã hội có cái nhìn tổng quan hơn, hiểu rõ hơn về trẻ, vấn đề và nguyên nhân dẫn tới vấn đề mà trẻ đang gặp phải.

Các tổ chức xã hội, dịch vụ xã hội khác, tài liệu, biên bản có liên quan,... Hệ thống sơ đồ sinh thái chính là những nơi mà nhân viên xã hội cần tiếp cận và thu thập thông tin. Qua đó góp phần vào gợi mở cánh cửa tìm hiểu rõ hơn về vấn đề của trẻ cũng như những sức ép nào đó mà trẻ đang phải đương đầu.

+  Thu thập thông tin như thế nào? (phương pháp thu thập và kỹ năng thu thập): Nhân viên xã hội có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập thông tin: bảng hỏi, vãng gia, thu thập thông tin thứ cấp, phỏng vấn,…

Mục đích của cuộc thu thập dữ kiện này là để giúp nhân viên xã hội thử làm một chẩn đoán về cá nhân trong tình huống và trên cơ sở đó lên một kế hoạch trị liệu.

Một số kỹ năng cần thiết trong giai đoạn này của nhân viên xã hội sử dụng để thu thập thông tin hiệu quả: kỹ năng thiết lập mối quan hệ; kỹ năng đặt câu hỏi; xác định vấn đề; ghi chép; vấn đàm…

4. Đánh giá chẩn đoán.

Phân tích các thông tin, dữ liệu thu thập được, phân tích tính chất, đặc điểm, nguyên nhân, các yếu tố tác động, mức độ trầm trọng của vấn đề. Đánh giá tình hình hoàn cảnh của trẻ ở mức độ nào, năng lực tiềm năng của trẻ tới đâu trong việc giải quyết vấn đề, xem xét các nguồn lực hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng, các tổ chức dịch vụ xã hội. Xem xét vấn đề của trẻ có khả năng được giải quyết hay không, có phù hợp với tổ chức dịch vụ cơ sở nhân viên xã hội đang thực thi hay không.

Đánh giá chẩn đoán là việc xác định trọng tâm vấn đề dựa trên những cơ sở dữ kiện đã thu thập được, tức là việc ghi nhận: Các điểm mạnh, điểm yếu và giới hạn của trẻ; các thuận lợi, khó khăn và bất lợi của trẻ; những tâm trạng, nhận thức và mong đợi của trẻ sau khi bị ảnh hưởng bởi thiên tai/ bị tai nạn thương tích,…

Bản đồ SWOT là một công cụ để giúp cho nhân viên xã hội xác định được những điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội và rủi ro mà bản thân trẻ có được và có thể gặp phải, qua đó nhân viên xã hội cùng trẻ vạch ra những điểm mạnh và yếu mà trẻ đang có, đồng thời chỉ ra những cơ hội và nguy cơ mà trẻ có thể đương đầu. Tất cả giúp cho chúng ta hình dung được một cách khá bao quát về trẻ để có thể lập được một kế hoạch can thiệp kịp thời:

Điểm mạnh

- Sự hồn nhiên, vô tư của trẻ,…

Điểm yếu

- Hạn chế về mặt ngôn ngữ, sức khỏe, …

Cơ hội

- Nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các chính sách, luật, các dịch vụ xã hội,…

Rủi ro

- Nguy cơ tính mạng khi có thiên tai, chịu hậu quả nặng nề của các tai nạn,...

Công việc đánh giá chẩn đoán bao gồm 3 bước: chẩn đoán, phân tích, thẩm định:

 +  Chẩn đoán là xác định xem có trục trặc ở chỗ nào, tính chất của vấn đề là gì, trên cơ sở các dữ kiện thu thập được.

+  Phân tích là động tác chỉ ra các nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến hay đóng góp vào khó khăn.

+  Thẩm định là thử xem có thể loại bỏ hay giảm bớt khó khăn trên cơ sở động cơ và năng lực của thân chủ để tham gia giải quyết vấn đề, tạo mối quan hệ và sử dụng sự giúp đỡ. Sự thẩm định này mang tính chất tâm lý xã hội vì đây là trọng tâm của công tác xã hội.

Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, nhân viên xã hội làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới là tạm thời.

Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong tiến trình giải quyết vấn đề cho thân chủ. Nếu nhân viên xã hội đánh giá chẩn đoán đúng vấn đề mà thân chủ đang gặp phải thì công tác trợ giúp cho thân chủ sẽ được thuận tiện hơn và có thể nhanh hơn.

5.  Lập kế hoạch giải quyết vấn đề (kế hoạch trị liệu).

Ở đây nhân viên xã hội xác định loại hỗ trợ sẽ cung ứng cho đối tượng, cách can thiệp mà chúng ta cho rằng là tốt nhất cho đối tượng. Giai đoạn này gồm việc xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích. Càng nhiều càng tốt đây là một sự chung sức của nhân viên xã hội và đối tượng vì chính bản thân trẻ là người phải tạo ra những thay đổi cần thiết với sự hỗ trợ của nhân viên xã hội. Sự chọn lựa mục đích cuối cùng phụ thuộc vào:

+  Điều bản thân trẻ mong muốn.

+  Điều mà nhân viên xã hội cho là cần thiết, khả thi.

+  Và các yếu tố liên hệ như có hay không có các dịch vụ, tài nguyên cần thiết.

Từ gốc độ của nhân viên xã hội có 3 yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách trị liệu: tính chất của vấn đề, các tài nguyên cần thiết và năng lực của đối tượng. Các nhân tố khác có thể ảnh hưởng đến việc chọn lựa mục đích và mục tiêu là các giá trị của đối tượng, cách mà trẻ đánh giá vấn đề và hệ lụy của nó. Các mục tiêu cụ thể là những đáp ứng cho các nguyên nhân và nhân tố đã liên kết đã tạo ra tình huống có vấn đề.

Khi xây dựng kế hoạch thì nhân viên xã hội cần lưu ý: cần sắp xếp các thứ tự quan trọng, công việc nào cần thực hiện trước công việc nào thực hiện sau, cần cân nhắc các yếu tố và khả năng và điều kiện hỗ trợ cho phép thực hiện và cần nhắc các giá trị nguyên tắc, đạo đức thực thi nghề nghiệp. Cũng cần phải đưa ra các giải pháp khác nhau để lựa chọn giải pháp tốt nhất và dự phòng giải pháp khác khi có sự thay đổi đột xuất. Cần lưu ý các yếu tố như thời gian, địa điểm, tài chính… Xác định phương pháp theo dõi trong tiến trình công việc.

Dưới đây là một mẫu kế hoạch can thiệp giúp cho trẻ bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

Stt

Mục tiêu

(Hoạt động)

Thời gian

Địa điểm

Hoạt động

Người thực hiện

Kết quả mong đợi

Bắt đầu

Kết thúc

1

2

3

4

Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng chính vì vậy đòi hỏi nhân viên xã hội cần phải có những kỹ năng cần thiết như:

+  Xắp xếp nhu cầu,

+  Phân tích đánh giá,

+ Xây dựng và lập kế hoạch,….

6. Thực hiện kế hoạch (can thiệp/trị liệu).

Chính là tổng hợp các hoạt động và dịch vụ nhằm vào việc giúp đỡ cá nhân có vấn đề. Đó là giải tỏa hay giải quyết một số vấn đề trước mắt và điều chỉnh những khó khăn với sự công nhận và tham gia của đối tượng. Có khi mục tiêu chỉ là giữ không cho tình huống trở nên xấu hơn, giữ vững hiện trạng, giữ mức độ hoạt động tâm lý xã hội của đối tượng thông qua các hỗ trợ vật chất và tâm lý. Một cách đặc thù, mục tiêu của trị liệu gồm:

+  Thay đổi hay cải thiện hoàn cảnh của thân chủ bằng cách đưa vào các tài nguyên như giúp đỡ tài chính; Và/hoặc thay đổi môi trường như đưa đứa trẻ nơi an toàn khác hoặc cải thiện các mối quan hệ gia đình, các dịch vụ tại cộng đồng.

+  Giúp trẻ thay đổi cảm xúc, thái độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mặt.

+  Thực hiện cả 2 cùng lúc.

Làm như thế nhân viên xã hội có thể sử dụng một cách tiếp cận hay liên kết 3 cách.

+  Cung cấp một dịch vụ cụ thể.

+  Cải tạo môi trường và trị liệu trực tiếp mà ngày nay người ta gọi là tham vấn. Tham vấn cá nhân được sử dụng một mình nó như một cách trị liệu hay kết hợp với một cách tiếp cận khác.

Tham vấn là một loạt vấn đàm mà nhân viên xã hội thực hiện với đối tượng. Mục đích của Tham vấn là củng cố các thái độ có lợi cho sự gìn giữ cân bằng về tình cảm, cho các quyết định xây dựng, cho sự tăng trưởng và đổi mới. Tham vấn cũng nhằm vào hoàn cảnh trước mắt cần được giải quyết. Mục đích của nó là vận động sự tham gia ý thức của đối tượng trong việc xử lý các vấn đề xã hội và sự thích nghi xã hội.

Công cụ của trị liệu là mối quan hệ nhân viên xã hội với đối tượng, vấn đàm, triển khai các tài nguyên xã hội, vật chất, áp dụng chính sách và tài nguyên của cơ quan xã hội và nối kết với các tài nguyên của cơ quan và cộng đồng khác.

Khả năng đáp ứng của đối tượng đối với tiến trình trị liệu sẽ phụ thuộc vào tâm - thể trạng của bản thân trẻ, nhân cách đã được hấp thụ dần dần từ một nền văn hóa đặc biệt của trẻ, sự tự ý thức về bản thân của trẻ và các tài nguyên và cơ hội trẻ có thể có.

Trị liệu phải hướng vào và dựa trên gia đình. Vấn đề nên được xem như vấn đề của gia đình khi thấy phù hợp. Vào thành viên trong gia đình có thể là nhân tố đóng góp vào vấn đề hay ngược lại có người có những khả năng mà nhân viên xã hội có thể huy động để giải quyết vấn đề.

Vai trò của nhân viên xã hội là người định hướng, hỗ trợ, đánh giá, phản ánh lại với đối tượng những thay đổi, những cái mà đối tượng đã làm được, đồng thời chính là chỗ dựa tinh thần động viên trẻ, khuyến khích trẻ thực hiện các hoạt động, đặc biệt là lúc trẻ gặp khó khăn. Một nguyên tắc tối kỵ là nhân viên xã hội không được làm thay, làm hộ cho trẻ, cần phải để trẻ tự làm, tự vượt qua những thử thách và khó khăn đấy.

Những cản trở, khó khăn ở giai đoạn này là rất nhiều, do vậy đòi hỏi nhân viên xã hội cần phải phát huy tối đa những kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn của mình để hỗ trợ có hiệu quả nhất cho trẻ. Những kỹ năng cần thiết của nhân viên xã hội trong giai đoạn này:

+  Kỹ năng quan sát, giám sát.

+  Kỹ năng lắng nghe, tham vấn, vấn đàm.

+  Kỹ năng hoạch định, lôi cuốn, thu hút sự tham gia…

7.   Lượng giá.

Là động tác nhằm xác định xem sự can thiệp của nhân viên xã hội hay trị liệu có đem lại kết quả mong muốn không. Lượng giá được thực hiện thỉnh thoảng trong quá trình trị liệu để giúp đối tượng tự mình xem cuộc trị liệu có giúp gì cho anh ta không. Kết quả lượng giá sẽ nêu lên nhu cầu sửa đổi hay thích nghi. Lượng giá cũng giúp nhân viên xã hội xác định xem mục đích mục tiêu đề ra đạt được đến mức nào để điều chỉnh trị liệu.

Chỉ có thể lượng giá tốt khi các mục tiêu được xác định rõ ràng và có thể đo đạt trên cơ sở thông tin được thu thập hoàn chỉnh nhất. Ngoài ra, nhân viên xã hội, đối tượng và những người cùng giúp đỡ khác (ví dụ như bác sĩ, nhà tâm lý) phải cùng tham gia việc lượng giá khi cần thiết.

Việc lượng giá sẽ chỉ ra nên tiếp tục hay chấm dứt trị liệu:

+  Nên tiếp tục trị liệu khi các cuộc lượng giá định kỳ cho thấy có sự tiến bộ hay thay đổi nào đó. Nếu không có gì thay đổi hay thay đổi chậm có thể nên thay đổi phương pháp; nếu có những thông tin mới hay nhân viên xã hội có những suy nghĩ mới, thì nên bổ sung các phương thức trị liệu.

+  Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ nhân viên xã hội – thân chủ và đóng hồ sơ. Người ta chấm dứt khi dịch vụ của cơ quan đã hoàn tất, mục đích đạt được, hoặc đối tượng được chuyển đến một cơ quan khác và sự hiện diện của nhân viên xã hội không còn cần thiết. Đối tượng có thể muốn chấm dứt hay nhân viên xã hội nghĩ rằng tiếp tục cũng không đạt được thêm kết quả nào.

Có những trường hợp can thiệp trong cơn khủng khoảng thì không cần kéo dài thời gian. Trường hợp có liên quan đến vấn đề tâm lý xã hội thì cần nhiều thời gian hơn. Trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích thường chịu nhiều hậu quả nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần, có những trẻ sau khi bị tai nạn dẫn tới bị sang chấn tâm lý do sốc, không chịu được sự mất mát của cơ thể/ người thân,… nên nhân viên xã hội nhất thiết cần có nhiều thơi gian, công sức để làm việc, trị liệu giúp trẻ.

III. CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI THIÊN TAI VÀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH

1. Khái niệm, mục đích của công tác xã hội nhóm.

a. Khái niệm:

Nhóm là một cộng đồng có từ hai người trở lên, giữa họ một sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình hoạt động chung.

Nhóm xã hội là một khái niệm rộng và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo các nhà xã hội học “Nhóm xã hội là một tập hợp của những cá nhân được gắn kết với nhau bởi những mục đích nhất định. Những cá nhân có những hoạt động chung với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau nhằm đạt được mục đích cho mọi thành viên”. (Từ điển Xã hội học phương Tây hiện đại, Đavưdop chủ biên, bản tiếng Nga, 1990).

Công tác xã hội nhóm là quá trình cán bộ xã hội giúp đỡ các thành viên trong nhóm tác động lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm nhằm giúp thay đổi hành vi, tăng cường khả năng đáp ứ ng nhu cầu và giải quyết vấn đề.

Hoặc một khái niệm khác về công tác xã hội nhóm đó là một phương pháp can thiệp của công tác xã hội, trong đó các thành viên trong nhóm chia sẻ những quan mối tâm hay những vấn đề chung sinh hoạt và tham gia vào các hoạt động của nhóm nhằm đạt được mục đích chung của họ.

Công tác xã hội hội nhóm với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích theo chúng tôi đó chính là phương pháp công tác xã hội nhằm giúp cho nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích vượt qua được những khó khăn, trở ngại mà các em đang gặp phải qua đó phát huy tiềm năng, hòa nhập công đồng.

b. Mục đích:

Công tác xã hội nhóm tạo ra môi trường tương tác cá nhân trong nhóm và sự tự tin trong giao tiếp, khả năng hợp tác, làm việc nhóm của các thành viên qua đó giúp các cá nhân phát triển, học hỏi và hàn gắn những tổn thương, vì vậy, tài liệu này xin giới thiệu một số mục đích của công tác xã hội nhóm theo tác giả Klein (1972) như:

Phòng ngừa: Chính là việc dự đoán những khó khăn trước khi xẩy ra vấn đề và cung cấp cho đối tượng những giải pháp cần thiết để phòng tránh và đáp ứng nhu cầu của con người. Ví dụ như việc trang bị cho nhóm trẻ em những kiến thức, kỹ năng về phòng tránh bởi hậu quả của thiên tai và các tai nạn thương tích: Bơi lội, an toàn giao thông, phòng tránh bỏng hay bị ngộ độc, vật sắc nhọn,…

Phục hồi: Là quá trình khôi phục năng lực/chức năng xã hội cho đối tượng giống như trước đây. Chính là quá trình hỗ trợ cho trẻ em có đủ năng lực, sức mạnh để giải quyết những khó khăn, vấn đề đang nảy sinh về tâm lý, tình cảm, hành vi hay thái độ của trẻ. Ví dụ như: Nhóm trẻ em ở những vùng hạy chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt thì các em phải chịu đựng cảnh đau thương, tan tác của cộng đồng, gia đình, bạn bè hay chính trẻ,… những thứ này tác động trực tiếp tới trẻ làm cho trẻ bị tổn thương về mặt tâm sinh lý, đôi khi trẻ mất đi khả năng nhạy bén thông thường, mất đi khả năng giao tiếp, trẻ bị sốc, bị sang chấn tâm lý chính vì vậy, công tác xã hội nhóm sẽ giúp cho trẻ được tham gia chia sẻ, có them sự tự tin và có thể hòa nhập trở lại được với cộng đồng.

Thay đổi/chỉnh sửa: chính là quá trình giúp đỡ cho trẻ em thay đổi lại những hành vi lệch chuẩn xã hội, vi phạm pháp luật. Ví dụ như: Nhóm trẻ em bị tai nạn giao thông, nguyên nhân có thể xuất phát từ các em không hiểu biết về luật giao thông đường bộ nên khi tham gia giao thông các em gây ra tai nạn/ một số em có hành vi cố trình vi phạm luật giao thông đường bộ. Công tác xã hội nhóm tham gia vào quá trình giáo dục kỹ kiến thức giao thông đường bộ và kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động nhóm để giúp các em hiểu và thay đổi hành vi của mình.

Ngoài ra còn có một số mục đích khác nữa như: xã hội hóa, hành động xã hội. giải quyết vấn đề và các giá trị xã hội. Tất cả những mục đích này đều hướng tới việc trao quyền và tăng năng lực cho trẻ và giúp trẻ giải quyết được vấn đề một cách hiệu quả nhất.

2. Quy trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai và tai nạn thương tích.

Tiến trình công tác xã hội nhóm là quá trình tương tác hỗ trợ giữa các thành viên trong nhóm, ở đó diễn ra các hoạt động chuyên môn nhằm hỗ trợ cho đối tượng đạt được mục đích, mục tiêu đề ra và tăng cường năng lực cho đối tượng. Có nhiều nguồn tài liệu khác nhau tì đưa ra những bước, giai đoạn khác nhau, mỗi cách phân chia thể hiện cách nhìn nhận, cách tiếp cận khác nhau của mỗi tác giả, ở tài liệu này chúng tôi đưa ra tiến trình ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị; giai đoạn tiến hành sinh hoạt nhóm và giai đoạn kết thúc.

a. Giai đoạn chuẩn bị.

Đây là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình công tác xã hội với nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiê