Nhượng Tống Nam Đồng thư xã
Trong vòng nhiều năm cho tới nay, muốn tìm hiểu về Nam Đồng thư xã, tài liệu khả tín nhất là cuốn sách này của Nhượng Tống:
(Nguyễn Thái Học (1902-1930), Việt Nam thư xã, 1945, xuất bản nhân dịp kỷ niệm 15 năm vụ Yên Bái; tác phẩm này về sau đã có vài lần tái bản)
Sở dĩ nói cuốn sách khả tín là vì tác giả là Nhượng Tống, vừa là thành viên sáng lập Nam Đồng thư xã vừa là thành viên sáng lập Việt Nam Quốc dân đảng (trong khi đó, Nguyễn Thái Học không phải thành viên sáng lập Nam Đồng thư xã).
Chương IV cuốn sách mang tên "Nam Đồng thư xã" cho biết Nam Đồng thư xã "lập nên vào cuối năm 1926", vì "trình độ trí thức của dân mình còn thấp kém quá! Đại đa số người dân không có một chút gì là công dân giáo dục", thế nên tôn chỉ của Nam Đồng thư xã là "dậy cho người ta biết thương đồng bào, biết yêu Tổ quốc, biết thế nào là quyền lợi và nghĩa vụ của một người công dân. Sau nữa, giúp cho ai nấy có đôi chút thường thức về các khoa chính trị, như kinh tế học, xã hội học, các hiến pháp, các chủ nghĩa".
Cái dở là Nhượng Tống không nói rõ Nam Đồng thư xã từng in những sách gì. Sau này hình như cũng chưa có một ai, một công trình nghiên cứu nào làm cái công việc là liệt kê đầu sách của Nam Đồng thư xã.
Nam Đồng thư xã chắc chắn không in nhiều sách, tất cả sách của Nam Đồng thư xã đều rất mỏng. Thực chất, Nam Đồng thư xã chỉ tồn tại từ cuối năm 1926 cho tới cuối năm 1927, thời điểm thành lập Việt Nam Quốc dân đảng. Nam Đồng thư xã dường như cũng không hẳn là một nhà xuất bản đúng nghĩa, in ấn ở nhiều nơi (ví dụ Trưng Vương. Thế giới đệ nhất nữ anh hùng của Nhượng Tống in tại Kim Khuê ấn quán hay bộ Tân Hán in ở Long Quang ấn quán); có lẽ các sách có dòng "Nam Đồng thư xã" khi chúng có sự tham gia của các thành viên trong nhóm hoặc những người gần gũi.
Ở "bên rìa" của Nam Đồng thư xã còn phải tính đến một số tác phẩm của Nhượng Tống có niên đại trong khoảng 1926-1928, ví dụ như bộ Gương ái quốc (hai tập) về Phan Chu Trinh in năm 1926, đề "Minh Trân xuất bản xã", in tại nhà in Chân Phương (đặc biệt trong sách thông báo sẽ in bộ Tiểu truyện và học thuyết Tôn Văn có lẽ chính là Tiểu sử và học thuyết Tôn Dật Tiên của Nam Đồng thư xã sau này - mấy bộ về Tôn Dật Tiên này tôi còn chưa nhìn thấy tận mắt); hoặc nữa, bản dịch Dưới hoa (tức Ngọc Lê Hồn của Từ Chẩm Á), in tại Long Quang ấn quán và còn liên quan đến một "cơ sở xuất bản" nữa là "Trúc Khê thư cục".
Còn đây là một tác phẩm của Trần Huy Liệu thuộc hệ thống Nam Đồng thư xã, in năm 1927, đây cũng chính là format bìa sách đặc trưng của Nam Đồng thư xã (lưu ý: sách in ở Sài Gòn):
Cuốn Một bầu tâm sự này có một hậu thân cũng dài dòng:
Phan Khôi, trên tờ Đông Pháp thời báo số 714 (1/5/1928) viết bài "Mấy cái quái trong sách và báo ta" chỉ trích Một bầu tâm sự của Trần Huy Liệu ở quan niệm cho rằng Gia Long từng sai hoàng tử Cảnh đi cầu cứu nước Pháp để đánh nhau với Tây Sơn và đã được Pháp giúp người và vũ khí.
Rồi sau đó là vài bài nữa trên báo đôi co giữa Trần Huy Liệu và Phan Khôi (và như nhiều lần khác, Phan Khôi lại thắng thế).
Danh mục ấn phẩm đã xuất bản của NĐTX đây bác.
- Gương thiếu niên: thứ I, II, III, IV, V - Dật Công, Mộng Tiên (Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm) dịch (1926-1927 - 5 fasc. 73 p. ; 0$10 mỗi cuốn)
- Sóng hồ Ba Bể - Thuần Phong Phạm Bùi Cầm (1926 - 2 fasc. 147p. ; 0$50) (Impr. Nguyên Hàn)
- Tiểu sử và học thuyết Tôn Dật Tiên (1927, In lần thứ 2 - 34 p. ; 0$10)
- Tiểu sử và học thuyết Tôn Dật Tiên (1928, In lần thứ 3 - 30 p. ; 0$10)
- Tân Hán: thứ I, II, III, IV - Thạch Bằng dịch (1926 - 4 fasc. 97 p. ; 0$10 mỗi cuốn), truyện cách mạng nước Tàu (Long Quang ấn quán)
- Gương thành bại (sách bị cấm không được bán ở địa hạt Bắc Kỳ)
- Trưng Vương, cuốn thứ I, II - Nhượng Tống (1927 - 2 fasc. 39 p. 70 p. ; 0$10 mỗi cuốn), thế giới đệ nhất nữ anh hùng (Kim Khuê ấn quán)
- Một bầu tâm sự - Trần Huy Liệu (1927 - 41 p. ; 0$30) (Impr Bảo Tồn)
Jan 23, 2015
Nhượng Tống: Nam Hoa Kinh
Ai từng dành thời gian đọc về Nhượng Tống đều biết Nhượng Tống hâm mộ Kim Thánh Thán đến thế nào và qua đó mà vô cùng hâm mộ "lục tài tử". Dần dần tôi bỗng nhận ra: hình như trong cuộc đời ngắn ngủi của mình Nhượng Tống đã thực sự dịch cả "lục tài tử". Hiện nay ta mới biết chắc chắn công sức và thành tựu của Nhượng Tống ở Ly Tao thơ Đỗ Phủ, Mái Tây, Nam Hoa Kinh và Sử ký Tư Mã Thiên (một phần nhỏ), nhưng rất nhiều khả năng Nhượng Tống ít nhất có tham gia một phần trong một công trình dịch Thủy hử.
Ngoài ra dịch giả Nhượng Tống còn có các công trình: Thượng thư, Lam Sơn thực lục, Đại Việt sử ký toàn thư, Ngọc lê hồn (Từ Chẩm Á, dưới cái tên Dưới hoa), một số tác phẩm lẻ khác (và có thể cả Đạo đức kinh, Hồng lâu mộng và nhiều công sức đối với Ức Trai thi tập).
Trong số đó, bản Nam Hoa Kinh do nhà Tân Việt ấn hành năm 1944 (theo một số thông tin đương thời tin cậy được thì bản dịch này chỉ in 300 bản) đã thực sự trở thành một huyền thoại.
Theo thống kê của vài nhân vật trong giới sưu tầm :p thì hiện nay mới xác định được 7 quyển Nam Hoa Kinh này.
Đây là hai trong số đó :
Ngày 8/9/1949, Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân chết ở Hà Nội.
Hôm sau, đám tang Nhượng Tống được tổ chức.
Người đọc điếu văn là ông cử Ngô Thúc Địch, bài điếu văn như dưới đây.
-----------
Thưa các Cụ, các Bà, các Ông, nhân danh là một bạn đồng chí cũ của bạn Nhượng Tống, tôi xin thay mặt tang gia và các anh em đồng chí cảm tạ các ngài đã không quản khó nhọc, quá bộ đi đưa người bạn không may của chúng tôi đến nơi yên nghỉ cuối cùng này.
Sau nữa, xin phép các ngài cho tôi nói một lời với bạn Nhượng Tống trước khi vĩnh biệt.
Anh Nhượng Tống,
Còn nhớ lúc sinh thời, trong những khi trò chuyện, anh thường bảo “sắt máu phải là cái chết lý tưởng của con người chí khí”. Vì thế, đã bao lần anh đã dấn thân vào vòng sắt máu, mà sắt máu hình như vẫn chưa có duyên với anh. Cho nên hai mươi năm trước đây, anh Học [Nguyễn Thái Học], anh Nhu [Nguyễn Khắc Nhu], và bao đồng chí khác chết mà anh vẫn còn, rồi anh Nghiệp [Đoàn Trần Nghiệp], anh Sơn [Nguyễn Ngọc Sơn?] chết mà anh lại vẫn còn.
Nhưng đối với sự may mắn ấy, anh thường hình như không lấy làm mãn túc, cho nên anh sống đấy mà lúc nào cũng có vẻ bâng khuâng, như hẹn hò, như chờ đợi, mà đối với các lời khuyên anh nên thận trọng về sự an toàn, anh chỉ trả lời bằng một nụ cười vơ vẩn. Thì đây, giời đã chiều anh, đã mượn sắt máu để giúp anh kết liễu một cuộc đời chán chường vì tranh đấu.
Chắc thế là anh đã hả lòng, vì anh xuống cửu nguyên, anh sẽ không ngượng ngùng khi gặp các anh em đồng chí, mà đối với họ, anh vẫn hình như tự thẹn là kẻ chạy làng, lỗi hẹn.
Vậy ngoài sự thương tiếc thường tình, riêng đối với thân thế anh, chúng tôi có nên buồn cho anh, hay trái lại chúng tôi lại nên mừng cho anh?
Huống chi trước giờ phút này không những riêng quốc gia ta, mà cả nhân loại đang đứng vào một cảnh ngộ bấp bông [sic], nhìn về tương lai đầy đe dọa, sống đã chắc gì yên, chết có khi là thoát rủi, chưa chắc đáng buồn, may chưa chắc đáng vui, thì đối với người đạt giả, những sự sống chết rủi may, đâu đáng làm cho mình buồn tẻ hay hả hê, vui cười hay sùi sụt.
Nay tuy âm dương cách biệt, chúng tôi vẫn tưởng tượng anh với cái chí khí khảng khái lúc sinh thời và chúc anh ở dưới cửu nguyên yên hưởng giấc nghỉ ngơi của người quân tử đã làm tròn phận sự.
Thôi, xin thân ái chào anh lần cuối cùng.
Câu chuyện nhỏ này có ý nghĩa ở chỗ: các nhân vật chính trong đó, Hồ Hữu Tường, Tạ Thu Thâu, Lê Văn Văng và Nhượng Tống đều đã thực sự bị lãng quên. Người đồng chí thân thiết của Tạ Thu Thâu là Phan Văn Hùm có sự xuất hiện trở lại kín đáo, nhưng bốn con người kia thì gần như mất hút. Đây là một phần của câu chuyện về những con người đảng phái ở Việt Nam.
Trong khi đó, Lê Văn Văng là yếu nhân của Tân Việt, một nhà xuất bản vô cùng quan trọng vào quãng sát năm 1945, còn Nhượng Tống, người từng cùng sát cánh bên Phạm Tuấn Tài và là yếu nhân của Quốc Dân đảng, là một bậc kỳ tài thiên hạ xưa nay hiếm.
Nhượng Tống đặc biệt ưa thích Kim Thánh Thán và trong tổng số "lục tài tử" của Kim Thánh Thán, Nhượng Tống đã dịch đến năm tác phẩm, chỉ sót Thủy hử.
Câu chuyện có thể bắt đầu với lời nhận xét sau đây của Nguyễn Tôn Nhan:
"Người tiêu biểu và đáng kể nhất là Nhượng Tống, một dịch giả uyên bác và tài hoa, các bản dịch Ly tao, Tây sương ký… của ông ta đến bây giờ vẫn là mẫu mực, chưa ai có thể dịch hay hơn. Ngay cả Đào Duy Anh, khi dịch Sở từ của Khuất Nguyên, đến bài Ly tao thì cũng lấy lại bản dịch của Nhượng Tống để in vào sách, đề tên N.T. dịch, xem như phần tham khảo chính".
Điều này chính xác. Bản Sở Từ mà Nguyễn Tôn Nhan nhắc đến là của Đào Duy Anh và Nguyễn Sĩ Lâm, in năm 1974:
Chi tiết mà Nguyễn Tôn Nhan nhắc đến nằm ở đây:
Còn đây là đoạn đầu bản dịch Ly Tao của Đào Duy Anh (trong bản dịch này, từ đệm không còn là "chừ" như ở Nhượng Tống hay "hề" như ở một số nhà thơ Việt Nam, mà là "a"):
Trong sách, Đào Duy Anh (cũng là một con người đảng phái - từng là yếu nhân của Tân Việt đảng), cũng đưa vào "tham khảo" bản dịch "Thiệp Giang" của Phan Kế Bính.
Bản dịch Ly Tao của Nhượng Tống đã in ở nhà Tân Việt đúng 30 năm trước đó, năm 1944:
Đây quả là một bản dịch tuyệt vời (sau này một vài bản dịch của Nhượng Tống cũng có được in lại, ví dụ Mái Tây Vương Thực Phủ).
Trong Sở Từ, bản Ly Tao Nhượng Tống có một số sai sót về sao chép, ví dụ:
hai câu rất hay "Đời đều bè đảng gian tà/Một mình ta nói, nói mà ai nghe" bị đổi thành "Đời toàn bè đảng gian tà/Một mình ta nói, nói là ai nghe" khá ngớ ngẩn
Điều rất buồn cười xảy ra khi Nhượng Tống dịch Ly Tao được ông kể lại trong "Cùng bạn đọc": "Tôi rất tiếc bộ sách thường gối đầu giường của tôi ấy ngày nay lại lạc mất! Đến nay, khi tôi muốn dịch Ly Tao thì cái bản chính phải dùng đến lại là một bản viết, mượn của người ta, mà dán lại nhấm nát mất hai bài Thiên Vấn và Đại Chiêu".
Trong Sở Từ có thiên "Thiên Vấn" (Nguyễn Sĩ Lâm dịch) nhưng cũng chẳng thấy Đại Chiêu đâu.
Đọc thiên "Quốc Thương" mà Nhượng Tống dịch, tôi có cảm giác như đây là Iliad của Trung Quốc vậy:
Mặc giáp dày chừ, nắm mác tốt
Xe xít bánh chừ, gươm ngắn tuốt
Cờ rợp trời chừ, giặc như mây
Quân đua tiến chừ, tên mưa bay
Trận đánh xát chừ hàng rối bời
Này ngựa chết chừ, quất bốn ngựa
Giật dùi ngọc chừ thúc trống rữ
Thần linh giận chừ, trời chẳng tựa
Đầy đồng hoang chừ, chết tứa bựa
Tiến chẳng lui chừ, đi chẳng về
Trông nước cũ chừ đường xa ghê
Lưng đeo kiếm chừ, tay cắp cung
Đầu tuy rơi chừ dạ chẳng chùng
Thật hăng hái chừ thật can đảm
Lấn hiếp nhau chừ chuyện không xong
Thân đã chết chừ, thần phải thiêng
Hồn vía ma chừ, vẫn anh hùng
Nói chung, toàn văn Ly Tao Nhượng Tống có thể đọc trên mạng. Tôi chỉ còn thắc mắc tại sao Hoàng Phạm Trân lại lấy bút hiệu là "Nhượng Tống". Tôi từng nghe một câu chuyện giả thuyết về cái bút hiệu này, nhưng chưa tìm được tài liệu chứng minh.
Nhượng Tống là một trong những nhân vật kiệt xuất của Việt Nam bị lịch sử đối xử quá mức bất công. Dưới đây là các tác phẩm chính của Nhượng Tống (hình ảnh của bạn VHT):
còn dưới đây là hình ảnh của anh HTN:
AnonymousJul 9, 2013, 5:44:00 PM
Nói chuyện "gở". Đã "gở" thì không giải thích theo lý trí được. Như chuyện mở cái bầu hồ-lô, đụng tới "cơ trời" ắt phải có hậu quả khó lường...
Nhượng Tống chỉ bàn về chuyện người, đây là Thánh Thán thôi, cũng đủ sinh chuyện. Trong Lời giới thiệu Sử Ký, ông viết về Kim Thánh Thán:
"... văn học giới đã không đủ chỗ để chứa cái tâm hồn to tát ấy.
Thấy việc nước nát bét vì bọn quan lại tham tàn, ông liền theo phái Thanh Nghị đem ba tấc lưỡi nói chuyện văn chương mà nói chuyện Triều Đình! Và vẫn một tinh thần cứng cáp và tinh ranh, ông phê văn nghiệt ngã chừng nào thì ông chửi đời cũng chua cay từng ấy! Rồi, sau bao năm lăn lóc, một khi thấy việc đời chửi cũng không thể chuyển được như là cười hoặc khóc; một khi thấy cây bút trong tay mình là bất lực, ông liền quăng nó đi mà cầm lấy cây gươm! Chuyện đó có thực, hay do phe địch bịa đặt ra? Cái án ấy cũng ngờ như cái án Cao Bá Quát nước ta. Và cũng như ông Cao Bá Quát, đầu Thánh Thán đã rơi dưới cái tội danh phản đối triều đình! Nhà văn học cách mạng đã chết trong một việc chính trị cách mạng!"
Quả nhiên nhà văn học cách mạng Nhượng Tống cũng chết vì đã làm chính trị cách mạng. Một buổi sáng, tháng 11, 1949, Ông bị một tay sát nhân bắn vào đầu ở Chợ Hôm, khi được gọi đi chữa bệnh (ông làm thầy thuốc Bắc).
Ai giết Nhượng Tống cho đến nay cũng chưa thể biết đích xác, ít nhất không phe nào nhận trách nhiệm, cũng như đến ngày hôm này không ai nhận trách nhiệm đã giết Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu... Người ta vẫn gọi phe Taliban là bọn khủng bố, nhưng ít ra phe Taliban còn có can đảm nhận trách nhiệm cho phần lớn điều mình làm!
Reply
Trường hợp Phạm Quỳnh tuy có nhiều giả thiết, không khẳng định chính xác người hạ thủ, nhưng do lệnh trên, do tòa án xử, hay do dân quân địa phương manh động thì vẫn là Việt Minh chịu trách nhiệm. Điều này chính quyền VN hiện nay cũng không phủ nhận, chỉ là không tung hô rầm rộ nữa.
Cuốn "Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX", mục về Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng có một dòng: "Đến Cách mạng Tháng Tám 1945 chính quyền nhân dân khép án tử hình!"
( http://www.tienphong.vn/van-nghe/28469/Nhung-uan-khuc-trong-cuoc-doi-ong-chu-bao-Nam-Phong-ky-cuoi.html )
Reply
"Lược truyện các tác gia Việt Nam" tập 2, mục Phạm Quỳnh ghi rõ: "Trong những ngày đầu tổng khởi nghĩa thắng lợi, tháng 8 năm 1945, chính quyền nhân dân cách mạng đã xử tử Phạm Quỳnh."
(Lược truyện..., tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà-Nội, 1972, trang 138)
Ngay cả theo quan điểm thời đó thì cuốn Lược truyện trên cũng rất bất công với Nhượng Tống, khi chỉ ghi nhận: "Trong thời gian Hà-nội bị tạm chiếm, Nhượng Tống có tham gia một đảng phái phản động. Vì mâu thuẫn quyền lợi, Nhượng Tống bị một đảng viên đảng phản động khác ám sát và chết ở Hà-nội cuối năm 1948." (Sđd, trang 151) mà không hề nhắc tới ông đã tham gia Việt Nam quốc dân đảng từ trước Khởi nghĩa Yên Bái, tức giai đoạn mà chính quyền vẫn công nhận VNQDĐ là "yêu nước".
Reply
AnonymousJul 10, 2013, 4:21:00 AM
Thật ra mọi vụ xử tử đó đều có nhân chứng, kể cả trường hợp Khái Hưng, nên khó mà chối tội (hay "công"?).
Mà cũng không chỉ những đối thủ chính trị, dù chỉ là "có khả năng" đối địch, chứ không còn hoạt động (Phạm Quỳnh đã tuyên bố từ bỏ chính trị, trở về nghề viết lách, từ khi Nhật đảo chính Pháp, tháng Ba, 1945).
Sau ngày Tổng khởi nghĩa, 12/1946, vợ con của nhà văn Nhất Linh đã đi theo người anh thứ Hai của NL, tên Nguyễn Tường Cẩm, về quê vợ của bác Cẩm lánh nạn, cũng đã bị "du kích" đến bắt đi (thủ tiêu). Giữa đường nhờ có máy bay của "địch" đến pháo kích, du kích tìm chỗ ẩn núp, nên vợ con của Nhất Linh chạy thoát, nhưng ông Nguyễn Tường Cẩm - người chưa bao giờ làm văn hóa hay chính trị - đã không thoát lưới tử thần. Nhân chứng là Nguyễn Tường Thiết, con út của NL, đã kể lại hình như trong cuốn hồi ký "Nhất Linh, Cha tôi" (có online trên diễn đàn talawas, bộ cũ).
Reply
Nguyễn Mạnh SơnJul 28, 2013, 11:06:00 AM
Em thực sự thích các bản dịch của Nhượng Tống. Trên cả tuyệt vời. Nhất là bản dịch Thượng Thư
Reply
UnknownMay 14, 2016, 2:18:00 AM
hiện tại em đang làm khóa luận về Nhượng Tống và 2 bản dịch Ly tao, Mái tây của ông. Tuy nhiên thông tin mà em có được không nhiều nên rất khó khăn trong việc viết. Thêm vào đó, vì Nhượng Tống bị cái án oan là phản động nên nếu lỡ tay viết nhiều thông tin liên quan đến chính trị trong cuộc đời của Nhượng Tống thì rất có thể em sẽ bị kỉ luật. vậy nên, em viết vài dòng này mong muốn nhận được thêm thông tin hữu ích và chính xác từ chị cùng với những người có hiểu biết khác ạ. Mong nhận được hồi âm của mọi người. Mail em là : nguyenhoaitrinh94tb@gmail.com . em xin chân thành cảm ơn ạ
Reply
Cuối cùng, cuốn tiểu thuyết Lan Hữu đã trở lại:
Tôi đã tưởng hôm qua, mồng 8 tháng Chín, đúng chính xác ngày Nhượng Tống qua đời (vào cái năm 1949 u uất ấy), đã phải có Lan Hữu. Nhưng sự lận đận đeo đuổi Nhượng Tống suốt cuộc đời và mãi cả sau đó vẫn chưa chịu buông tha. Vẫn bị lệch mất một ngày.
Cuối năm ngoái, buổi tọa đàm về văn nghiệp Nhượng Tống mà tôi tổ chức nhận được tin phải bãi bỏ chỉ năm ba hôm trước ngày dự kiến. Sau khi loay hoay, biết là không ăn thua, tôi cam tâm thúc thủ, và mang Lan Hữu đi giới thiệu với mấy cơ sở xuất bản. Tất cả đều từ chối hoặc không trả lời. Tôi đã biết Nhượng Tống nghĩa là lận đận nên kiên nhẫn tiếp tục. Với tôi, Nhượng Tống chỉ thực sự trở lại khi Lan Hữu trở lại. Tác phẩm đầu tiên của Nhượng Tống mà tôi làm phải là Lan Hữu, không thể là một cuốn nào khác. Lan Hữu là cuộc đời Nhượng Tống, còn hơn thế nữa, đó là thần phách của Nhượng Tống. Không có Lan Hữu thì tức là cái sự "thần phách lạc hình hài" (Đinh Hùng) vẫn cứ tiếp diễn. Tôi quan tâm đến toàn bộ văn nghiệp của Nhượng Tống, nhưng thần phách của Nhượng Tống, như Nhượng Tống thể hiện ra với tôi, nằm trong Lan Hữu.
"Sự lận đận của Nhượng Tống" còn hiện ra dưới hình thức này: cái lần rất hiếm hoi Nhượng Tống có chỗ trong một bộ sách lưu danh hậu thế là Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (cũng là lúc Vũ Ngọc Phan bình luận về Lan Hữu), thì quyển sách (tập cuối cùng, tức là quyển tư hạ), mặc dù đã viết xong từ lâu, được in trong cái năm 1945 nháo nhào, nên Nhượng Tống ở trong đó mờ mịt như thế này:
Vừa muốn giậm chân bứt tóc, thậm chí phát khóc, tôi lại vừa muốn phá lên cười vì một ông Nhượng Tống lận đận đến từng chi tiết, từng sự kiện.
Cuối cùng, đã có một cơ sở xuất bản nhận in Lan Hữu, với một sự hào hứng đặc biệt và sự thấu hiểu giá trị văn chương của cuốn tiểu thuyết ấy. Địa chỉ trang web ở đây và fanpage ở đây.
Nỗi lận đận đeo đẳng đến mức, lẽ ra Lan Hữu phải xong từ vài hôm rồi, thì lại gặp đúng cái thời điểm các nhà in ở Hà Nội chỉ chăm chăm in một thứ gì đó rất ngớ ngẩn, lại bị lần lữa, muộn hẹn đủ thứ, và rồi rốt cuộc nó đã đến đúng vào một ngày Hà Nội mưa bão.
Ông Nhượng Tống, tài tình đến thế mà trầm luân thì tới vậy, sao không nhường bớt cho người khác một ít nỗi uất hận, sự lận đận mà cứ ôm hết vào mình như thế (Tả hận từng phen quăng ngọn bút/Thêu sầu xin chớ mượn đường kim - thơ Nhượng Tống)? Tôi lần theo dấu chân ông mà lắm lúc thấy như mọi nỗi oan khuất, bi phẫn cứ tìm cả đến ông, ông cũng nhiều phen làm tôi lạnh hết cả sống lưng. Nhưng tôi tin là tôi hiểu đúng ý muốn của ông, rằng Lan Hữu, phần thần phách đậm đà hơn hết của ông, phải trở lại. Thần phách của ông là hoa, là ngọc, người ta cần phải nhìn vào đó, chứ những thứ khác xét cho cùng đâu có đại diện được cho con người ông. Mới có ba phần tư thế kỷ trôi qua thôi, kể từ ngày ông cho in Lan Hữu, bảo là dài thì dài, nghĩ rằng ngắn thì ngắn. Tôi vụng về viết một bài đề tựa cho Lan Hữu của ông, mong rằng ông hiểu tôi đã làm giống như ông năm xưa, đề tặng Phan Văn Hùm một cuốn sách, cho một người bạn không quen. Coi như là chút đồng thanh khí giữa những kẻ văn chương.
Khu vườn của Nhượng Tống
Năm 1940, đúng mười lăm năm sau khi Song An Hoàng Ngọc Phách cho xuất bản Tố Tâm, Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân in Lan Hữu ở nhà xuất bản Lê Cường, Hà Nội, với “Lời tựa” của Lưu Trọng Lư. Giờ đây nhìn lại, ta chỉ có thể kinh ngạc khi thấy hai cuốn tiểu thuyết gần nhau đến thế về nhiều mặt lại có số phận khác nhau đến vậy.
Cách tồn tại của Nhượng Tống ở trong hậu thế rất giống một nhà văn lớn khác cùng thời: Khái Hưng. Sau này cả hai vẫn sẽ được biết đến, nhưng chủ yếu là theo lối phiến diện. Văn nghiệp của Nhượng Tống thường chỉ được nhìn nhận qua các bản dịch (những bản dịch tuyệt vời như Nam Hoa kinh, Thơ Đỗ Phủ, Mái Tây tức Tây sương ký… nhưng cả ở mảng này người ta cũng ít biết Nhượng Tống còn dịch Ngọc Lê Hồn một cách trác tuyệt, chưa kể nhiều dịch phẩm khác nữa), trong khi ông còn là một nhà thơ, một tiểu thuyết gia tài năng. Về phần Khái Hưng người ta chỉ biết đến Hồn bướm mơ tiên hay Nửa chừng xuân và một số tác phẩm khác, trong khi Băn khoăn, cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, in năm 1943[1][1], mới thực sự là một kiệt tác. Rất có thể, toàn bộ mảng văn xuôi đồ sộ của văn chương tiền chiến Việt Nam chỉ có ba tiểu thuyết thực sự lớn, là Tố Tâm, Lan Hữu và Băn khoăn. Trong bộ ba ấy, chỉ mình Tố Tâm có được số phận tương đối xứng đáng với giá trị của mình.
Nhưng lịch sử văn chương là câu chuyện của các giá trị, nếu không thì ta sẽ không có lịch sử văn chương. Cả Tố Tâm, Lan Hữu và Băn khoăn đều là những câu chuyện tình. Tố Tâm đã quá nổi tiếng với cốt truyện bi thảm của nó, Lan Hữu là cái nhìn đầy thương xót nhưng không kém phần tỉnh táo của một người trưởng thành nhớ lại mối tình xưa, còn Băn khoăn, với những câu chuyện tình ái lắt léo của nó, là cuốn tiểu thuyết Việt Nam xứng đáng nhất, và rất có thể cũng là duy nhất, của một giai đoạn suy đồi.
Một cuốn tiểu thuyết được coi là lớn, là “giá trị” một cách toàn diện nhất, khi bên trong nó chứa đựng những điều kỳ diệu, giống như hạt mầm giấu kín ở đâu đó, sẽ hồi sinh và nảy nở mãnh liệt khi gặp được môi trường phù hợp và xứng đáng. Tố Tâm đã có một số phận như vậy, và giờ đã đến lúc chúng ta cần trả về đúng vị trí một tác phẩm khác, không kém phần kỳ diệu - Lan Hữu của Nhượng Tống. Đến nay, ngoài lần ra mắt năm 1940, nó mới chỉ tái xuất một lần duy nhất, tại nhà xuất bản Á Châu (Hà Nội) đầu thập niên 50, vài năm sau khi Nhượng Tống qua đời.
Lan Hữu có thể được đọc trên ba phương diện: vì nó thuật lại rất trung thực một quãng đời tác giả, đây chính là một tài liệu quan trọng góp cho việc tìm hiểu tiểu sử Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, một tiểu sử mới chỉ được biết đến sơ sài, với rất nhiều chi tiết nhầm lẫn. Vì gia cảnh, Nhượng Tống phải bỏ học rất sớm vào năm mười tám tuổi, sau khi thân phụ qua đời (người cha bất đắc chí, tuy từng là “thủ khoa thành Nam”, nhưng giữa một thời kỳ lịch sử u tối, đã chán chường mà chết: cái chết này được thuật lại rất cặn kẽ trong Lan Hữu). Vụ việc liên quan đến mấy mẫu đất gây thiệt hại lớn cho gia đình Nhượng Tống cũng được kể lại trong Lan Hữu. Đặc biệt, tác giả viết rất chuẩn xác về dòng dõi của mình: “nối dõi cái mạch thư hương của nhà tôi, truyền từ đời Lê cho đến bấy giờ”. Nhượng Tống thuộc một gia đình rất thành đạt về học vấn suốt nhiều thế hệ, tiền nhân của ông từng là thầy dạy hai nhân vật lớn của “thành Nam” là Nguyễn Khuyến và Trần Bích San.
Nhượng Tống bộc lộ tài năng văn chương rất sớm, mười sáu tuổi đã có bài đăng trên Khai Hóa (tờ báo của nhà tư sản Bạch Thái Bưởi), đúng như trong Lan Hữu có kể. Sự nghiệp báo chí của Nhượng Tống còn dài: vài năm sau Khai Hóa là đến giai đoạn cộng tác với tờ Thực nghiệp dân báo với yếu nhân Mai Du Lân; ngay sau đó, ông sẽ cùng vài người bạn lập ra Nam Đồng thư xã, in một số sách, tài liệu. Nhượng Tống là thành viên sáng lập của Việt Nam Quốc dân đảng, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học; vì được Nguyễn Thái Học giao nhiệm vụ ở Huế năm 1929 rồi bị mật thám Pháp bắt nên Nhượng Tống tình cờ mà thoát khỏi chuỗi án tử hình đẫm máu của thực dân đầu thập niên 30, trong đó chấn động hơn cả là “vụ Yên Bái”, khi những người đồng chí thân thiết của ông như Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính bỏ mình dưới lưỡi dao máy chém. Thoát chết nhưng Nhượng Tống phải chịu cảnh tù đày ở Côn Đảo (trong Lan Hữu cũng có lúc ông ám chỉ chuyện này: “đày tôi ra Côn Đảo ba năm, tôi không sợ bằng đày tôi cửa chùa Thiên Trù suốt ba tháng hội”) và tiếp theo là những năm dài bị quản thúc ở quê, định kỳ phải ra Phủ Lý trình diện mật thám. Nhượng Tống còn viết báo thêm vài năm từ sau 1945, ở các tờ như Chính nghĩa, Thời sự… Ông mất năm 1949 ở Hà Nội.
(Trong các tài liệu tra cứu phổ biến nhất hiện nay, ta thường đọc ở tiểu sử Nhượng Tống hai chi tiết: sinh năm 1897 và được thả từ Côn Đảo về năm 1936; hai chi tiết này đều sai, vì Nhượng Tống tuổi Bính Ngọ, sinh năm 1906 và sau các sự kiện của Việt Nam Quốc dân đảng, Nhượng Tống được thả khỏi Côn Đảo trước 1936 nhiều, bởi trước đó mấy năm ông đã lấy vợ ở quê nhà Ý Yên; các chi tiết này hiện nay đều còn lại văn bản để kiểm chứng.)[2][2]
Trong Lan Hữu, Nhượng Tống buộc lòng phải giấu đi nhiều chi tiết để tránh kiểm duyệt của chính quyền (thế nhưng vẫn bị kiểm duyệt bỏ thêm nhiều chỗ). Chí khí cách mạng của ông có lẽ thể hiện đậm nét hơn cả trong Lan Hữu ở đoạn luận thơ với cha và bác (người bác thích Lý Bạch, người cha nhiều phẫn uất lại thích Lục Du); khi được hỏi, cậu bé Ngọc nhận là mình thích nhất thơ Đỗ Phủ, bởi: thơ ấy gồm “biết bao nhiêu bài tả những cảnh huống khổ nhục của đám dân nghèo. Mỗi khi con đọc, lại thấy như có đám người khố rách, áo ôm ấy kêu khóc ở bên tai, mà trong lòng thì uất ức muốn đứng phắt dậy… Thơ như thế mới thật là ‘khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán’.” Câu chuyện này cũng được Nhượng Tống kể lại bằng thơ, bài thơ ấy dùng làm lời tựa cho bản dịch Thơ Đỗ Phủ in năm 1944, sau Lan Hữu bốn năm; đoạn đầu của bài thơ như sau:
Tôi biết đọc thơ từ thuở nhỏ
Trong thơ thích riêng thơ Đỗ Phủ.
Một hôm thầy tôi hỏi: “Tại sao?”
Đứng dậy chắp tay tôi sẽ ngỏ
Rằng: “Tại thơ ông là đời ông:
Lạ, đẹp, hùng tráng mọi vẻ đủ,
Mà còn chan chứa một lòng thương
Những kẻ nghèo nàn, phường xấu số.
Vì tấm lòng ấy nên nhiều khi
Đối với quan lại với vua chúa
Ông thường chê trách, thường mỉa mai,
Không thèm nịnh hót, không xu phụ.
Ngoài một thiên tài hiếm có ra,
Ông còn một tâm hồn hiếm có…”
Nghe xong, thầy tôi gật đầu cười
Dạy rằng: “Ồ! mày thật con bố!
Thế nhưng bất lợi ở thời này!
Rồi đó xem: Đời mày sẽ khổ!”
Lan Hữu lại có thể được đọc như một sự “chuyển dịch cốt truyện” Hồng Lâu Mộng vào khung cảnh Việt Nam, với hai điều rất dễ thấy: đại quan viên của Vinh phủ trong Hồng Lâu Mộng được chuyển về tỉnh Thái Bình, trong khi mối tình tay ba Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa được tái hiện trong mối quan hệ của (Lương) Ngọc, (Mai) Hữu và Lan.
Nhượng Tống chọn cho nhân vật của mình cái tên “Ngọc” với rất nhiều chủ ý. Nó rất gần với tên thật của ông nhưng ngay lập tức cũng gợi đến Giả Bảo Ngọc, và Ngọc của Lan Hữu cũng mau chóng nhắc thẳng tới Hồng Lâu Mộng (thông qua Thạch đầu ký), và cụ thể hơn, bài thơ “Khóc hoa” nổi tiếng mà Ngọc dùng để dò xem Hữu có yêu mình hay không.
(Lan Hữu, qua chuyện Ngọc dịch “Táng hoa từ”, nhắc ta nhớ đến Nhượng Tống trong vai trò một dịch giả kiệt xuất. Giai đoạn rực rỡ nhất của sự nghiệp dịch thuật Nhượng Tống là mấy năm trước 1945, chủ yếu in ở nhà xuất bản Tân Việt với ông chủ Lê Văn Văng là một người thân tình với ông. Tính riêng “Lục tài tử thư” do Kim Thánh Thán bình chọn, ông đã dịch ít nhất năm: Ly Tao, Thơ Đỗ Phủ, Nam Hoa kinh, Mái Tây (Tây sương ký), Sử ký. Có tài liệu cho biết Nhượng Tống từng dịch cả Hồng Lâu Mộng, Đạo đức kinh, thậm chí cả cuốn thứ sáu của “Lục tài tử thư” là Thủy hử. Trước đó, cuối thập niên 20, ông cũng đã dịch Ngọc Lê Hồn của Từ Chẩm Á với nhan đề tiếng Việt Dưới hoa cùng một số tác phẩm nhỏ khác. Riêng năm 1945, ông in ít nhất ba cuốn sách: Nguyễn Thái Học, Tân Việt Cách mệnh đảng và Hỗ trợ. Thảo luận - đây là thời điểm Nhượng Tống chứng tỏ vai trò sử gia và nhà bình luận chính trị-xã hội của mình. Từ 1945, Nhượng Tống còn viết vài vở kịch, dịch một ít Liêu Trai chí dị và tác phẩm Hương ngọc[3][3]; dùng bút danh Mạc Bảo Thần để dịch Đại Việt sử ký toàn thư và Lam Sơn thực lục. Ông còn giúp Thi Nham Đinh Gia Thuyết hiệu chỉnh và dịch thêm Ức Trai tập - tác phẩm mới chỉ ở dạng bản thảo. Trước tác của Nhượng Tống còn rải rác trong một số tuyển tập giờ đây ít người được biết đến như Tản văn mới của “Thư viện Tố Như” trước 1945; thơ của ông từng được Trúc Khê Ngô Văn Triện bình luận trên Văn học tạp chí và xuất hiện không ít trong Thi thoại của Văn Hạc Lê Văn Hòe in năm 1942; một nhà phê bình văn học nổi tiếng từng bình luận về văn chương Nhượng Tống là Vũ Ngọc Phan miêu tả văn chương ấy “tài hoa lãng mạn”.)
Bởi vì trước hết là những bông hoa: “Nguyên từ bé tôi đã có tính yêu hoa”, ngay ở đầu cuốn sách, Nhượng Tống đã viết như vậy. Lan là tên một loài hoa, còn Hữu có tên đầy đủ là “Mai Hữu”, cũng liên quan đến một loài hoa khác (ngay câu chuyện tình với hai cô gái trong đó một là họ hàng cũng từng xảy ra trong đời thật Nhượng Tống). Tình yêu hoa xuất phát từ tình yêu đối với người ông qua đời năm Ngọc mười bốn tuổi, một người rất gắn bó với cậu bé trong một thời gian dài: “ngoài sự sợ, tôi cũng yêu ông tôi và yêu cả những cây hoa mà ông tôi yêu. Là vì ông tôi yêu thứ hoa nào, lại cắt nghĩa cho tôi biết tại sao mà ông tôi yêu. Và tôi khi ấy, ông tôi nói gì tôi cũng cho là phải cả. Những khi tôi theo ông tôi ra vườn, lại được nghe ông tôi kể cho nghe các chuyện cổ tích về hoa. Nào chuyện Võ Tắc Thiên bắt hoa đi đày, nào chuyện Đường Minh Hoàng giục hoa phải nở. Nào vô số những chuyện hoa hóa ra người, người hóa ra hoa. Nghe nhiều những chuyện ấy, tôi thành ra coi các hoa trong vườn đều là những người bạn có cảm giác như tôi, chỉ kém tôi cái biết đi và biết nói”. Nhiều khi ta tưởng như tình của Ngọc nồng nàn nhất là với các loài hoa, thậm chí còn hơn tình của Ngọc với Lan và Hữu; để tang cuộc tình suốt mấy năm trời, Ngọc đặt trước ảnh họ lọ hoa để thờ, và những câu văn đẹp nhất trong Lan Hữu là dành cho hoa: “Dưới trăng, các cây hoa hiện ra trước mắt tôi như những mặt bạn thân, vắng mấy ngày mới lại gặp”, hoặc khi gặp lại Hữu trên Phú Thọ: “Dưới ánh trăng tà, các cây hoa trồng trong các chậu in bóng cành bóng lá xuống đầy sân. Tôi ước ao lại được cùng Hữu ngồi đôi nói chuyện ở giữa cảnh vườn xuân”.
Mối sầu tình của Ngọc trong Lan Hữu cũng có yếu tố họ hàng như cuộc tình duyên bi lụy của Hồng Lâu Mộng. Hoa và tình, nhưng cũng thêm cả mộng nữa: ít có tiểu thuyết Việt Nam nào tả mộng nhiều và hay như Lan Hữu. Về sau, cuộc tình không còn là thực nữa, chỉ là mộng mà thôi: “Trong mộng, tôi với họ cùng sống cuộc đời êm ái năm xưa. Trong mộng, nhan sắc của họ càng thêm rực rỡ, câu chuyện của họ càng thêm thơ ngây”. Lan Hữu “viết lại” Hồng Lâu Mộng theo một cách thức chưa từng có, không khỏi làm ta liên hệ tới những gì mà Nguyễn Du từng làm với Kiều.
Và tất nhiên, trước hết, Lan Hữu cần được đọc cho chính nó, với chính nó. Câu chuyện của Lan Hữu rất ý vị và không hề đơn giản. Nó lại được viết một cách hết sức chín chắn, bởi con mắt hồi cố của một người đã trải đời nhìn lại tuổi hoa niên thơ mộng. Ngọc không phải là Đạm Thủy của Tố Tâm, vì Ngọc ý thức rất rõ sự phi lý của tình duyên, thậm chí đến cả tính chất vớ vẩn của những mối tình thơ trẻ. Nhưng vẫn có đó nỗi ngậm ngùi khôn nguôi: “Tuy trong khi yêu ấy tôi đã tốn bao nước mắt, bao tiếng thở dài, cùng chịu bao mối cảm xúc mệt người, năm mười sáu tuổi, tôi nhìn lại vẫn là một năm có hạnh phúc”; hạnh phúc ở tuổi mười sáu là điều được Nhượng Tống nêu lên ngay từ đầu Lan Hữu, và sẽ được lặp lại nhiều lần trong suốt tác phẩm. Khởi đi là nỗi bàng hoàng của tình yêu đầu đời, càng bàng hoàng hơn vì nhận ra cùng một lúc mình yêu cả hai người con gái: “Tôi bắt đầu cảm thấy cuộc đời phiền phức vô cùng”, và nảy sinh một khát vọng rất trẻ con: “Người tôi yêu chẳng phải là người tri kỷ, mà người tri kỷ lại chẳng phải là người tôi yêu! Tôi ước ao có thể hợp cả Lan lẫn Hữu làm một người”. Hữu, cô em họ, xuất hiện trước, đó là mối tình đầu tiên, nên khi có thêm Lan, thoạt tiên với Ngọc, tình cảnh là: “Vướng có Lan, tôi mất cả tự do yêu Hữu”, nhưng dần dần Ngọc nhận ra Lan có những điều mà Hữu không hề có, “[h]uống chi Lan yêu tôi có khi còn hơn Hữu: Lan còn biết thương cái tài của tôi nữa. Ở đời, được một người yêu mình, biết mình cũng khó lắm chứ!” Không chỉ là bạn thanh khí với Ngọc, Lan còn là tri kỷ, lại có một tấm lòng yêu tưởng chừng như mù quáng; Lan cũng là một con người quyết liệt, như thể sẵn sàng chống đối mọi ràng buộc gia đình, xã hội để được yêu Ngọc. Trước mối cuồng tình như vậy, một cậu bé mười sáu tuổi đầy nhút nhát khó có thể thoát được mảnh lưới đã buông, cho đến lúc phải bật ra ý nghĩ: “tôi vẫn tin ái tình chuyên nhất mới thật là ái tình, mà nay tôi tự trông thấy trái tim tôi chia đôi cho Lan và Hữu”.
Nhìn lại một cách tỉnh táo, pha rất nhiều “vỡ mộng”, nhưng tài năng tiểu thuyết của Nhượng Tống nằm ở chỗ ông vẫn thổi được vào câu chuyện lẽ ra không mấy đặc sắc một tấm màn vi diệu của tình cảm, của lòng thành thực yêu mến tuổi trẻ; giọng văn đầy tiết chế, nhiều khi lạnh lùng, thiên hẳn về hướng phân tích, lại càng làm nổi bật lên một tâm hồn yêu đương nồng cháy, lẫn vào với những dằn vặt nội tâm không ngừng, thậm chí còn nhiều khi đi tới chỗ tự khinh bỉ chính mình. Tâm hồn ấy cũng có thể rất lạ: khi mới đến một khu vườn mới, thỏa lòng mong mỏi được kề cận với những bông hoa, trong lòng Ngọc nảy ra một ý nghĩ: “Thiếu giai nhân, tôi đành mong được gặp hồ, gặp quỷ như những anh chàng nào trong truyện Liêu Trai”. Cái tâm hồn Á Đông đa tình trộn lẫn với huyền hoặc này, thỉnh thoảng ta mới thấy, một cách kỳ diệu, ở một số tác phẩm văn chương Việt Nam, chẳng hạn như khi Đinh Hùng viết những câu thơ:
Có những bông hoa, tiền thân là thiếu nữ
Những mùi hương rạo rực hiện hình người
Hương công chúa và men say hoàng tử
Cánh bướm thời gian treo võng tóc buông lơi
Lan Hữu là cả một bầu trời huyền hoặc của tình tuổi trẻ được Nhượng Tống, sau khi đã thấm thía rằng “đời là một cuộc đổi thay, muôn sự, muôn vật ở trên đời, nào có cái gì là vĩnh viễn”, thuật lại một cách kỳ diệu. Dẫu câu chuyện này, đúng như Lưu Trọng Lư đã nhìn ra khi viết lời tựa cho bản in 1940, là chuyện mà ai cũng có, ai cũng giấu đâu đó trong ngóc ngách ký ức mình, thì cách kể của Nhượng Tống, bởi nó thu gom được những tinh túy của Hồng Lâu Mộng lẫn những gì mà chỉ mình tâm hồn Nhượng Tống mới có, vẫn còn gây rung động mãnh liệt ở độc giả sau đến ba phần tư thế kỷ.
Lan Hữu chính là một khu vườn, khu vườn ngôn từ của nhà nghệ sĩ Nhượng Tống, cho đến giờ vẫn không hề cũ kỹ, thậm chí còn mới mẻ đến bất ngờ, và đó cũng là một khu vườn hoa, nhưng là một khu vườn không hề tầm thường, nơi in dấu hạnh phúc và cũng chứa đựng biết bao nhiêu thương xót của một dĩ vãng: “Kìa cảnh vườn hoa, tôi không dám bước chân ra nữa: Đấy là nơi nghĩa địa đã vùi xương [cái “tôi” mơ mộng và sung sướng]”. Khu vườn ấy xứng đáng được những tâm hồn đồng điệu viếng thăm với lòng ngưỡng mộ chân thành.
Lại nhắc lại này :p thời tiền chiến văn chương Việt Nam, chỉ có ba cuốn tiểu thuyết lớn, là Tố Tâm, Lan Hữu và Băn khoăn.
Dưới đây là chương thứ hai Lan Hữu của Nhượng Tống (cả cuốn tiểu thuyết gồm 19 chương).
Trong một diễn biến khác, tiểu thuyết về thời niên thiếu của Lệnh Hồ Nhị Linh vẫn tiếp tục đăng, trong ngày hôm nay sẽ có thêm một chương đậm màu võ hiệp kỳ tình nhất từ trước tới nay :p
II
Năm ấy, tôi đã được yêu Mai Hữu. Nhưng trước đó, tôi đã được yêu hoa, và cả yêu tiểu thuyết nữa. Tôi đã nói tôi thích hoa và thích tiểu thuyết đến mực nào.
Khi ấy, tôi đã không cần phải học lối “khổ sai” nữa. Tôi đã có nhiều thì giờ rỗi. Thứ Năm, Chủ nhật, tôi đã được nghỉ, được chơi. Theo tính thích của tôi, các trò tiêu khiển cho tôi không gì bằng ra vườn hoa của chú tôi mà thẩn thơ, cùng mượn tiểu thuyết của chú tôi mà đọc. Lần mượn đầu tiên, tôi phải năn nỉ xin chú tôi đừng cho thầy tôi biết. Vì theo ý thầy tôi, thì tôi cần phải lúc nào cũng dán đôi con mắt vào những sách vở mà nhà trường dạy. Còn bao nhiêu thứ có thể cho tôi vui một chút, thầy tôi đều cho là “ngoạn vật táng chí”[1]. Cũng bởi thế mà tôi không dám đọc tiểu thuyết ở trong nhà. Tôi phải đọc vụng ở ngoài vườn hoa. Nhiều khi đọc mải, dưới bóng trăng tôi cũng cố mà nhìn cho ra những chữ lí tí trong những sách in bằng thạch bản. Cái đó, sau này có kết quả trong đời tôi: mắt tôi bây giờ gần như cận thị.
Tâm hồn tôi lúc nhỏ rất lãng mạn và rất giàu thi vị. Nó khảng khái sau khi đọc các chuyện nghĩa hiệp; nó hăng hái sau khi đọc các chuyện anh hùng; nó nhàn nhã, nhẹ nhàng, sau khi đọc các chuyện ẩn dật, thần tiên. Từ khi về ở với thầy, mẹ tôi, ròng rã hơn một năm trời, nó bị cái thực tại buồn tẻ, thấp hèn đuổi lạc đi xa lắc! Thay vào nó, óc tôi phải chứa một tâm hồn khác: tâm hồn một đứa trẻ cố lăn lóc chạy theo một mục đích thiết thực, mục đích kiếm ăn! Nhưng khi ấy thì hoa và tiểu thuyết lại gọi cái hồn thơ của tôi tỉnh lại một, đôi phần. Dù vậy, nó không còn là cái hồn xưa, sau khi tôi đọc những chuyện anh hùng, nghĩa hiệp, ẩn dật, thần tiên. Mười sáu tuổi trên đầu, tôi chỉ còn cái hồn thơ khao khát, mơ màng, sau khi tôi đọc những chuyện giai nhân, tài tử… Trong vườn hoa, cuốn tiểu thuyết đã gấp bỏ túi, tôi ngồi, đứng bơ thờ mà nhìn cảnh vật. Dăm ba con bướm, cánh sặc sỡ, xập xòe lượn quanh, hay lẩy bẩy đậu trên mấy đóa hoa hồng. Một con oanh véo von lên tiếng hót, ẩn mình trong bóng liễu thướt tha. Đàn chim khuyên vừa gọi nhau, vừa bay, nhảy tìm sâu trên các cành đào, cành mận. Hay là: trong làn gió hiu hiu, một mùi hương của một thứ hoa nào bay thoáng. Dưới bóng trăng vàng, mát, bóng cành, bóng lá một bụi trúc, một bụi trúc đào, in lại mặt tường, vẽ lên một bức tranh thủy mặc… Trong những lúc ấy, hồn thơ của tôi lại hiện ra và chiếm lấy cả người tôi. Nó man mác. Nó bồi hồi. Nó như muốn bay liệng theo đàn bướm; ca hát theo tiếng chim; lay động lả lơi theo các bông hoa, tàu lá. Tôi khao khát. Tôi mơ màng. Tôi thấy vườn hoa ấy thật đáng là vườn tình của một cặp giai nhân, tài tử. Tôi điên cuồng mà tự cho mình cũng là một tay tài tử. Nhưng… tìm đâu cho thấy giai nhân? Nhiều khi tôi ngồi một mình ở trong vườn cho mãi đến canh khuya. Thiếu giai nhân, tôi đành mong được gặp hồ, gặp quỷ như những anh chàng nào trong truyện “Liêu Trai”. Nhưng hồ với quỷ hình như chỉ cười thầm tôi điên dại. Chứ không hề cảm đến tấm si tình của tôi. Tôi mong, tôi đợi đến thế nào, cũng không hề được gặp!
Ấy thế rồi có một hôm, tôi tìm thấy giai nhân của tôi ở trong người Mai Hữu…
Hữu kém tôi hai tuổi và học dưới tôi một lớp. Từ khi về Thái, tôi với Hữu là bạn học chung đèn. Chú tôi dặn Hữu: “Có chỗ không hiểu, con hỏi anh”. Ban đầu còn lạ, nhưng vài, ba hôm chúng tôi đã thân nhau. Tuy vậy, nếu trí nhớ tôi không nhầm, tình thân của tôi đối với Hữu ban đầu chỉ là tình thân của đôi anh, em họ. Nhưng sau đêm mồng mười tháng Hai năm ấy - cái đêm không bao giờ tôi quên được - thì tôi nhìn Hữu không còn là người trong họ nữa, mà là người trong lý tưởng tôi…
Trước đấy luôn mấy hôm, trời gió bấc và mưa phùn. Đến hôm ấy, trời “bật nắng lên” cái nắng ấm áp của mùa xuân. Vì hôm sau là thứ Năm, tôi không phải làm cái khổ dịch học bài để sớm mai vào đọc trong trường. Buổi tối đến, tôi ra ngồi trên một tấm ghế đá đặt ở trong vườn mà chờ hồ, đợi quỷ… Dưới trăng, các cây hoa hiện ra trước mắt tôi như những mặt bạn thân, vắng mấy ngày mới lại gặp. Cúi nhìn bóng hoa dưới đất, tôi chợt nhớ mấy câu thơ Kiếm Nam[2]:
Trăng sáng nhuộm sân ngoài.
Ngồi rù, ngại bước chơi.
Phải đâu mình sợ lạnh:
E giẫm bóng hoa mai!
Gió hây hây thổi. Mấy làn mây mỏng theo nhau chạy lướt dưới vầng trăng, làm cho ánh trăng khi tỏ, khi mờ. Tôi ngẩng lên nhìn vầng trăng ở giữa các lớp mây, thấy như một con thuyền đương thuận gió chạy nhanh ở giữa vùng bể sóng. Tôi bỗng ước ao được ngồi con thuyền ấy đi khắp bốn phương trời để tìm người trong ý. Tôi mơ màng đến những cô tiên đa tình trong các chuyện đời xưa. Chợt trong làn gió nhẹ, tôi thoáng thấy có mùi nước hoa. Tôi nhận ngay ra là mùi nước hoa xức tóc của Hữu sau mỗi khi gội đầu. Tôi kinh ngạc, không hiểu tại sao mùi thơm quen ấy bấy giờ lại làm cho lòng tôi nảy ra một cảm giác lạ. Lòng tôi thấy bồi hồi hơi rạo rực. Tôi ngảnh lại thì Hữu đã bước đến bên cạnh. Dưới ánh trăng, khuôn mặt trái xoan của Hữu, in trên mớ tóc đen nhánh bỏ xõa xuống hai vai, tôn thêm vì bộ quần áo trắng mặc ngoài, tôi thấy đẹp hơn ban ngày nhiều lắm. Lòng tôi lại càng động. Trong khi ấy thì Hữu đã hỏi tôi:
- Anh ra đây lúc nào thế?
Tôi ôn tồn đáp:
- Anh vừa ra, em ngồi xuống đây.
Hữu ngồi xuống bên tôi, cười cười, nói nói những chuyện không đầu, không đuôi. Tôi nghe mà không hiểu. Tôi đã để cả tinh thần mà nhìn Hữu. Trong lòng thì có cái cảm như khi tôi hôn một đứa trẻ sạch sẽ, xinh xắn: muốn ôm chầm lấy, cắn một miệng má mà nuốt đi cho thỏa lòng yêu!… Hữu bỗng cười to và nói to:
- Ô kìa! Ừ là thế nào, anh? Em hỏi bóng anh đâu kia mà?
Tôi như người chợt tỉnh, cười chỉ cái bóng mà rằng:
- Kia chứ đâu!
- Không phải rồi! Bóng em đấy chứ!
Thực ra thì Hữu ngồi cạnh tôi, dưới ánh trăng soi chếch, bóng Hữu và bóng tôi đã nhập làm một. Tôi lại cười:
- Thế ra anh không có bóng! Thôi! Anh là ma quách rồi: chỉ có ma mới không có bóng!
- Đừng nói thế, em sợ. Vừa kêu thế, Hữu vừa nắm chặt lấy cánh tay tôi và ngồi dịch lại gần tôi. Trong người tôi, thấy một mối cảm kỳ dị, êm ái như thế nào, không sao nói ra được, chúng tôi ngồi yên lặng dưới trăng.
Ngay lúc ấy, xa nghe có tiếng trẻ cười nói. Mấy đứa em tôi, và em Hữu đã từ trong buồng học chạy ra vườn. Có đông người, Hữu rủ chơi trò “chi vi”. Tôi và các em ưng ý ngay. Hữu liền xòe một bàn tay ra, cho chúng đặt mỗi đứa một ngón tay trỏ vào. Rồi Hữu bắt đầu đọc:
“Chi vi chành chành. Cái đanh thổi lửa…”
Tôi cố tình để chậm ngón tay, cho Hữu “hập” phải. Rồi ngồi xuống ghế cho Hữu lấy hai bàn tay mà bịt mắt tôi. Khi các em đã đi ẩn xong, Hữu mới buông tôi ra mà đi ẩn sau cùng. Trước khi buông, Hữu không quên giao hẹn với tôi phải nhắm mắt cho đến lúc nào nghe tiếng Hữu “hú tim”. Và sau khi buông tôi, Hữu cũng không quên vừa cười vừa thề với lại câu: “Ai mà ti hí, chuột chí cắn mắt đấy!” Y lời hẹn, tôi nhắm mắt ngồi cho mãi đến lúc nghe tiếng “hú tim” vang bốn phía, mới đứng dậy đi tìm từng đứa em một. Rồi trong lòng tôi thấy nhẹ vui sung sướng, trong khi đến bên bụi nhài, nắm cánh tay Hữu mà lôi Hữu ra ở dưới khóm hoa…
Chúng tôi chơi đương lúc náo nức thì người nhà ra gọi vào. Tôi bùi ngùi như khi xem một tích hát đương hay mà phải bỏ ghế đứng dậy. Vào trong nhà, trông thấy thầy, mẹ tôi, lòng tôi tự nhiên sinh ra hổ thẹn. Tôi hổ thẹn về những ý nghĩ của tôi khi ngồi đôi với Hữu. Tôi tự cho tôi là có tội. Nhưng khi vào giường nằm thì những ý nghĩ ấy lại theo bóng tối mà trở lại óc tôi. Tôi bỗng bực mình cho tôi sao không sinh ở những nước ngoài: những nước dù đôi con cô con cậu ruột cũng có thể lấy nhau được. Ở nước mình, con cô, con cậu ruột không lấy được nhau cái đó đã hẳn. Những cháu cô cháu cậu ruột có lấy được nhau không? Tôi sực nhớ muốn rõ điều đó, cần phải xem bộ hội điển Gia Long! Nhưng bộ sách ấy lại ở tận nhà quê, tôi có bay về mà xem ngay sao được! Lòng tôi bị ngờ vực vò xé. Thế rồi tôi cầm chừng như sự tôi yêu Hữu là phạm cấm. Cõi lòng tôi bỗng hóa một chiến trường mà quân địch đôi bên đương xô xát nhau kịch liệt: bên tình và bên lễ. Bất thình lình, tôi bỗng như thấy một ông thánh Tàu nào ghé tận tai tôi mà thét to cái “mạnh lệnh đích xác”: “Phát hồ tình, chỉ hồ lễ, nghĩa!”[3] Mạnh lệnh ấy đập vào óc tôi như một nhát roi điện. Chịu nhát roi ấy, quân bên tình núng thế, chịu thua. Tôi quyết lòng tuyệt giao với thằng giặc Tình, nếu nó dám đương đầu với ông chúa Lễ. Không phải tôi có yêu gì ông chúa chuyên chế ấy. Nhưng tôi sợ ông, vì ông có quyền lột hết danh dự tôi, có quyền ruồng đuổi tôi ra ngoài gia đình, ngoài xã hội. Bồ hôi trán tôi mướt ra, trong khi nghĩ đến rằng nếu tôi yêu Hữu, quả là trái lễ! Tôi thở dài mà than cho bao nhiêu hạnh phúc chịu hy sinh vì những mớ giấy lộn ở trong đời!
Mấy ngày hôm sau tôi những băn khoăn về cớ không biết tôi yêu Hữu có hợp lễ không! Tôi nhìn Hữu bằng đôi mắt buồn rầu. Mắt tôi càng thấy Hữu đáng yêu bao nhiêu, thì lòng tôi lại càng âm thầm đau đớn bấy nhiêu. Nhưng may sao! làn mây ngờ vực sau khi làm u ám cõi lòng tôi suốt mấy đêm ngày, vì một sự tình cờ, đã tan như lớp khói…
Trong một bữa cơm, thầy, mẹ tôi nói chuyện với nhau về một đám mới cưới mà đôi vợ, chồng là đôi cháu cô, cháu cậu ruột. Thầy tôi phàn nàn là: lấy nhau gần quá! Mẹ tôi thì nói bằng giọng mai mỉa:
- Thì “hoài chuồng trấu ta cho gà người bới” chứ sao!
Nghe xong câu chuyện ấy, lòng tôi hồi hộp nửa mừng, nửa lo. Cái cớ ấy, ai cũng có thể đoán mà biết được. Dù vậy, trí tôi cũng được một lúc nhẹ nhàng. Tôi đã tự đáp được một câu hỏi mà luôn mấy hôm, không mấy lúc là tôi không đem ra để tự hỏi. Trong xã hội đã có những đôi cháu cô, cháu cậu ruột chính thức lấy nhau, thì sự yêu nhau của những đôi ấy, cố nhiên là không trái lễ rồi. Nhưng chỉ trong giây lát, trong trí tôi lại nảy luôn ra hai câu hỏi nó làm cho tôi bối rối chẳng kém gì câu hỏi trước. Tôi tự hỏi: Nhưng Hữu có yêu mình hay không?
Nếu không, làm thế nào cho Hữu yêu mình? Cố nhiên tiếng “yêu” tôi nói đây không phải là chỉ lòng yêu nhau của anh em, mà là chỉ lòng yêu nhau của trai, gái, vợ, chồng. Tôi nào có cần gì đến lòng yêu anh em của Hữu! - Nói thế, tôi lại không khỏi tức mình cho loài người, trong việc đặt tiếng nói, nhiều khi tỏ ra hà tiện quá: bao nhiêu mối tình cảm khác nhau họ nỡ đem gói tròn cả vào trong một tiếng “yêu”!
[4][1] Kinh Thư: “Ngoạn nhân táng đức, ngoạn vật táng chí”.
[5][2] Bản Lê Cường 1940 in nhầm thành “Kiến Nam”. Nhượng Tống muốn nhắc tới nhà thơ Lục Du đời Tống; Lục Du sẽ còn xuất hiện thêm một lần nữa trong sách. Bài thơ trên đây dịch từ bài “Mai hoa tuyệt cú” (ta nên nhớ nhân vật Hữu tên đầy đủ là “Mai Hữu”) rút từ tập Kiếm Nam thi thảo của Lục Du, phiên âm tiếng Hán như sau:
Sơn nguyệt hạo trung đình
U nhân tửu sơ tỉnh
Bất thị kiếp thanh hàn
Sầu đạp mai hoa ảnh
[6][3] Ý nói dẫu có tình với người thì vẫn phải biết giữ lễ, nghĩa.
Nếu trước 1945 ở Việt Nam có một thiên tài văn chương đích thực, đúng nghĩa và trọn vẹn nhất, thì thiên tài ấy là Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân.
Không có đâu như ở Việt Nam, một thiên tài văn chương đã hoàn toàn vắng bóng khỏi văn học sử chính thống. Sau rất nhiều thập kỷ, Nhượng Tống đã gần như bị quên hẳn, một số người có nhắc đến thì hầu như xuất phát từ một sở thích đối với những thứ mờ ảo mà bản thân họ cũng chỉ biết lờ mờ, để tỏ vẻ lập dị, đặc biệt. Phê bình (critique) văn học của Việt Nam vô cùng gần với tội ác (crime) chính ở những trường hợp như thế này. Thật ra suốt gần một thế kỷ qua, các nhà phê bình đã làm gì?
Và văn học sử ấy, phê bình văn học ấy, lẽ dĩ nhiên, đặt vào vị trí trang trọng những nhân vật văn chương được xưng tụng nồng nhiệt nhưng lại mang giá trị văn chương rất vừa phải. Tôi đã nói nhiều đến bộ ba nhà văn chết trẻ, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, nhưng đâu chỉ có vậy: điện thờ của lịch sử văn chương Việt Nam còn dành chỗ cho những vĩ nhân rất không có gì nổi trội, ví dụ như Nguyễn Công Hoan. Hậu quả thấy tức thì ở các thế hệ sau: yên tâm là những văn chương như kiểu Nguyễn Công Hoan là rất giá trị, vài thế hệ sau sản sinh ra vô số nhà văn rất bình thường nhưng lại rất yên tâm về văn tài của mình, lại được tung hô không ít; danh sách này dài dằng dặc, mà tôi chỉ muốn kể tên một trường hợp rất điển hình: Ma Văn Kháng.
Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh có phân nửa là thơ ca tầm thường: đến bao giờ thì người ta mới chịu nghiêm túc nhìn nhận điều này? Và có những thiếu vắng rất lớn; Đinh Hùng là một, đó là thơ của thế hệ về sau, nhưng bản thân thơ của Nhượng Tống nữa: từng có hơn một người phàn nàn về việc Hoài Thanh đã không biết đường mà đưa thơ Nhượng Tống vào Thi nhân Việt Nam. Nhượng Tống là một thần tượng của "lớp trước", người mà Trúc Khê Ngô Văn Triện hay Văn Hạc Lê Văn Hòe từng dùng những dòng đẹp nhất để ca ngợi.
Những năm theo đuổi một ông Nhượng Tống khuất nẻo, nhiều lần tôi rùng mình trước sự quạnh quẽ, hoang vắng. Nhượng Tống không cần đến bất kỳ một sự vinh danh nào, vì đó lại còn là người Việt Nam thấu hiểu đạo của Trang Tử hơn bất kỳ ai khác. Nhưng cảm giác bất nhẫn của tôi cũng lớn như niềm ngưỡng mộ mà tôi dành cho văn nghiệp của Nhượng Tống. Mà lại cũng không chỉ là văn nghiệp: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp oanh liệt và chết đúng thời điểm, trở thành anh hùng dân tộc, nhưng người đồng đội thân thiết của họ là Nhượng Tống, bộ não của họ, tài năng của họ, thì cho tới giờ vẫn vất vưởng ở một bên lề mịt mùng bí mật. Trường hợp Khái Hưng rất tương tự, nhưng Khái Hưng ít nhất còn có bằng hữu sau này không nhiều thì ít, trong một giai đoạn, trả lại cho một phần tầm vóc đích thực.
Tôi thu lượm được không ít câu chuyện về Nhượng Tống, ở đây tôi sẽ chỉ kể những "dật sự" đã có thể kiểm chứng bằng văn bản. Tôi cũng chỉ muốn nói đến những mối quan hệ trong văn giới của Nhượng Tống. Văn chương Việt Nam nhìn chung là tệ hại, nhưng văn giới Việt Nam mới gọi là thê thảm, nhìn chung là thế; những câu chuyện đẹp trong văn giới liên quan đến Nhượng Tống chắc sẽ gỡ gạc được chút ít cho tiếng xấu chung, để ít nhất ta thấy có những tình bạn văn nhân đẹp đẽ. Những câu chuyện dưới đây sẽ liên quan đến ba con người.
Thứ nhất là Lê Văn Văng, "ông Tân Việt". Đầu thập niên 40, Nhượng Tống bắt đầu trở lại với sự nghiệp văn chương. Cả thập niên trước đó là hoạt động cách mạng, tù đày và quản thúc. Đây là thời kỳ thứ hai của văn nghiệp Nhượng Tống, thời kỳ thứ nhất là quãng giữa thập niên 20, giai đoạn của những "thư quán", "thư cục" và "ấn quán" như Long Quang, Chân Phương, Trúc Khê v.v... Đầu thập niên 40, Lê Văn Văng cũng hoạt động mạnh ở Hà Nội - giai đoạn Hà Nội này lọt vào giữa hai giai đoạn miền Nam của Lê Văn Văng. Phần lớn sách của Nhượng Tống giai đoạn này được in ở Tân Việt (mặc dù, Tân Việt hướng mạnh hơn sang các tác giả mới, lứa Đinh Hùng, Phiêu Linh Nguyễn Đức Chính và cả Tô Hoài nữa). Giữa Lê Văn Văng và Nhượng Tống có một tình cảm lớn hơn nhiều so với tình cảm giữa nhà xuất bản và tác giả thông thường.
Lê Văn Văng trở ngược vào Nam rất sớm, sau quãng 45-46. Người mà Lê Văn Văng rất muốn đưa theo là Nhượng Tống. Nhưng Nhượng Tống đã không đi. Khi Nhượng Tống qua đời năm 1949, Lê Văn Văng là người đã trợ giúp gia đình Nhượng Tống không ít, và sau này, chính nhờ nhà Tân Việt mà trước tác của Nhượng Tống còn sống thêm một quãng thời gian nữa; ta sẽ chủ yếu biết được về Nhượng Tống thông qua bước trung gian là Tân Việt của thời kỳ miền Nam.
Nhượng Tống ít tuổi hơn Khái Hưng và thuộc thế hệ Nhất Linh, nhưng lại ngả về hướng nho nhiều hơn là Pháp. Những người thân cận với Nhượng Tống chủ yếu là các nhà cách mạng và các nhà nho, nhưng Nhượng Tống lại có mối quan hệ bạn bè thân thiết với Lưu Trọng Lư, một nhà thơ lớp mới. Lưu Trọng Lư từng có bài viết kể mình về nhà Nhượng Tống (lúc này vẫn bị quản thúc ở quê) chơi như thế nào (Lưu Trọng Lư cũng suýt dính rắc rối với mật thám vì chuyện này). Gần đây, tôi xác định được thêm một điều nữa: Lưu Trọng Lư quen Nhượng Tống là thông qua sự giới thiệu của Phan Khôi (nhưng có vẻ Nhượng Tống và Phan Khôi cũng không quen biết nhau trực tiếp, mà chỉ là Phan Khôi ngưỡng mộ tài năng của Nhượng Tống mà thôi).
Mối giao tình này dẫn đến lời tựa mà Lưu Trọng Lư viết cho cuốn tiểu thuyết Lan Hữu của Nhượng Tống:
Cuốn tiểu thuyết này, khác hầu hết tác phẩm của Nhượng Tống, không in ở Tân Việt mà in ở Lê Cường.
Tôi từng nói, trước 1945 chỉ có ba tiểu thuyết thực sự lớn, là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Lan Hữu của Nhượng Tống và Băn khoăn của Khái Hưng, và tôi sẽ không ngại nhắc lại điều này nhiều lần nữa.
Lời tựa của Lưu Trọng Lư bị kiểm duyệt một đoạn, chắc hẳn là vì Lưu Trọng Lư nhắc tới thân thế Nhượng Tống:
Chuyển qua nhân vật thứ ba, cũng là câu chuyện hay nhất.
Đó là Phan Văn Hùm.
Nhượng Tống dịch Thơ Đỗ Phủ, cuốn sách ấy, rất bất ngờ, có lời đề tặng như sau:
Cái sự tặng "một người bạn không quen" này thể hiện một niềm ngưỡng mộ rất lớn. Chuyện gì đã xảy ra sau đó? Sau đó đã có một mối giao tình rất đặc biệt.
Khi biết được điều này, Phan Văn Hùm đã viết một bức thư gửi cho Nhượng Tống, một bức thư vô cùng cảm động từ Tân Uyên:
Những láo nháo của cuộc đời có là gì đâu, khi mà ta nhận được những điều như thế này.
Bức thư này của Phan Văn Hùm, Nhượng Tống rất quý, là một thứ được Nhượng Tống lưu giữ rất cẩn thận; chính vì thế mà nó còn tồn tại đến ngày nay, minh chứng cho một tình bạn đẹp giữa hai tài năng lớn.
Nhưng còn chưa hết: Nhượng Tống cũng xuất hiện trong một tác phẩm của Phan Văn Hùm (in ở nhà Tân Việt, tất nhiên):
Ta xem thêm một tác phẩm khác của Nhượng Tống, cụ thể hơn là xem quyển sách:
Ở quyển này, Nhượng Tống tự viết lời tựa:
Và đây là trang ghi rất rõ: quyển Ly tao này ngoài một bản đặc biệt cho nhà xuất bản, còn có hai bản đặc biệt khác, một ghi L. V. V., chính là Lê Văn Văng, còn ở đây là bản ghi N. T., tức là Nhượng Tống:
Tác giả: Nhượng Tống
Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân)
Dưới bức màn sương chợt nhớ em,
Bồi hồi hàng lệ gạt đương đêm.
Lòng thề sắt đá dầu không chuyển,
Mộng cách non sông chửa dễ tìm!
Tả hận từng phen quăng ngọn bút,
Thêu sầu xin chớ mượn đường kim,
Phải chăng giờ trước song thu lạnh,
Em cũng ngồi trông bóng nguyệt chìm.
(Hà Nột Tân Văn, 12 tháng ba 1940)
Tác giả: Nhượng Tống
Nhục mấy trùng cao ách mấy trùng
Thương đời không lẽ đứng mà trông?
Quyết quăng nghiên bút xoay gươm súng
Đâu chịu râu mày thẹn núi sông.
Người dẫu chết đi lòng vẫn sống
Việc dù hỏng nữa tội là công
Nhờ lời di huấn cơn lâm biệt,
Cười khóc canh khuya chén rượu nồng
Vùng vẫy mình trong bể nước đầy
Hết kỳ lại cọ, chẳng rời tay
Ông Tây cứ bảo mình yêu nước,
Ừ, chẳng yêu sao lại thế này?
Dứt tiếng ly ca ném chén vàng
Bồi hồi từ giã đất Tuyên Quang
Biết tìm đâu thấy người trong mộng
Khen não nùng thay cảnh dọc đường!
Cây cỏ ba đông trời cố quốc
Nước non muôn dặm bóng tà dương.
Xanh xanh sông uốn bao nhiêu khúc
Một khúc xa nhau một đoạn trường.
Người một phương trời, khách một phương
Đôi lòng ai giắt sợi tơ vương.
Không quen thuộc đã thành dan díu
Có biệt ly đành phải nhớ thương.
Ơn nặng chưa đến cho đất nước,
Tình riêng tạm gửi với văn chương.
Thăm nhau muốn hỏi đường trong mộng,
Núi Tản, sông Lô mấy dặm đường?
Người bến sông Lô kẻ chợ Bờ
Tìm nhau chẳng thấy ruột vò tơ!
Chiếc thân đất trích ta buồn lắm,
Giấc mộng canh tàn khách tĩnh chưa?
Sự trước đã lầm ra thế ấy
Đường xa sớm liệu tự bây giờ
Mênh mông bốn bề ai tri ky?
Canh tiếng, đèn tàn, tiếng gió mưa!
Nhượng Tống (1904–1949) là dịch giả tài hoa, nhà cách mạng Việt Nam. Ông cũng là nhà thơ và nhà văn.
Ông tên thật là Hoàng Phạm Trân, do bút danh Nhượng Tống nên còn gọi là Hoàng Nhượng Tống. Ông quê ở làng Đỗ Hoàng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân sinh của ông là cụ Hoàng Hồ, một danh sĩ đời nhà Nguyễn, nổi tiếng chống Pháp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chính trị của ông sau này.
Cuối năm 1925, ông cùng với Phạm Tuấn Lâm và Phạm Tuấn Tài thành lập ra Nam Đồng Thư xã ở số 6 đường 96 khu Nam Đồng (bên bờ hồ Trúc Bạch, Hà Nội), chuyên trứ tác, dịch thuật và xuất bản các sách tuyên truyền chủ nghĩa ái quốc, như: Cách mạng Trung Hoa, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Cách Mạng Thế giới, Chủ nghĩa Tam Dân, v.v. Riêng Nhượng Tống cũng có nhiều bản dịch xuất sắc, ghi tên ông vào danh sách những người đóng góp rất lớn cho sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực văn học cổ đại Trung Quốc, với những tác phẩm như Nam Hoa kinh, Ly tao, Thơ Đỗ Phủ, Sử ký Tư Mã Thiên, Mái Tây (tức Tây sương ký), Hồng lâu mộng... Một số dịch phẩm của ông hiện nay đã được tái bản ở Việt Nam và rất được đón nhận.
Do chủ trương xuất bản sách phổ thông, bình dân, nên Nam Đồng Thư xã đã gây được tiếng vang và lôi cuốn được một số thanh niên trí thức sinh viên thường lui tới, thường xuyên thảo luận về vấn đề chính trị trong và ngoài nước, hình thành hạt nhân chính trị cho tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng sau này.
Các hoạt động chính trị của Nam Đồng Thư xã bao gồm:
- Về xã hội: tổ chức lớp học miễn phí buổi tối để dạy quốc ngữ cho người lao động, gây quĩ tiết kiệm "Đồng xu" cho giới thợ thuyền...
- Về chính trị: hô hào đồng bào tham dự vào cuộc biểu tình đòi ân xá cho Phan Bội Châu, tham dự lễ truy điệu hai nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, Lương Văn Can; vận động thức tỉnh quần chúng Hải Phòng không mắc mưu của thực dân về vụ "Xung đột, Tẩy chay" với Hoa kiều.
Tháng 10 năm 1927, Nguyễn Thái Học tham gia Nam Đồng Thư xã và thành lập chi bộ để tiến tới thành một đảng cách mạng. Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Nhượng Tống cùng với các đồng chí thành lập Việt Nam Quốc dân đảng tại làng Thể Giao, Hà Nội.
Năm 1930, Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái, nhưng bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Nhượng Tống may mắn thoát khỏi sự lùng bắt của mật thám Pháp và đào thoát sang Trung Quốc, giữ gìn cơ sở.
Năm 1942, tại Trung Quốc, 3 đảng phái quốc gia (Việt Nam Quốc dân đảng, Đại Việt Dân chính đảng, Đại Việt Quốc dân đảng) liên minh thành Việt Nam Quốc dân đảng. Họ tham gia vào Chính phủ Liên hiệp Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, đến cuối năm 1946, Pháp tái chiếm Đông Dương, Chính phủ Liên hiệp Việt Nam và liên minh Việt Nam Quốc dân đảng tan vỡ. Năm 1947, Nhượng Tống cùng với một số đồng chí tái tổ chức lại hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng tại một số vùng do Pháp kiểm soát. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, Việt Nam Quốc dân đảng tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc, chống chính quyền Việt Minh, ủng hộ giải pháp Bảo Đại, thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam.
Nhượng Tống bị công an mật Việt Minh ám sát vì cho là phản quốc vào năm 1949 tại Hà Nội.
Các sách do Nhượng Tống dịch:
- Mái Tây (Tây sương ký) của Vương Thực Phủ
- Thơ Đỗ Phủ
- Nam Hoa kinh của Trang Tử
- Thượng thư (tức Kinh thư) của Khổng Tử
- Dưới hoa: Ngọc Lê hồn
- Sử ký của Tư Mã Thiên
- Ly tao của Khuất Nguyên
- Bả phồn hoa
- Chị cùng em: Nghĩa hiệp tiểu thuyết
TƯỜNG THUẬT CUỘC TỌA ĐÀM VỀ NHƯỢNG TỐNG
MỘT DỊCH GIẢ, NHÀ VĂN TÀI HOA, LÃNH TỤ VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG,
SAU BỊ CÔNG AN HN THỦ TIÊU NĂM 1949 TẠI CHỢ HÔM
Nguyễn Lâm Khang
.
Chiều nay (09.12.2015), trong không gian ấm cúng của Thư viện Trung tâm VH Pháp, cuộc tọa đàm Nhượng Tống – Nhà văn, nhà báo, dịch giả do Nhã Nam phối hợp với Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace tổ chức đã diễn ra với sự hiện diện của khoảng 50 cử tọa, trong đó có nhiều nhà chuyên môn, nhà báo, và các con cháu của Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân.
Với sự dẫn dắt lịch lãm của TS Mai Anh Tuấn (ĐH Văn hóa HN), các diễn giả Lại Nguyên Ân, Trần Trọng Dương trình bày những ý kiến của mình về cuộc đời và sự nghiệp trước tác của Nhượng Tống.
Cả hai diễn giả đều bắt đầu bằng việc kể lại mình đã được đọc các bản dịch tài hoa của Nhượng Tống, mặc dù tên ông chỉ được in bằng chữ hai chữ N.T (bản dịch của N.T), nhưng các ông được các thầy dạy của mình nói đấy là Nhượng Tống. Nhà phê bình Lại Nguyên Ân nhấn mạnh về việc sử dụng tiếng Việt trong văn chương Nhượng Tống mà ông cho rằng một thứ tiếng Việt thiên tiên rất khó giải thích. Tiến sĩ Trần Trọng Dương khẳng định vị trí của Nhượng Tống với vai trò của một dịch giả (mà theo ông là có 3 người tiêu biểu đầu thế kỷ XX: Nhượng Tống, Trúc Khê Ngô Văn Triện và Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha), một nhà thơ, một nhà báo, và trước hết là một nhà ái quốc.
Phần tọa đàm trao đổi, đáng chú ý là các ý kiến của TS. Nguyễn Văn Thành, Thạc sĩ Đào Tiến Thi, Nhà báo Kiều Mai Sơn, TS Nguyễn Xuân Diện....
TS Nguyễn Văn Thành cung cấp một số thông tin quan trọng quanh cuộc đời và sự nghiệp của Nhượng Tống. Ông cho biết Nhượng Tống có để lại cuốn hồi ký rất có giá trị để có thể hiểu về con người và hoạt động văn hóa và chính trị của Nhượng Tống. Ngoài tư cách là một dịch giả, một nhà văn, nhà báo, nhà cách mạng, thì Nhượng Tống còn là một tác gia sân khấu, đồng thời ông cũng là người đi tiên phong của phê bình văn học.
Thạc sĩ Đào Tiến Thi đánh giá Nhượng Tống là một chí sĩ yêu nước, xả thân cho lý tưởng. Và điều này thể hiện ở chỗ ông là một trong 4 lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng, là bạn đồng chí của Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Triệu Luật. Cuốn sách Nguyễn Thái Học của Nhượng Tống được viết năm 1945, để kỷ niệm 15 năm Khởi nghĩa Yên Bái là cuốn sử liệu do một người trong cuộc viết ra, và độ lùi thời gian chỉ mới 15 năm, là một cuốn sách quý, chân thực về lãnh tụ Nguyễn Thái Học và Cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
Nhà báo Kiều Mai Sơn nêu ra một số lỗi của bản sách Nguyễn Thái Học do Nhã Nam & Nxb Hội Nhà văn tái bản năm 2014. Trong đó ghi năm mất của Nguyễn Thái Học không nhất quán, hình ảnh làm bìa và được in trong sách bị chú thích sai nhầm.
Kiều Mai Sơn cũng cho biết Nhượng Tống vì tham gia Quốc Dân đảng nên bị kết tội là Việt Gian và giao cho công an Hà Nội lập hồ sơ và tiến hành xử bắn Nhượng Tống tại khu vực Chợ Hôm ngày nay. Giám đốc Công an HN lúc đó là Nguyễn Tài và hai Phó giám đốc Công an HN thực thi việc này nay hãy còn chưa chết, sao không mời (hay là triệu tập) các vị đó đến để bạch hóa về cái chết của Nhượng Tống, xóa đi những đám mây hư hư thực thực về cái chết của một nhà văn, dịch giả tài hoa.
Trong phát biểu của mình, TS Nguyễn Văn Thành đặt câu hỏi với các diễn giả: Bút danh Nhượng Tống của Hoàng Phạm Trân nghĩa là gì? Nhưng cả ba diễn giả đều không trả lời được.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện ức đoán rằng Nhượng Tống sinh ra ở vùng quê Ý Yên, nơi có đền thờ ông nghè Tống Trân. Trong tâm thức dân gian Tống Trân là hình tượng một kẻ sĩ tài hoa, trung quân ái quốc, thủy chung và hiếu hạnh. Tên ông là Hoàng PHẠM TRÂN, tên trùng với TỐNG TRÂN. Ông đặt Nhượng Tống, có lẽ là ẩn ý: Tên cùng là Trân, nên ông chỉ chịu nhường chữ TỐNG mà thôi!
Cụ bà Hoàng Lương Minh Viễn, người con gái duy nhất của Nhượng Tống cũng có mặt trong buổi tọa đàm. Cụ năm nay 76 tuổi, là một nhà giáo hưu trí, dắt theo các con cháu, dâu rể, chắt nội ngoại đến với buổi tọa đàm với tấm lòng tưởng nhớ người xưa trong niềm xúc động. Cụ được sinh ra thì chỉ sau một ngày là cha mất. Cha cụ mất khi cụ vừa 10 tuổi (cụ sinh năm 1939). Khi cha mất, cụ vẫn đang ở với mẹ ở quê. Những gì cụ biết về người cha là qua lời kể của mẹ. Cụ cho biết, về bút danh Nhượng Tống thì trong Hồi ký Nhượng Tống cũng không tiết lộ, mà cũng không ai kể cho cụ biết, và đến nay, với cụ và nhiều bà con họ hàng nội ngoại thì vì sao cha bà lấy bút danh Nhượng Tống vẫn là một bí ẩn.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện cho rằng điều đáng tiếc nhất, khó cảm thông của cuộc tọa đàm là cả ba diễn giả không một ai đưa ra một "bản lý lịch"(CV) vắn tắt về tiểu sử Nhượng Tống và cung cấp các tư liệu về cái chết của Nhượng Tống. Tại sao chúng ta phải né tránh? Có ai cấm chúng ta nói đâu! Đó là do các nhà học giả cứ tự trói mình trong những vòng kim cô vô hình đó chứ! Về cuộc cải cách ruộng đất, đảng CSVN sau này đã thừa nhận có đến 172 ngàn người bị chết và mất tích trong cuộc cách mang "long trời lở đất" đó. Hơn nữa, Nhượng Tống - nhà chí sĩ (lời Đào Tiến Thi), nhà ái quốc (lời Trần Trọng Dương) sống ở thời đó đa đảng có thế nào thì ta viết và nói vậy, sao phải tự trói ngôn luận mình lại?
Việc hạn định chỉ có 3 dịch giả nổi bật xếp hạng cùng nhau vì có đóng góp lớn lao cho việc kiến tạo văn hóa thông qua công việc dịch thuật hồi đầu thế kỷ XX là Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Trúc Khê Ngô Văn Triện thì cần phải xem lại. Vì nếu như vậy ta sẽ bỏ quên Tân Nam tử Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính,..và cả Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Ngô Tất Tố ....Và nếu chỉ tính đến các tác gia dịch Hán văn sang Quốc ngữ thì cũng chưa bao quát tình hình dịch thuật lúc đó, vì như vậy để sót các tác gia, tác phẩm dịch từ chữ Phương Tây hoặc văn bạch thoại sang chữ Hán Nôm (như trường hợp Nam nữ giao hợp phụ luận) hay dịch từ Hán văn sang Nôm đối với Thơ Đường (bản dịch thơ Đường sang chữ Nôm của Tú Xương)....Tóm lại đóng góp của Nhượng Tống là đa diện, nhưng cần nhìn nhận trong một tinh thần khách quan, khoa học và công bằng. Nhã Nam cần cố công sưu tầm thêm các tác phẩm của Nhượng Tống để tiến tới xuất bản trọn bộ Nhượng Tống toàn tập, làm nền tảng cho các cuộc hội thảo khoa học để đánh giá toàn diện về nhà văn hóa Nhượng Tống; cần công bố minh bạch về cuộc đời và sự nghiệp (cả sự nghiệp trước tác lẫn sự nghiệp chính trị) của Nhượng Tống một cách khách quan, tiến tới những hoạt động tôn vinh xứng đáng với huyết hãn mà một nhà văn hóa hiến dâng cho đất nước và văn hóa nước nhà bằng cách thức: đặt tên đường phố, tên trường học v.v.
Cuộc tọa đàm bắt đầu lúc 18h và kết thúc vào lúc 20h40, trong không khí bàn luận phóng khoáng, thẳng thắn và để ngỏ rất nhiều vấn đề. Đại diện gia đình hậu duệ Nhượng Tống lên phát biểu - vừa có cảm xúc buồn vì quá khứ bị thành kiến bởi nhà cầm quyền, vừa có cảm xúc vui và tự hào được thấy người xưa được tôn vinh lần đầu và tại đây. Tuy nhiên, một số vị phát biểu có phần thái quá, mà nếu lịch thiệp và ý nhị thì không nên mắc phải.
Mỗi lời phát biểu, mỗi một đánh giá, mỗi lời tri ân đối với Nhượng Tống của diễn giả và cử tọa hôm nay, có thể xem như là một bông hoa nhỏ kết thành một tràng hoa cùng tuần rượu "sơ hiến" dâng lên anh linh Nhượng Tống - một người tài hoa mà bạc mệnh, bày tỏ tấm lòng hậu thế đối với một người đã dâng tâm huyết góp phần xây nên đài văn hiến mà bị người đời phụ bạc, lãng quên...
Viết xong lúc 22h cùng ngày.
Một số hình ảnh của buổi tọa đàm:
Các diễn giả: Lại Nguyên Ân, Trần Trọng Dương và MC Mai Anh Tuấn.
.
Cụ bà Hoàng Thị Viễn - người con gái duy nhất của Nhượng Tống.
.
Thạc sĩ Đào Tiến Thi chụp hình kỷ niệm với Cụ bà Hoàng Thị Viễn.
_________________
Thông tin tọa đàm:
NHƯỢNG TỐNG – NHÀ VĂN, NHÀ BÁO, DỊCH GIẢ
Nhắc đến nền văn học, báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ trước không thể không nhắc đến tên tuổi Nhượng Tống – Hoàng Phạm Trân với những trước tác có giá trị cao như Nguyễn Thái Học hay tác phẩm dịch Ly Tao đã được Nhã Nam xuất bản. Hà Nội, những ngày đầu tháng Mười hai năm 2015, những nhà nghiên cứu sẽ cùng trò chuyện với người quan tâm về nhà văn, nhà báo, dịch giả tài hoa bị lãng quên trong một thời gian dài này trong khuôn khổ tọa đàm Nhượng Tống – Nhà văn, nhà báo, dịch giả do Nhã Nam phối hợp với Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace tổ chức.
Thông tin cụ thể về chương trình như sau:
1. Thời gian: 18h00 ngày 09 tháng Mười hai năm 2015
2. Địa điểm: Thư viện Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace, 24 Tràng Tiền
3. Diễn giả: Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Tiến sĩ Hán-Nôm Trần Trọng Dương,
Nhà phê bình Mai Anh Tuấn
4. Khách mời: Đại diện gia đình nhà văn – nhà báo – dịch giả Nhượng Tống.
Trân trọng kính mời quý vị và các bạn!
______
.
ĐÔI NÉT VỀ NHƯỢNG TỐNG
Nhượng Tống (1904-1949) tên thật là Hoàng Phạm Trân, quê ở làng Đô Hoàng, xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông là nhà văn, nhà báo, dịch giả nổi tiếng, có rất nhiều đóng góp cho nền văn học và dịch thuật của Việt Nam. Sinh ra trong một gia đình Nho học, Nhượng Tống thông thạo chữ Hán ngay từ nhỏ, sau mới tự học thêm tiếng Việt và tiếng Pháp.
Từ năm 16 tuổi (1921), Nhượng Tống đã bắt đầu sự nghiệp báo chí của mình với những bài đăng trên báo Khai hóa, sau đó là các báo Nam thành, Thực nghiệp dân báo, Hồn cách mạng, Hà Nội tân văn… Ông có khối lượng tác phẩm sáng tác và dịch thuật đồ sộ, trong đó rất nhiều bị lãng quên trong thời gian dài. Với tư cách nhà văn, Nhượng Tống được biết đến với các tác phẩm Trưng Vương, tiểu thuyết Lan Hữu, Tân Việt cách mạng đảng, Nguyễn Thái Học, ca kịch Trời Nam mưa gió… Các tác phẩm dịch nổi tiếng của ông là Mái Tây tức Tây Sương Ký, Sử ký Tư Mã Thiên, Ly Tao, Thơ Đỗ Phủ, Nam Hoa kinh, Lam Sơn thực lục, Đại Việt sử ký toàn thư…
Nhượng Tống còn được nhấn mạnh với vai trò nhà cách mạng, một trong những thành viên nòng cốt của Nam Đồng thư xã. Ông vừa là bạn đồng chí, vừa là người đã chứng kiến cuộc đời người anh hùng Nguyễn Thái Học.
_________
MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NHƯỢNG TỐNG DO NHÃ NAM XUẤT BẢN
Nguyễn Thái Học
15 năm sau ngày Việt Nam Quốc dân đảng bị dìm trong bể máu, Nhượng Tống hoàn thành một cuốn sách dựng nên một thời kỳ lịch sử của tổ chức này, đồng thời ghi lại tiểu sử vị lãnh tụ Nguyễn Thái Học từ tuổi học trò. Bằng góc nhìn của người trong cuộc, Nhượng Tống đã trình bày một cách tường tận những chi tiết chưa hề được nhắc đến trong chính sử như các đảng viên trung kiên, diễn biến cuộc tấn công của Việt Nam Quốc dân đảng ở Hưng Hóa và Lâm Thao, diễn biến cuộc khởi nghĩa Yên Bái… Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét: “Cuốn sách này luôn mang giá trị như một tư liệu lịch sử và là một trong những ấn phẩm sớm nhất viết và tôn vinh một trong những gương mặt tiêu biểu nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam." Tác phẩm được Việt Nam thư xã xuất bản năm 1945, Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hồng Đức tái bản năm 2014.
Ly tao
Ly tao là một trong những tác phẩm thi ca nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Lý tưởng cao đẹp và tinh thần bất khuất của tác giả Khuất Nguyên thể hiện rõ trong các bài thơ. Tập thơ được Nhượng Tống dịch. Trong bài viết “Cùng bạn đọc” in ở đầu sách, ông chia sẻ những cảm nhận về tập thơ cổ: “… mở một chương Ly tao ra mà đọc đi đọc lại mấy lần thì không thấy là văn nữa. Đấy là những tiếng khóc thảm, than dài của một mảnh hồn trong sạch và đau thương, gọi với người thiên cổ.” Cuốn sách được Nhà xuất bản Tân Việt phát hành năm 1944, Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Văn học tái bản năm 2015. Tập sách còn in nhiều sáng tác khác như Cửu ca, Quốc thương, Lễ hồn, Bốc cư, Ai sính…
_________
THÔNG TIN VỀ DIỄN GIẢ
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: sinh năm 1945 tại làng Phù Đạm, xã Phù Vân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Ngoài bút danh chính là Lại Nguyên Ân, ông còn có các bút danh khác như: Vân Trang, Tam Vị, Ngân Uyên, Nghĩa Nguyên. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1968. Sau đó dạy học ở Trường Văn hóa của Bộ Nội thương tại Ba Vì, Hà Tây từ 1970-1977, rồi chuyển về Hà Nội, làm biên tập viên sách lý luận- phê bình văn học tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới, nay là Nhà xuất bản Hội Nhà văn, suốt 30 năm cho đến khi nghỉ hưu.
Tiến sĩ Trần Trọng Dương: sinh năm 1980, tốt nghiệp khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội). Anh được biết đến như một dịch giả Hán văn và nhà nghiên cứu cổ học với những vấn đề liên quan đến văn học, lịch sử cổ trung đại và văn hóa cổ truyền Việt Nam với một số công trình như Thiền tông khóa hư ngữ lục (2009), Kiến trúc một cột thời Lý (2013), Nguyễn Trãi quốc âm từ điển (2014)... Năm 2012, anh được Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ (VNPF) trao giải thưởng Học giả trẻ nghiên cứu chữ Nôm (Young Nom Scholar Award). Hiện Tiến sĩ Trần Trọng Dương đang công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Nhà phê bình Mai Anh Tuấn: sinh năm 1983 tại Quảng Bình. Từng đạt giải ba cuộc thi sáng tác Văn học tuổi 20 do NXB Trẻ tổ chức. Hiện anh là giảng viên khoa Sáng tác và Lý luận phê bình Văn học, Đại học Văn hóa, Hà Nội.
Cảm đề lịch sử Ba xứ non sông một giải liền, Máu đào xương trắng điểm tô nên. Cơ trời dù đổi trò tang hải, Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên. Có nước có dân đừng rẻ rúng; Muốn còn muốn sống phải đua chen. Giựt mình nhớ chuyện nghìn năm cũ; Chiêm, Lạp xưa kia vốn chẳng hèn. | |||
Khóc Nguyễn Thái Học Nhục mấy trùng cao, ách mấy trùng. Thương đời không lẽ đứng mà trông. Quyết quăng nghiên bút xoay gươm súng, Ðâu chịu râu mày thẹn núi sông. Người dẫu chết đi, lòng vẫn sống, Việc dù hỏng nữa, tội là công. Nhớ anh nhớ lúc khi lâm biệt; Cười khóc canh khuya chén rượu nồng. | |||
Cảnh nhà tù
Hàng vạn con người áo một màu
Khác nhau con số chẳng đều nhau
Xưa nay vẫn có câu bình đẳng[8]
Ông có người em trai út là Hoàng Trung Tích, là Giám đốc ty Giáo dục Hà Nam Ninh. Ông là anh họ của Chu Thiên tức Hoàng Minh Giám, còn Hoàng Minh Chính (là bộ đội hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, tác giả phần lời bài hát " Hôm qua em tới trường") là con cả của người em trai thứ hai là Hoàng Văn Huống, gọi Nhượng Tống là bác.
04:04-19/10/2015
Cuộc đời Nhượng Tống qua tiểu thuyết "Lan Hữu"
Theo tài liệu của Cao Việt Dũng |
Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân
Lan Hữu1, cuốn tiểu thuyết duy nhất của Nhượng Tống vừa được tái bản lần thứ hai sau gần ba phần tư thế kỷ, chính là một tài liệu quan trọng góp cho việc tìm hiểu tiểu sử Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, một nhà văn lớn mới chỉ được biết đến sơ sài, với rất nhiều chi tiết nhầm lẫn.
Cách tồn tại của Nhượng Tống ở trong hậu thế rất giống một nhà văn lớn khác cùng thời: Khái Hưng. Sau này cả hai vẫn sẽ được biết đến, nhưng chủ yếu là theo lối phiến diện. Văn nghiệp của Nhượng Tống thường chỉ được nhìn nhận qua các bản dịch, trong khi ông còn là một nhà thơ, một tiểu thuyết gia tài năng. Về phần Khái Hưng, người ta chỉ biết đến Hồn bướm mơ tiên hay Nửa chừng xuân và một số tác phẩm khác, trong khi Băn khoăn, cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, in năm 1943, mới thực sự là một kiệt tác. Rất có thể, toàn bộ mảng văn xuôi đồ sộ của văn chương tiền chiến Việt Nam chỉ có ba tiểu thuyết thực sự lớn, là Tố Tâm, Lan Hữu và Băn khoăn. Trong bộ ba ấy, chỉ mình Tố Tâm có được số phận tương đối xứng đáng với giá trị của mình.
Nhưng lịch sử văn chương là câu chuyện của các giá trị, nếu không thì ta sẽ không có lịch sử văn chương.
Một cuốn tiểu thuyết được coi là lớn, là “giá trị” một cách toàn diện nhất, khi bên trong nó chứa đựng những điều kỳ diệu, giống như hạt mầm giấu kín ở đâu đó, sẽ hồi sinh và nảy nở mãnh liệt khi gặp được môi trường phù hợp và xứng đáng. Tố Tâm đã có một số phận như vậy, và giờ đã đến lúc chúng ta cần trả về đúng vị trí một tác phẩm khác, không kém phần kỳ diệu - Lan Hữu của Nhượng Tống. Đến nay, ngoài lần ra mắt năm 1940, nó mới chỉ tái xuất một lần duy nhất, tại nhà xuất bản Á Châu (Hà Nội) đầu thập niên 50, vài năm sau khi Nhượng Tống qua đời.
Nhưng ngoài những giá trị của một cuốn tiểu thuyết, Lan Hữu còn có thể được đọc như một tài liệu quan trọng góp cho việc tìm hiểu tiểu sử Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân. Vì gia cảnh, Nhượng Tống phải bỏ học rất sớm vào năm mười tám tuổi, sau khi thân phụ qua đời (người cha bất đắc chí, tuy từng là “thủ khoa thành Nam”, nhưng giữa một thời kỳ lịch sử u tối, đã chán chường mà chết: cái chết này được thuật lại rất cặn kẽ trong Lan Hữu). Vụ việc liên quan đến mấy mẫu đất gây thiệt hại lớn cho gia đình Nhượng Tống cũng được kể lại trong Lan Hữu. Đặc biệt, tác giả viết rất chuẩn xác về dòng dõi của mình: “nối dõi cái mạch thư hương của nhà tôi, truyền từ đời Lê cho đến bấy giờ”. Nhượng Tống thuộc một gia đình rất thành đạt về học vấn suốt nhiều thế hệ, tiền nhân của ông từng là thầy dạy hai nhân vật lớn của “thành Nam” là Nguyễn Khuyến và Trần Bích San.
Nhượng Tống bộc lộ tài năng văn chương rất sớm, mười sáu tuổi đã có bài đăng trên Khai Hóa (tờ báo của nhà tư sản Bạch Thái Bưởi), đúng như trong Lan Hữu có kể. Sự nghiệp báo chí của Nhượng Tống còn dài: vài năm sau Khai Hóa là đến giai đoạn cộng tác với tờ Thực nghiệp dân báo với yếu nhân Mai Du Lân; ngay sau đó, ông sẽ cùng vài người bạn lập ra Nam Đồng thư xã, in một số sách, tài liệu. Nhượng Tống là thành viên sáng lập của Việt Nam Quốc dân đảng, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học; vì được Nguyễn Thái Học giao nhiệm vụ ở Huế năm 1929 rồi bị mật thám Pháp bắt nên Nhượng Tống tình cờ mà thoát khỏi chuỗi án tử hình đẫm máu của thực dân đầu thập niên 30, trong đó chấn động hơn cả là “vụ Yên Bái”, khi những người đồng chí thân thiết của ông như Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính bỏ mình dưới lưỡi dao máy chém. Thoát chết nhưng Nhượng Tống phải chịu cảnh tù đày ở Côn Đảo (trong Lan Hữu cũng có lúc ông ám chỉ chuyện này: “đày tôi ra Côn Đảo ba năm, tôi không sợ bằng đày tôi cửa chùa Thiên Trù suốt ba tháng hội”) và tiếp theo là những năm dài bị quản thúc ở quê, định kỳ phải ra Phủ Lý trình diện mật thám. Nhượng Tống còn viết báo thêm vài năm từ sau 1945, ở các tờ như Chính nghĩa, Thời sự… Ông mất năm 1949 ở Hà Nội.
(Trong các tài liệu tra cứu phổ biến nhất hiện nay, ta thường đọc ở tiểu sử Nhượng Tống hai chi tiết: sinh năm 1897 và được thả từ Côn Đảo về năm 1936; hai chi tiết này đều sai, vì Nhượng Tống tuổi Bính Ngọ, sinh năm 1906 và sau các sự kiện của Việt Nam Quốc dân đảng, Nhượng Tống được thả khỏi Côn Đảo trước 1936 nhiều, bởi trước đó mấy năm ông đã lấy vợ ở quê nhà Ý Yên; các chi tiết này hiện nay đều còn lại văn bản để kiểm chứng.)2
Trong Lan Hữu, Nhượng Tống buộc lòng phải giấu đi nhiều chi tiết để tránh kiểm duyệt của chính quyền (thế nhưng vẫn bị kiểm duyệt bỏ thêm nhiều chỗ)3. Chí khí cách mạng của ông có lẽ thể hiện đậm nét hơn cả trong Lan Hữu ở đoạn luận thơ với cha và bác (người bác thích Lý Bạch, người cha nhiều phẫn uất lại thích Lục Du); khi được hỏi, cậu bé Ngọc nhận là mình thích nhất thơ Đỗ Phủ, bởi: thơ ấy gồm “biết bao nhiêu bài tả những cảnh huống khổ nhục của đám dân nghèo. Mỗi khi con đọc, lại thấy như có đám người khố rách, áo ôm ấy kêu khóc ở bên tai, mà trong lòng thì uất ức muốn đứng phắt dậy… Thơ như thế mới thật là ‘khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán’.” Câu chuyện này cũng được Nhượng Tống kể lại bằng thơ, bài thơ ấy dùng làm lời tựa cho bản dịch Thơ Đỗ Phủ in năm 1944, sau Lan Hữu bốn năm; đoạn đầu của bài thơ như sau:
Tôi biết đọc thơ từ thuở nhỏ
Trong thơ thích riêng thơ Đỗ Phủ.
Một hôm thầy tôi hỏi: “Tại sao?”
Đứng dậy chắp tay tôi sẽ ngỏ
Rằng: “Tại thơ ông là đời ông:
Lạ, đẹp, hùng tráng mọi vẻ đủ,
Mà còn chan chứa một lòng thương
Những kẻ nghèo nàn, phường xấu số.
Vì tấm lòng ấy nên nhiều khi
Đối với quan lại với vua chúa
Ông thường chê trách, thường mỉa mai,
Không thèm nịnh hót, không xu phụ.
Ngoài một thiên tài hiếm có ra,
Ông còn một tâm hồn hiếm có…”
Nghe xong, thầy tôi gật đầu cười
Dạy rằng: “Ồ! mày thật con bố!
Thế nhưng bất lợi ở thời này!
Rồi đó xem: Đời mày sẽ khổ!”
Lan Hữu, qua chuyện nhân vật Ngọc dịch “Táng hoa từ”, còn nhắc ta nhớ đến Nhượng Tống trong vai trò một dịch giả kiệt xuất. Giai đoạn rực rỡ nhất của sự nghiệp dịch thuật Nhượng Tống là mấy năm trước 1945, chủ yếu in ở nhà xuất bản Tân Việt với ông chủ Lê Văn Văng là một người thân tình với ông. Tính riêng “Lục tài tử thư” do Kim Thánh Thán bình chọn, ông đã dịch ít nhất năm: Ly Tao, Thơ Đỗ Phủ, Nam Hoa kinh, Mái Tây (Tây sương ký), Sử ký. Có tài liệu cho biết Nhượng Tống từng dịch cả Hồng Lâu Mộng, Đạo đức kinh, thậm chí cả cuốn thứ sáu của “Lục tài tử thư” là Thủy hử. Trước đó, cuối thập niên 20, ông cũng đã dịch Ngọc Lê Hồn của Từ Chẩm Á với nhan đề tiếng Việt Dưới hoa cùng một số tác phẩm nhỏ khác. Từ năm 1945, Nhượng Tống còn viết vài vở kịch, dịch một ít Liêu Trai chí dị và tác phẩm Hương ngọc; dùng bút danh Mạc Bảo Thần để dịch Đại Việt sử ký toàn thư và Lam Sơn thực lục. Ông còn giúp Thi Nham Đinh Gia Thuyết hiệu chỉnh và dịch thêm Ức Trai tập - tác phẩm mới chỉ ở dạng bản thảo.
Danh mục tác phẩm của Nhượng Tống |
1Nxb Văn học và Tao Đàn ấn hành tháng 9/2015, 183 trang, giá bìa 58.000 đồng
2Các chi tiết liên quan đến cuộc đời Nhượng Tống sử dụng trong bài viết đều đã được xác nhận bởi bà Hoàng Lương Minh Viễn, con gái độc nhất của Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, hiện vẫn sống ở Hà Nội.
3Thời điểm Ngọc gặp lại Lan và Hữu ở chùa Hương ở cuối truyện, tính theo tiểu sử Nhượng Tống thì lúc đó ông đã mở Nam Đồng thư xã, có thể đã tham gia Việt Nam Quốc dân đảng, nhưng không nói rõ, chỉ có câu “Nhưng tôi không phải là người của các cô, không phải là người của bất cứ ai trong bọn đàn bà các cô” (tr. 182) , ám chỉ việc mình đi làm cách mạng; năm 1940 là thời điểm Nhượng Tống mới bắt đầu bớt bị quản thúc nhưng vẫn bị chính quyền đặc biệt để ý.
[1][1] Ban đầu nhà xuất bản Đời nay đặt cho nó nhan đề Thanh Đức và hệ thống quảng cáo của Tự Lực văn đoàn còn gán cho nó một tên phụ, Tội lỗi; sau này khi Nhất Linh cho tái bản cuốn sách ở Sài Gòn, cuốn tiểu thuyết trở lại nhan đề ban đầu mà Khái Hưng đã chọn lúc sinh thời: Băn khoăn.
[2][2] Các chi tiết liên quan đến cuộc đời Nhượng Tống sử dụng trong bài viết đều đã được xác nhận bởi bà Hoàng Lương Minh Viễn, con gái độc nhất của Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, hiện vẫn sống ở Hà Nội.
[3][3] Của Liễu Tuyền tiên sinh, do nhà xuất bản Tân Việt in năm 1947; lúc này nhà Tân Việt mới chuyển trở lại vào trong Nam.