Tiến sĩ DƯƠNG THANH BIỂU

Chủ biên

Kỹ năng

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VÀ TÁI THẨM

NHÀ XUẤT BẢN …Năm 2009

CHỦ BIÊN

Tiến sĩ Dương Thanh Biểu

THAM GIA BIÊN SOẠN

TS. Lê Hữu Thể

Viện trưởng Viện khoa học kiểm sát

Ths. Nguyễn Thanh Hạo

Phó Vụ trưởng Vụ THQCT & KSXXHS

Cn. Hà Như Khuê

Phó Vụ trưởng Vụ THQCT & KSXXHS

Phạm Văn An

Cn. Văn phòng Viện KSND tối cao

TS. Hoàng Quỳnh Chi

Viện khoa học kiểm sát

Ths. Nông Xuân Trường

Viện khoa học kiểm sát

Ths. Nguyễn Thị Thuỷ

Viện khoa học kiểm sát

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

        Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn sách Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm. Cuốn sách do Tiến sĩ Dương Thanh Biểu, nguyên Phó Viện trưởng Viện KSND tối cao làm chủ biên cùng tập thể các nhà khoa học và hoạt động thực tiễn tại Viện KSND tối cao biên soạn.

        Cuốn sách được chia làm hai phần. Phần một: Thủ tục giám đốc thẩm. Phần này có 3 chương: Chương I: Bản chất thủ tục, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Chương II: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm. Chương III: Kỹ năng chuẩn bị và thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà giám đốc thẩm. Phần hai: Thủ tục tái thẩm, bản chất thủ tục tái thẩm, kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án theo thủ tục tái thẩm.

        Cuốn sách không chỉ luận giải bản chất, thủ tục và thẩm quyền của Viện kiểm sát theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong pháp luật TTHS Việt Nam mà còn nêu lên các nguyên tắc và thủ tục của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Trong đó, các tác giả đã giành thời lượng xứng đáng để nêu lên các kinh nghiệm về thực hàng quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm tại Việt Nam. Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên những bất cập trong tực tiễn áp dụng pháp luật TTHS và kiến nghị những nội dung cần nghiên cứu khi sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo tiến trình của cải cách tư pháp mà các cơ quan tố tụng Việt Nam đang thực hiện.

        Như vậy, cuốn sách không chỉ giải quyết các vấn đề mang tính lý luận của các quốc gia trên thế giới của quá trình thực hiện các thủ tục đặc biệt này mà qua đó nêu lên khá kỹ về sự đổi mới của kỹ thuật lập pháp và áp dụng pháp luật TTHS ở Việt Nam. Nhiều nội dung của cuốn sách có thể coi là cẩm nang có tính hướng dẫn về nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm ở Việt Nam. Hy vọng rằng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với các cán bộ làm công tác nghiên cứu lý luận và giảng dậy về pháp luật của các cơ sở đào tạo và nghiên cứu. Đặc biệt, đây là tài liệu sẽ có tác dụng tốt cho các cán bộ làm công tác thực tiễn trong các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung, các cán bộ của cơ quan Viện kiểm sát và Toà án nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giải quyết án, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm, thực hiện có hiệu quả sự nghiệp cải cách tư pháp mà Đảng ta đã và đang chỉ đạo thực hiện. Đồng thời, cuốn sách này là tài liệu bổ ích cho những ai quan tâm nghiên cứu các thủ tục đặc biệt này.

        Cuốn sách chắc chắn cũng còn những điểm chưa hoàn chỉnh, rất mong bạn đọc tham gia ý kiến để các tác giả tiếp tục hoàn thiện trong lần tái bản tiếp theo, nhằm phục vụ bạn độc tốt hơn.

Xin trân trọng giới thiệu!

                               

                        Viết tắt:

Bộ luật tố tụng hình sự………..BL TTHS.

Bộ luật hình sự…………………BLHS.

Kiểm sát viên…………………..KSV.

Viện kiểm sát nhân dân………..VKSND.

Toà án nhân dân………………..TAND.

Thông tư liên tịch………………TTLT

Bộ luật dân sự…………………..BLDS.

Bộ luật tố tụng dân sự………….BL TTDS.

Chứng minh nhân dân………….CMND.

Uỷ ban nhân dân……………….UBND.

Xã hội chủ nghĩa……………….XHCN.

Định canh định cư……………..ĐCĐC.

                                PHẦN MỘT

THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM

CHƯƠNG I

BẢN CHẤT THỦ TỤC, THẨM QUYỀN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ

I. BẢN CHẤT THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ

1. Khái niệm về thủ tục giám đốc thẩm hình sự

Theo cách hiểu chung nhất, tố tụng là toàn bộ trình tự, thủ tục, cách thức, thời hạn do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành để ra được một phán quyết nhằm giải quyết một vấn đề tranh chấp. Tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi loại tranh chấp, yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp và địa vị pháp lý của chủ thể có thẩm quyền giải quyết khác nhau mà có những thủ tục tố tụng khác nhau. Căn cứ vào chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, có thể chia thủ tục tố tụng thành các loại: thủ tục tố tụng toà án, thủ tục tố tụng trọng tài và thủ tục tố tụng tại các cơ quan hành chính.

Tố tụng Toà án là thủ tục tố tụng do Toà án- cơ quan xét xử của Nhà nước - tiến hành nhằm giải quyết các vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo quy định của pháp luật. Tố tụng Toà án được phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào tính chất của vụ án được Toà án đưa ra xét xử, có thể phân loại các thủ tục tố tụng Toà án thành thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục tố tụng dân sự và thủ tục tố tụng hành chính. Căn cứ vào cấp Toà án tiến hành thủ tục tố tụng, có thể phân loại thành thủ tục tố tụng tại Toà án cấp sơ thẩm; thủ tục tố tụng tại Toà án cấp phúc thẩm và thủ tục tố tụng tại Toà phá án (giám đốc thẩm, tái thẩm).

Ở mỗi nước trên thế giới, do truyền thống pháp luật khác nhau mà quan niệm về thủ tục giám đốc thẩm - với tư cách là một thủ tục tố tụng - cũng có sự khác nhau. Ở các nước theo truyền thống luật dân sự (civil law), thường thực hiện chế độ “hai cấp xét xử”. Theo đó, sau khi vụ án được xét xử theo thủ tục sơ thẩm (xét xử lần đầu), bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay, đương sự, bị cáo có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát, Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật định để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chỉ có hiệu lực khi đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị. Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án (có tính chung thẩm). Tuy nhiên, kể cả sau khi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp trên vẫn có quyền xét lại bản án, quyết định đó theo thủ tục luật định nhằm khắc phục vi phạm của bản án, quyết định đó. Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án thường được gọi là thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục phá án.

Trái lại, ở các nước theo truyền thống luật thông lệ (common law), thường không thực hiện chế độ “hai cấp xét xử”. Sau khi vụ án được xét xử, nếu không đồng ý với phán quyết của Toà án, bị cáo có quyền kháng cáo. Việc kháng cáo có thể tiến hành ở Toà án các cấp. Như vậy thủ tục tố tụng chỉ bao gồm: thủ tục tố tụng tại Toà sơ thẩm và thủ tục tố tụng tại Toà kháng cáo. Tuy nhiên, ở mỗi cấp Toà án, pháp luật lại quy định căn cứ, thủ tục kháng cáo khác nhau. Như vậy, ở các nước này, pháp luật không quy định thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án như ở các nước theo truyền thống luật dân sự.

Việt Nam là nước theo truyền thống luật dân sự, thực hiện chế độ “hai cấp xét xử”. Việc xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được tiến hành theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm khi có kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền. Tuy vậy, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm và căn cứ kháng nghị tái thẩm được pháp luật quy định khác nhau.

Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án đã được pháp luật Việt Nam quy định khá sớm. Tại Thông tư số 321/VHH-CT ngày 12/2/1958 của Bộ Tư pháp về việc yêu cầu các Toà án phải nghiên cứu giải quyết các đơn thư khiếu nại về các vụ án đã xét xử chung thẩm quy định “Đối với những việc đã xử rồi… nếu thấy sai hoặc đúng không rõ ràng thì tuỳ từng trường hợp có kế hoạch giải quyết thích đáng (báo cáo cấp trên đề nghị kháng cáo hay xin xử lại hoặc đặt vấn đề điều tra, xác minh lại…)”. Tiếp đó, thủ tục này đã được quy định cụ thể hơn trong Luật tổ chức TAND năm 1960. Điều 10, Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định “…những bản án và quyết định đã có hiệu lực nếu phát hiện có sai lầm thì được xét lại”. Pháp lệnh ngày 23/3/1969 về nhiệm vụ của Toà hình sự TAND tối cao cũng quy định nhiệm vụ “xử lại những vụ án do Toà hình sự hoặc Toà phúc thẩm TAND tối cao đã xử mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Toà án tối cao giao cho xử lại. Xử lại những vụ án do TAND cấp dưới đã xử và bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Uỷ ban thẩm phán, Chánh án TAND tối cao hoặc Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị”. Như vậy, theo quy định của pháp luật trong giai đoạn này, giám đốc thẩm là việc Toà án có thẩm quyền xét xử lại vụ án bị kháng nghị[1].

Về phương diện lập pháp, thuật ngữ “giám đốc thẩm” chính thức được pháp luật quy định lần đầu tiên trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981. Tiếp đó, được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988. Điều 241 Bộ luật TTHS năm 1988 đưa ra định nghĩa giám đốc thẩm là “việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án”. Như vậy, theo quy định này, trường hợp phát hiện thấy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án có vi phạm pháp luật, những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm (Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án, Phó Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh và Chánh án TAND cấp tỉnh) sẽ kháng nghị bản án, quyết định đó. Trên cơ sở kháng nghị, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ xem xét lại vụ án và ra một trong những quyết định: bác kháng nghị, sửa bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc huỷ bản án quyết định bị kháng nghị (và giao cho Toà án cấp dưới) xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Như vậy, cũng giống như giai đoạn trước đây, trong giai đoạn này, giám đốc thẩm được hiểu là việc Toà án cấp giám đốc thẩm xét xử lại vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Biểu hiện rõ nhất của hoạt động “xét xử lại vụ án” là ở quy định Toà án giám đốc thẩm có quyền sửa lại nội dung của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị.

Bộ luật TTHS nước Cộng hoà XHCN Việt Nam được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 1/7/2004, thay thế Bộ luật TTHS được Quốc hội thông qua ngày 29/6/1988 và các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật TTHS được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990, ngày 12/12/1992 và ngày 9/6/2000. Tại Điều 272 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định “giám đốc thẩm là việc xét lại bản án  hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án”. Như vậy, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, thủ tục giám đốc thẩm trong TTHS được hoàn thiện một bước căn bản. Xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử, Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định bỏ thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong việc sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực. Hội đồng giám đốc thẩm chỉ có quyền bác kháng nghị, giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc huỷ bản án, quyết định đó để điều tra lại hoặc xét xử lại theo quy định của pháp luật. Giám đốc thẩm không còn là việc “xét xử lại vụ án” như cách hiểu trước đây nữa mà chỉ là việc “xét lại bản án, quyết định” có hiệu lực pháp luật. Đây là một điểm mới quan trọng của Bộ luật TTHS năm 2003 về thủ tục giám đốc thẩm so với Bộ luật TTHS năm 1988, đã khẳng định giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà là thủ tục tố tụng đặc biệt, thực hiện chức năng của Toà phá án như ở một số nước khác. Quy định này của Bộ luật TTHS năm 2003 về thủ tục giám đốc thẩm là phù hợp, tương đồng với pháp luật các nước.

2. Pháp luật của một số nước trên thế giới về thủ tục giám đốc thẩm hình sự

a. Thủ tục giám đốc thẩm hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

- Về chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm, pháp luật TTHS Trung Hoa quy định có 3 nhóm chủ thể có quyền kháng cáo, quyền kháng nghị, quyền yêu cầu xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, bao gồm:

+ Đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật hoặc người thân thích của đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm. Đương sự được pháp luật quy định bao gồm bị cáo, người bị hại, tư tố viên trong vụ án; người đại diện theo pháp luật của đương sự được pháp luật quy định bao gồm bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người giám hộ của đương sự, đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho đương sự; người thân thích của đương sự được pháp luật quy định bao gồm cha, mẹ, chồng, vợ, con, anh, chị, em ruột của đương sự.

+ Viện kiểm sát có quyền kháng nghị yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm. Cụ thể là VKSND cấp trên có quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới; VKSND tối cao có quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp.

+ Tòa án có quyền yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm. Cụ thể là Chánh án TAND các cấp nếu phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mình có sai sót phải yêu cầu Ủy ban thẩm phán giải quyết; TAND tối cao, TAND cấp trên nếu phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới có sai sót có quyền lấy vụ án lên để xét xử hoặc yêu cầu Tòa án cấp dưới xét xử lại.

Pháp luật TTHS Trung Hoa không giới hạn thời hạn kháng cáo, kháng nghị, yêu cầu xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Về thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị, yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm

Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát, Tòa án đã nhận kháng nghị phải thành lập Hội đồng xét xử để xét xử lại hoặc yêu cầu Tòa án cấp dưới xét xử lại. Trường hợp Tòa án (cùng cấp hoặc cấp trên) yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm thì Uỷ ban thẩm phán Tòa án cùng cấp phải tiến hành xem xét lại bản án, quyết định hoặc trong trường hợp cần thiết, Tòa án cấp trên lấy lên để xét xử. Đối với kháng cáo giám đốc thẩm của đương sự, Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định phải tiến hành thẩm tra. Thời hạn thẩm tra là không quá 03 tháng, trường hợp phức tạp là không quá 06 tháng kể từ khi thụ lý đơn kháng cáo.

 - Về trách nhiệm thẩm tra đơn kháng cáo được quy định như sau:

+ Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo có trách nhiệm tiến hành thẩm tra đơn kháng cáo.

+ Tòa án cấp trên tiến hành thẩm tra trong những trường hợp đơn kháng cáo nêu những tình tiết của vụ án còn nhiều nghi vấn khó giải quyết, nhiều tình tiết nghiêm trọng, phức tạp hoặc Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật đã thẩm tra mà đương sự vẫn tiếp tục kháng cáo.

+ Tòa án cấp phúc thẩm có thể giao cho Tòa án cấp sơ thẩm thẩm tra kháng cáo về quyết định y án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm.

+ Đối với kháng cáo về án tử hình mà TAND tối cao đã phê chuẩn hoặc án tử hình mà TAND cấp cao được ủy quyền phê chuẩn do Tòa án nhân dân đã thẩm tra phê chuẩn ban đầu hoặc TAND đã xét xử sơ thẩm tiến hành thẩm tra.

Tòa án được giao thẩm tra đơn kháng cáo phải viết báo cáo thẩm tra, nêu ý kiến xử lý và báo cáo TAND đã giao thẩm tra.

Qua thẩm tra xét thấy đơn kháng cáo có căn cứ để xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm thì Tòa án có thẩm quyền ra quyết định mở phiên tòa xét xử lại vụ án, nếu đơn kháng cáo không có căn cứ thì Tòa án thuyết phục người kháng cáo rút đơn kháng cáo. Nếu người kháng cáo không rút đơn thì Tòa án ra quyết định bác đơn kháng cáo và thông báo cho người kháng cáo biết. Quyết định bác đơn kháng cáo có thể bị khiếu nại lên Tòa án trên một cấp. Tòa án trên một cấp tiến hành thẩm tra mà nhận thấy khiếu nại không có căn cứ thì ra quyết định bác khiếu nại. Sau khi được TAND hai cấp giải quyết, người kháng cáo vẫn tiếp tục khiếu nại mà không có lý do khiếu nại mới thì Tòa án không thụ lý.

- Về căn cứ để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm được pháp luật quy định gồm các căn cứ sau đây:

+ Có chứng cứ mới khẳng định các tình tiết trong bản án, quyết định rõ ràng là sai;

+ Chứng cứ làm cơ sở cho việc buộc tội và tuyên hình phạt là không đầy đủ và không đáng tin cậy hoặc những chứng cứ quan trọng để chứng minh các tình tiết trong vụ án mâu thuẫn với nhau;

+ Việc áp dụng pháp luật khi ra bản án, quyết định rõ ràng là sai;

+ Có căn cứ cho rằng Thẩm phán trong khi xét xử các vụ án có hành vi tham ô, hối lộ hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu lợi cá nhân hoặc làm sai lệch pháp luật khi ra phán quyết.

+ Có những sai sót rõ ràng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

- Về thẩm quyền giám đốc thẩm, pháp luật TTHS Trung Hoa quy định có các cấp giám đốc thẩm sau đây:

+ Ủy ban thẩm phán Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật xét xử lại vụ án trong các trường hợp: có kháng cáo của đương sự; theo yêu cầu của Chánh án Tòa án cùng cấp; theo yêu cầu của Tòa án cấp trên hoặc TAND tối cao.

+  TAND cấp trên xét xử lại vụ án của TAND cấp dưới trong các trường hợp theo kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp; thấy cần thiết phải lấy vụ án của Tòa án cấp dưới lên để xét xử lại.

+ TAND tối cao xét xử lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm trong các trường hợp theo kháng nghị của VKSND tối cao; thấy cần thiết phải lấy vụ án của Tòa án cấp dưới lên để xét xử lại.

- Về thời hạn và phạm vi xét xử giám đốc thẩm, việc xét xử giám đốc thẩm phải kết thúc trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày ra quyết định lấy vụ án lên để xét xử hoặc kể từ ngày ra quyết định xét xử lại vụ án, trong trường hợp phức tạp thì thời hạn trên là không quá 6 tháng. Việc xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo, kháng nghị, yêu cầu. Vụ án được xét xử lại phải tiến hành thẩm tra toàn diện đối với sự thực đã nhận định trong bản án hoặc quyết định, thẩm tra chứng cứ và thẩm tra việc áp dụng pháp luật.

- Về thành phần Hội đồng giám đốc thẩm và trình tự tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm

+ Đối với các bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật bị xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm thì thành phần Hội đồng giám đốc thẩm và trình tự, thủ tục tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tuân theo các quy định của Bộ luật TTHS về thủ tục xét xử sơ thẩm. Bản án hoặc quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị tiếp.

+ Đối với các bản án, quyết định phúc thẩm hoặc các vụ án mà Tòa án cấp trên đề nghị xét xử lại thì thành phần Hội đồng giám đốc thẩm và trình tự, thủ tục tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tuân theo các quy định của Bộ luật TTHS về thủ tục xét xử phúc thẩm. Bản án hoặc quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm là chung thẩm.

- Về thẩm quyền Hội đồng giám đốc thẩm, qua xét xử giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền:

+ Bác kháng cáo hoặc kháng nghị nếu bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật đã nhận định sự thật, áp dụng pháp luật và tuyên hình phạt chính xác.

+ Sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhận định sự thật chính xác nhưng việc áp dụng pháp luật có sai sót, mức độ hình phạt tuyên không thích đáng.

+ Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp:

Nếu vụ án xử cùng lúc nhiều tội của bị cáo mà bản án hoặc quyết định không xác định riêng biệt mức hình phạt áp dụng với từng tội. Hội đồng giám đốc thẩm ra bản án hoặc quyết định định lại hình phạt và mức độ áp dụng đối với từng tội của bị cáo.

Trong trường hợp xét lại các bản án, quyết định phúc thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm nhận thấy bản án hoặc quyết định nhận định sự thật không rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ. Hội đồng giám đốc thẩm trả hồ sơ cho TAND xét xử sơ thẩm xét xử lại.

+ Tuyên bị cáo vô tội, nếu vụ án được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm nhận thấy bản án hoặc quyết định nhận định sự thật không rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ, sau khi thẩm tra lại vẫn không thể làm rõ bị cáo có tội hay không.

b. Thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật TTHS Liên bang Nga

- Về chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm, những chủ thể có quyền làm đơn kháng cáo, kháng nghị yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm gồm: 1- Người bị tình nghi, bị can, bị cáo, người được Tòa án tuyên vô tội, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của những chủ thể này; 2- Viện kiểm sát; 3- Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ (những chủ thể này chỉ có quyền kháng cáo đề nghị Tòa án xét lại, bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm đối với những vấn đề liên quan đến phần dân sự trong bản án, quyết định).

- Về đối tượng kháng cáo, kháng nghị, Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định đối tượng kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm là các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết định đó đã được ban hành không phù hợp với với những tình tiết thực tế của vụ án, việc giải quyết vụ án vi phạm pháp luật tố tụng hình sự hoặc việc giải quyết vụ án đã không áp dụng đúng pháp luật hình sự.

- Về thủ tục xem xét kháng cáo, kháng nghị, theo quy định của Bộ luật TTHS Liên bang Nga, kháng cáo, kháng nghị không đương nhiên làm phát sinh việc xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm mà trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị, Tòa án có thẩm quyền hoặc trong những trường hợp cần thiết, cá nhân Thẩm phán có trách nhiệm tiến hành thủ tục xem xét đơn kháng cáo, kháng nghị và ra một trong những quyết định sau: 1- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm; 2- Chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và chuyển kháng cáo, kháng nghị cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. Chánh án Tòa án tối cao nước cộng hoà, Chánh án Tòa án khu vực hoặc vùng, Chánh án Tòa án thành phố trực thuộc Liên bang, Chánh án Tòa án vùng hoặc khu vực tự trị, Chánh án Tòa án tối cao Liên bang hoặc cấp phó của những người này có thể ra quyết định huỷ bỏ quyết định của Thẩm phán về việc không chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và ra quyết định chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Về căn cứ để phá án, giống như pháp luật TTHS một số nước trên thế giới, Bộ luật TTHS Liên bang Nga không quy định cụ thể căn cứ để kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm mà chỉ quy định căn cứ để Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy bỏ hoặc sửa đổi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cụ thể là:

+ Kết luận của Tòa án nêu trong bản án không phù hợp với những tình tiết thực tế của vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm hoặc cấp chống án xác định, bao gồm những trường hợp cụ thể như: Kết luận của Tòa án không được khẳng định bằng những chứng cứ được xem xét tại phiên tòa; Tòa án đã không cân nhắc đến những tình tiết có ảnh hưởng cơ bản đến kết luận của Tòa án; còn tồn tại những chứng cứ đối lập nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc ra kết luận của Tòa án; trong vụ án còn những chứng cứ đối lập nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc ra phán quyết nhưng Tòa án đã chấp nhận một trong những chứng cứ đối lập mà không nêu ra những căn cứ của việc chấp nhận chứng cứ này và bác bỏ chứng cứ khác; kết luận của Tòa án được nêu trong bản án có những mâu thuẫn cơ bản và đã ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề có tội hoặc không có tội của người bị kết án hoặc người được tuyên vô tội, đến việc áp dụng đúng luật hình sự hoặc quyết định mức hình phạt.

+ Việc xét xử của Tòa án vi phạm luật TTHS, cụ thể là:

Tước bỏ hoặc hạn chế các quyền của những người tham gia tố tụng được Bộ luật TTHS quy định, không tuân thủ tố tụng hoặc thực hiện các hoạt động khác ảnh hưởng hoặc có thể gây ảnh hưởng đến việc ra bản án đúng pháp luật;

Tòa án không đình chỉ vụ án khi có những căn cứ sau đây: Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; người bị tình nghi hoặc bị can đã chết, trừ trường hợp cần tiến hành tố tụng để minh oan cho người đã chết; không có yêu cầu của người bị hại, nếu vụ án đó chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trừ trường hợp tội phạm đó xâm hại đến người đang ở trong tình trạng bị lệ thuộc hoặc do những nguyên nhân khác mà người đó không có khả năng tự mình sử dụng quyền yêu cầu của mình; không có kết luận của Tòa án về dấu hiệu tội phạm đối với hành vi của thành viên Hội đồng Liên bang Nga, đại biểu Đu-ma quốc gia, Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang Nga, Thẩm phán Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga, Thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang Nga, Trọng tài kinh tế tối cao Liên bang Nga, Tòa án tối cao nước cộng hòa, Tòa án vùng hoặc khu vực, Tòa án thành phố trực thuộc Liên bang, Tòa án miền hoặc khu vực tự trị, Tòa án trọng tài Liên bang, Tòa án quân sự quân khu (hạm đội) và các thẩm phán khác, đại biểu cơ quan lập pháp của chính quyền nhà nước các chủ thể Liên bang Nga, Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Luật sư; Không có sự đồng ý của Quốc hội, Đu-ma quốc gia, Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga, Hội đồng thẩm định chức danh Thẩm phán về việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với thành viên Hội đồng Liên bang Nga, đại biểu Đu-ma quốc gia, Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang Nga, Thẩm phán Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga, Thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang Nga, Trọng tài kinh tế tối cao Liên bang Nga, Tòa án tối cao nước cộng hòa, Tòa án vùng hoặc khu vực, Tòa án thành phố trực thuộc Liên bang, Tòa án miền hoặc khu vực tự trị, Tòa án trọng tài Liên bang, Tòa án quân sự quân khu (hạm đội) và các Thẩm phán khác; đã có quyết định đặc xá; đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi phạm tội đó hoặc quyết định đình chỉ vụ án đó; đã có quyết định của cơ quan điều tra ban đầu, dự thẩm viên, kiểm sát viên về việc đình chỉ vụ án hoặc về việc không khởi tố vụ án đó; Quốc hội và (hoặc) Đu-ma quốc gia không đồng ý việc tước bỏ quyền bất khả xâm phạm của Tổng thống Liên bang Nga sau khi đã từ nhiệm; Công tố viên rút quyết định truy tố nếu trong quá trình xét xử, công tố viên nhận thấy rằng các chứng cứ đưa ra không chứng minh được bị cáo có tội; người bị hại vắng mặt không có lý do chính đáng trong các vụ án tư tố; người bị nghi ngờ hoặc bị buộc tội đã thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng đã tự hòa giải được với người bị hại và bồi thường thiệt hại cho người bị hại; chứng cứ được thu thập vi phạm các quy định của Bộ luật TTHS; người phạm tội tỏ ra thành khẩn, ăn năn hối cải, theo các quy định cụ thể ở Phần riêng của BLHS; bản án do Hội đồng xét xử ban hành không đúng luật định hoặc phán quyết của Bồi thẩm đoàn do thành viên của Bồi thẩm đoàn thông qua không đúng luật định .

Việc xét xử vụ án không có mặt bị cáo, trừ trường hợp bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt trong các vụ án ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc trong trường hợp xét xử các vụ án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo đang ở nước ngoài và (hoặc) cố tình trốn tránh, đồng thời không bị nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó.

Việc xét xử không có mặt người bào chữa, nếu sự tham gia của họ là bắt buộc theo quy định của Bộ luật TTHS hoặc có những vi phạm khác xâm phạm đến quyền của bị can trong việc sử dụng sự giúp đỡ của người bào chữa.

Vi phạm quyền của bị cáo được sử dụng ngôn ngữ mà họ thông thạo và sự giúp đỡ của người phiên dịch.

Không cho bị cáo quyền tham gia tranh luận.

Không cho bị cáo nói lời sau cùng.

Vi phạm việc giữ bí mật nội dung thảo luận của Bồi thẩm đoàn khi ra phán quyết hoặc bí mật nội dung thảo luận của Thẩm phán khi ra bản án.

Bản án căn cứ vào những chứng cứ không được Tòa án chấp nhận

Không có chữ ký của Thẩm phán hoặc của một trong số những Thẩm phán nếu vụ án được xét xử tập thể trong quyết định của Tòa án;

Không có biên bản phiên tòa.

+ Áp dụng không đúng luật hình sự, cụ thể là: vi phạm những quy định phần chung của BLHS Liên bang Nga; không áp dụng điều luật (hoặc điểm, khoản) trong phần các tội phạm cụ thể của BLHS Liên bang Nga mà cần phải áp dụng; quyết định hình phạt nặng hơn quy định tại điều luật tương ứng phần các tội phạm của BLHS Liên bang Nga.

+ Không bảo đảm tính công bằng của bản án.

- Về thẩm quyền giám đốc thẩm, Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định 5 cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm: Hội đồng thẩm phán Toà án tối cao nước cộng hoà, Tòa án vùng hoặc khu vực, Tòa án thành phố trực thuộc liên bang, Tòa án vùng hoặc khu vực tự trị;  Uỷ ban thẩm phán về các vụ án hình sự Tòa án tối cao liên bang Nga; Hội đồng thẩm phán Tòa án quân sự cấp vùng (hạm đội); Uỷ ban thẩm phán quân sự của Tòa án tối cao Liên bang Nga; Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang Nga.

- Về phạm vi giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm có quyền xem xét toàn bộ vụ án, không bị hạn chế trong nội dung kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS Liên bang Nga cũng quy định rõ nguyên tắc đối với thủ tục giám đốc thẩm đó là việc xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm không được làm xấu hơn tình trạng ban đầu của người bị kết án, người được tuyên vô tội, người có quyết định đình chỉ vụ án.

- Về tiến trình tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm và thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định một thành viên Hội đồng giám đốc thẩm báo cáo về những tình tiết của vụ án; nội dung bản án, quyết định; lý do được đưa ra trong đơn kháng cáo, kháng nghị và việc ra quyết định chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau đó, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến bảo vệ nội dung kháng nghị giám đốc thẩm. Trường hợp người bị kết án, người được tuyên vô tội, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của những người này, người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tham gia phiên tòa thì sau khi Kiểm sát viên phát biểu, những người này có quyền đưa ra lời trình bày với Hội đồng.

Kết thúc phần trình bày, Kiểm sát viên và những người tham gia phiên tòa rời khỏi phòng xử án. Hội đồng giám đốc thẩm thảo luận và ra một trong các quyết định sau đây:

+ Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

+ Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và các quyết định tiếp theo của Tòa án và đình chỉ vụ án;

+ Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và các quyết định tiếp theo của Tòa án và để xét xử lại;

+ Huỷ bản án của Tòa án cấp chống án và trả lại vụ án để xét xử lại theo thủ tục chống án;

+ Huỷ quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm và các quyết định tiếp theo của Tòa án cấp phúc thẩm và trả lại vụ án để xét xử phúc thẩm lại

+ Sửa bản án, quyết định của Tòa án.

Hội đồng giám đồng thẩm ra quyết định theo phương thức bỏ phiếu. Đối với trường hợp huỷ bỏ hoặc sửa bản án, thì quyết định phải được thông qua với đa số phiếu của thành viên Hội đồng, trường hợp số phiếu của thành viên Hội đồng ngang nhau thì được coi là không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, trừ trường hợp xem xét kháng cáo, kháng nghị về huỷ bỏ hình phạt tử hình hoặc thay thế bằng hình phạt khác nhẹ hơn.

c. Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật TTHS Cộng hoà Pháp

- Về chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm, pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà Pháp quy định quyền kháng cáo giám đốc thẩm bản án hình sự thuộc về tất cả các bên bị ảnh hưởng tiêu cực từ bản án. Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa án phá án, Công tố viên có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Đối với các bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà phúc thẩm, Toà đại hình, Toà tiểu hình hoặc Toà vi cảnh, mặc dù các bên không kháng cáo, thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết, nhưng vì lợi ích của pháp luật, Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Toà pháp án vẫn có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm:

+ Các quyết định của phòng điều tra thuộc Toà phúc thẩm.

+ Các bản án phúc thẩm, bản án chung thẩm về trọng tội, khinh tội và tội vi cảnh.

- Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị, việc kháng cáo, kháng nghị  bản án, quyết định của Tòa án phải được tiến hành trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được ban hành; đối với quyết định của phòng điều tra, thời hạn kháng cáo, kháng nghị là 3 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành. Trường hợp các phán quyết sơ thẩm hoặc phúc thẩm tuyên vắng mặt bị cáo thì thời hạn kháng cáo giám đốc thẩm của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo không còn bị phản đối bởi đơn xin miễn trừ, thời hạn kháng nghị của Công tố viên được tính trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt, (Điều 568).

- Về thủ tục nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm, Bộ luật TTHS Pháp quy định đơn kháng cáo giám đốc thẩm phải được nộp tại Phòng lục sự của Tòa án đã ra quyết định bị kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có chữ ký của Lục sự, của người kháng cáo hoặc của Đại tụng viên bên cạnh Tòa án có bản án bị kháng cáo hoặc của một người được uỷ quyền đặc biệt. Trong trường hợp đơn kháng cáo phải có chữ ký của người uỷ quyền đặc biệt thì văn bản uỷ quyền phải đính kèm văn bản do Lục sự lập ra. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì đơn kháng cáo được gửi qua Giám đốc trại giam. Giám đốc trại giam phải ký xác nhận và ghi ngày tháng vào đơn sau đó gửi cho Phòng lục sự của Tòa án có bản án bị kháng cáo. Trường hợp người kháng cáo không thể ký vào đơn thì Lục sự phải ghi rõ điều này vào vụ án. Đơn kháng cáo phải được lưu vào một quyển sổ đặc biệt, mọi người có có quyền đề nghị Phòng lục sự cấp bản sao.

Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày gửi đơn kháng cáo, người kháng cáo phải thông báo việc kháng cáo cho Viện công tố và các bên liên quan bằng thư bảo đảm.

Sau khi hoàn tất hồ sơ, Lục sự chuyển hồ sơ cho Công tố viên và Công tố viên chuyển ngay cho Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa án phá án. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa án phá án có trách nhiệm chuyển hồ sơ lại cho Phòng lục sự của Toà hình sự Toà phá án. Chánh Toà hình sự Toà phá án uỷ quyền cho một thẩm phán làm báo cáo trước Hội đồng giám đốc thẩm. Người kháng cáo phải nộp bản tường trình về vụ án trong thời hạn luật định, trong đó nêu rõ lý do kháng cáo, những điều luật đã bị vi phạm trong việc xét xử của Tòa án. Sau khi Thẩm phán được giao nhiệm vụ xây dựng bản báo cáo trước Hội đồng giám đốc thẩm nộp bản báo cáo cho Chánh Toà hình sự Toà phá án thì các bản tường trình bổ sung không được Toà chấp nhận.

- Về căn cứ để phá án, Bộ luật TTHS Cộng hoà Pháp không quy định căn cứ để kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như pháp luật một số nước, song lại quy định cụ thể căn cứ để phá án đó là: khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết định đó được đưa ra không đúng pháp luật (bao gồm cả pháp luật về nội dung và pháp luật về thủ tục). Cụ thể như sau:

+ Số lượng thẩm phán tham gia xét xử không đúng theo pháp luật hoặc Thẩm phán không tham gia toàn bộ quá trình xét xử vụ án; việc xét xử và ra phán quyết của Tòa án không nghe Công tố viên trình bày; quyết định không được đưa ra tại phiên tòa công khai hoặc việc xét hỏi, tranh luận không được tiến hành tại phiên tòa công khai, trừ những trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định.

+ Các quyết định, bản án không nêu lý do hoặc có nêu lý do song không đủ cơ sở để Toà giám đốc thẩm kết luận về tính đúng pháp luật của bản án, quyết định đó; Các quyết định, bản án bỏ sót hoặc từ chối giải quyết yêu cầu của các bên hoặc yêu cầu của Công tố viên.

+ Hình phạt được áp dụng đối bị cáo phạm trọng tội không phải là hình phạt quy định với trọng tội.

+ Bản án tuyên bị cáo vô tội với căn cứ cho rằng pháp luật hình sự không quy định hành vi đó là tội phạm nhưng trên thực tế pháp luật hình sự lại quy định hành vi đó là tội phạm.

- Về cơ quan có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, Luật tổ chức Tòa án Cộng hoà Pháp quy định việc tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử bao gồm: Tòa sơ thẩm, Toà phúc thẩm, Toà phá án. Toà phá án là Tòa án tối cao là cơ quan duy nhất trong hệ thống Tòa án làm nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm.

- Về trình tự tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm, tại phiên tòa giám đốc thẩm, chủ tọa phiên tòa chỉ định người trình bày các bản báo cáo. Sau đó luật sư yêu cầu các bên trình bày bản nhận xét (nếu có). Do tính chất của thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục phá án nên sự tham gia của Luật sư tại Toà phá án mang tính bắt buộc. Luật sư ở Toà phá án không giống như luật sư hành nghề ở các Đoàn luật sư, họ là Đoàn luật sư của Toà phá án đồng thời là Luật sư của Toà hành chính tối cao. Tiếp đến Công tố viên trình bày các yêu cầu của Viện Công tố.

Kết thúc phần trình bày của các bên, Hội đồng chuyển sang nghị án. Tại phiên nghị án, từng thẩm phán phải nêu ý kiến của mình, Thẩm phán được giao nhiệm vụ chuẩn bị báo cáo trình bày trước, chủ toạ phiên tòa là người phát biểu cuối cùng. Đối với những trường hợp do pháp luật quy định, Toà phá án được phép chọn Toà phúc thẩm hoặc Toà sơ thẩm xét xử lại vụ án thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định riêng ngay tại phòng nghị án và phải ghi rõ quyết định này vào bản án.

- Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, kết thúc phần nghị án, Hội đồng giám đốc thẩm có quyền ra một trong các quyết định sau đây:

+ Không chấp nhận đơn kháng cáo, kháng nghị hoặc truất quyền kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đơn kháng cáo, kháng nghị không hợp lệ; bác đơn kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đơn kháng cáo, kháng nghị không có căn cứ.

+ Đình chỉ việc xét xử nếu đối tượng của việc kháng cáo, kháng nghị không còn.

+ Huỷ bản án, quyết định và chuyển vụ án cho Tòa án, phòng điều tra có thẩm quyền để tiếp tục tiến hành các thủ tục tố tụng hoặc để xét xử lại.

+ Huỷ quyết định của phòng điều tra và chuyển vụ án cho phòng điều tra có thẩm quyền để tiếp tục tiến hành các hoạt động tố tụng.

3. Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật Việt Nam hiện hành

Bộ luật TTHS năm 2003 đã dành một chương riêng quy định về thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự (Chương XXX, gồm các điều từ Điều 272 đến Điều 289). Theo quy định tại Điều 272 Bộ luật TTHS, việc giám đốc thẩm một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án chỉ được tiến hành khi có đủ các điều kiện cần thiết sau đây:

Một là, bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

Hai là, có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án;

Ba là, có kháng nghị của người có thẩm quyền đối với bản án, quyết định đó, việc kháng nghị phải theo đúng các trình tự và thủ tục mà Bộ luật TTHS quy định.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự có một số đặc điểm sau đây[2]:

Thứ nhất, giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba, mà giám đốc thẩm là thủ tục “xét lại” bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là thủ tục “xét xử lại vụ án”; đối tượng của hoạt động “xét lại” không phải là “vụ án” mà là các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân  các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (Điều 272 và Điều 275 Bộ luật TTHS năm 2003).    

Thứ hai, thẩm quyền giám đốc thẩm không chỉ là TAND tối cao mà còn được quy định cho TAND cấp tỉnh, Toà án quân sự Trung ương, Toà án quân sự cấp quân khu, cụ thể là: Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh, Uỷ ban thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu; Toà hình sự TAND tối cao, Toà án quân sự Trung ương; và Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (Điều 279 Bộ luật TTHS năm 2003).    

Thứ ba, Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ ghi nhận quyền kháng nghị giám đốc thẩm của một số ít người có thẩm quyền trong cơ quan Toà án và Viện kiểm sát  mà không quy định quyền kháng cáo giám đốc thẩm của người bị kết án, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự “trong vụ án hình sự”. Như vậy, để “khởi động” thủ tục giám đốc thẩm, bắt buộc phải có kháng nghị của người có thẩm quyền được pháp luật quy định. Nếu Điều 244 Bộ luật TTHS năm 1988 quy định cả Phó Chánh án TAND tối cao, Phó Viện trưởng VKSND tối cao cũng có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, thì nay Điều 275 Bộ luật TTHS năm 2003 đã bỏ quy định này mà chỉ quy định thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của “Chánh án” và “Viện trưởng” trong hệ thống Toà án và Viện kiểm sát. Những người này thực hiện thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm theo nguyên tắc, một là, kháng nghị được thực hiện tại Toà án cấp dưới hoặc cấp tương đương; hai là, kháng nghị phụ thuộc “tuyệt đối” vào ý chí của người có thẩm quyền kháng nghị, họ thực hiện quyền kháng nghị dựa trên kết quả của công tác giám đốc việc xét xử (đối với Tòa án), công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (đối với Viện kiểm sát) mà không phụ thuộc vào việc người bị kết án, công dân, tổ chức có đơn đề nghị, đơn yêu cầu giám đốc thẩm hay không.

Thứ tư, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành khi việc xử lý vụ án hình sự có vi phạm pháp luật ở mức “nghiêm trọng”. Theo quy định tại Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003, những căn cứ sau đây được coi là vi phạm pháp luật ở mức “nghiêm trọng” trong việc xử lý vụ án: 1- Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ; 2- Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; 3- Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; 4- Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS.            

Thứ năm, việc thông báo của những người phát hiện bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm được coi như một hình thức “yêu cầu khiếu nại, khiếu tố” giám đốc thẩm và do đó, người có quyền kháng nghị phải có trách nhiệm trả lời cho tất cả những người thông báo biết lý do trong trường hợp không kháng nghị (Điều 274, khoản 2 Điều 277 Bộ luật TTHS năm 2003).    

Thứ sáu, thẩm quyền giám đốc thẩm không chỉ giới hạn ở việc kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án khi “có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử” (khoản 3 Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003) hoặc khi “có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS” (khoản 4 Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003) mà bao gồm cả việc kiểm tra tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án khi “việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ” (khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003) hoặc khi “kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án” (khoản 2 Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003). Điều đó cũng có nghĩa, Hội đồng giám đốc thẩm trong TTHS không những chỉ xem xét vấn đề áp dụng pháp luật (pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng) mà còn xem xét cả vấn đề đánh giá chứng cứ của vụ án.    

Thứ bảy, Hội đồng giám đốc thẩm không có thẩm quyền “sửa bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” như đã được quy định tại khoản 4 Điều 254 Bộ luật TTHS năm 1988 mà chỉ có hai loại thẩm quyền, một là, không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án (khoản 1 Điều 285 Bộ luật TTHS năm 2003); hai là, huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và đình chỉ vụ án, bà là: huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án để điều tra lại hoặc xét xử lại (khoản 2 và khoản 3 Điều 285 Bộ luật TTHS năm 2003).        

Thứ tám, phiên toà giám đốc thẩm không mở công khai. Về thành phần tham gia, chỉ đại diện Viện kiểm sát cùng cấp bắt buộc phải có mặt; người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được tham gia phiên toà giám đốc thẩm trong trường hợp Toà án “xét thấy cần thiết” (Điều 280 Bộ luật TTHS năm 2003).    

Thứ chín, việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật; trong trường hợp kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ (Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2003).  

a. Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm

Theo quy định của Bộ luật TTHS, để giám đốc thẩm một vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thực hiện nhiều hoạt động tố tụng như: phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm; kháng nghị theo thủ tục thủ tục giám đốc thẩm của những người có thẩm quyền; tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; mở phiên toà giám đốc thẩm và quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm... Trong  các hoạt động tố tụng nêu trên thì hoạt động kháng nghị bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật của người có thẩm quyền là quan trọng nhất vì quyết định kháng nghị là cơ sở làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm, nếu không có kháng nghị giám đốc thẩm thì cho dù bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, vụ án cũng không được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là quyết định của người có thẩm quyền đối với toàn bộ hay một phần bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Toà án có thẩm quyền xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Khác với pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam không quy định quyền kháng cáo giám đốc thẩm của bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật TTHS năm 2003, người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm những người sau đây:

- Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao;

- Chánh án Toà án quân sự trung ương và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp dưới;

- Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới.

So sánh với Bộ luật TTHS năm 1988 cho thấy, Điều 275 Bộ luật TTHS năm 2003 đã bỏ quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật TTHS năm 1988 quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Phó Chánh án TAND tối cao và Phó Viện trưởng VKSND tối cao đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án cấp dưới. Quy định này là phù hợp với Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 và Luật tổ chức VKSND năm 2002.

Điều 276 Bộ luật TTHS năm 2003 còn quy định những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, khi kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đó. Quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án phải gửi cho Toà án, Viện kiểm sát nơi đã xử sơ thẩm và cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Quy định về trách nhiệm gửi quyết định tạm đình chỉ thi hành án là điểm mới của Bộ luật TTHS năm 2003 so với Bộ luật TTHS năm 1988.

Nghiên cứu các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm cho thấy:

- Thứ nhất, quyền kháng nghị giám đốc thẩm chỉ được trao cho người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng là Chánh án Toà án nhân dân (Chánh án TAND tối cao, Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự Trung ương, Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu) và Viện trưởng VKSND (Viện trưởng VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu). Khi thực hiện quyền kháng nghị, các chủ thể này phải nhân danh chính mình để thực hiện các quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định. Người bị kết án, cơ quan, tổ chức, công dân chỉ có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và có quyền thông báo cho những người có quyền kháng nghị biết để kháng nghị.

Có ý kiến cho rằng, việc pháp luật quy định chỉ có “Chánh án”  và “Viện trưởng” mới có quyền kháng nghị giám đốc thẩm là chưa hợp lý, còn có sự chồng chéo và chưa phân định rạch ròi chức năng của mỗi ngành: ngành Toà án có chức năng xét xử và ngành Kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong đó có quyền kháng nghị các bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục giám đốc thẩm. Về vấn đề này, tham khảo pháp luật TTHS của một số nước trên thế giới cho thấy: ở nhiều nước, quyền kháng nghị giám đốc thẩm được giao cho cơ quan công tố, chứ không giao cho Toà án. Vì vậy, đề nghị sửa đổi Điều 275 Bộ luật TTHS năm 2003 theo hướng bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Chánh án TAND tối cao, Chánh án Toà án quân sự Trung ương, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu. Chúng tôi cho rằng, ý kiến này có thể nghiên cứu, tham khảo trong quá trình sửa đổi Bộ luật TTHS trong thời gian tới.

Mặt khác, tham khảo kinh nghiệm của một số nước cho thấy, bên cạnh việc quy định các cơ quan tố tụng có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, pháp luật còn quy định quyền kháng cáo theo thủ tục giám đốc thẩm của người bị kết án, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự. Pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam không quy định như vậy. Có ý kiến cho rằng, đây cũng là một điểm hạn chế của chế định giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, bởi vì, kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm, trước hết phải là quyền và khả năng bảo vệ của bên bị buộc tội và bên buộc tội. Vì thế, bên cạnh quyền kháng nghị giám đốc thẩm của cơ quan công tố, pháp luật của nhiều nước có quy định về quyền kháng cáo giám đốc thẩm của người bị kết án cũng như của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Việc ghi nhận quyền kháng cáo giám đốc thẩm không làm mất đi tính chất đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm. Điều tạo nên tính chất đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm thể hiện ở chỗ, khác với kháng cáo phúc thẩm thông thường, kháng cáo giám đốc thẩm không đương nhiên dẫn tới việc mở phiên toà giám đốc thẩm mà cần có thủ tục tố tụng “riêng và đặc biệt” nhằm kiểm tra, xem xét việc kháng cáo giám đốc thẩm đó có cơ sở hay không rồi mới quyết định việc mở phiên toà giám đốc thẩm. Do đó, việc Bộ luật TTHS năm 2003 không ghi nhận quyền kháng cáo giám đốc thẩm của người bị kết án cũng như của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không những không bảo đảm quyền và khả năng bảo vệ của những người này mà còn không thực sự có ý nghĩa trong việc bảo đảm tính chất đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm. Vấn đề đặt ra là phải tránh tình trạng kháng cáo tràn lan. Do đó,  trong thời gian tới, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về quyền kháng cáo giám đốc thẩm của người bị kết án, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự. Tuy nhiên, kháng cáo giám đốc thẩm của những chủ thể này không mặc nhiên dẫn đến thủ tục giám đốc thẩm mà pháp luật cần quy định việc kiểm tra, xem xét việc kháng cáo đó là có cơ sở hay không để Toà án quyết định mở thủ tục giám đốc thẩm (về vấn đề này, có thể tham khảo Bộ luật TTHS của Liên bang Nga). Đồng thời, có thể quy định người kháng cáo phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí để bảo đảm cho việc kháng cáo của mình.  

- Thứ hai, người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm khi kháng nghị giám đốc thẩm có toàn quyền quyết định việc kháng nghị, không phụ thuộc vào việc có thông báo của người bị kết án hoặc của cơ quan, tổ chức, công dân hay không; đồng thời trong trường hợp có thông báo của người bị kết án, cơ quan, tổ chức, công dân thì việc kháng nghị cũng không bị giới hạn bởi nội dung thông báo này. Theo quy định của pháp luật, kháng nghị giám đốc thẩm chính là cơ sở để Toà án tiến hành thủ tục giám đốc thẩm. Khi có kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền là Toà án phải mở thủ tục giám đốc thẩm, không phụ thuộc vào việc kháng nghị đó là có căn cứ hay không có căn cứ. Tính có căn cứ của kháng nghị chỉ là cơ sở để Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm chứ không phải là căn cứ để Toà án xem xét có mở thủ tục giám đốc thẩm hay không. Về vấn đề này, có ý kiến cho rằng việc quy định thẩm quyền giám đốc thẩm như vậy là quá rộng, cần giới hạn phạm vi thực hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền kháng nghị bằng cách quy định thật cụ thể, rõ ràng các căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm và người có thẩm quyền chỉ được thực hiện việc kháng nghị giám đốc thẩm khi chứng minh được các căn cứ đó.

 b. Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm

Do tính chất của thủ tục giám đốc thẩm là “xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật” để khắc phục những vi phạm nghiêm trọng của các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, đòi hỏi việc giám đốc thẩm vụ án hình sự phải được tiến hành hết sức thận trọng, khi có đủ cơ sở để cho rằng việc giải quyết vụ án trước đó là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Chính vì vậy, Bộ luật TTHS  năm 2003 đã quy định các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Chỉ khi có một trong các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo luật định thì người có thẩm quyền kháng nghị mới được thực hiện quyền kháng nghị và Toà án mới tiến hành xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều 242 Bộ luật TTHS năm 1988 và Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003 đều quy định các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm:

- Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;

- Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

- Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử;

- Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS.

 Mặc dù Bộ luật TTHS đã quy định những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nêu trên, nhưng cho đến nay chưa có giải thích chính thức của cơ quan có thẩm quyền về nội dung của căn cứ này. Do vậy, thực tiễn áp dụng các quy định này đã nảy sinh một số vấn đề tranh luận như: hiểu như thế nào là vi phạm pháp luật nghiêm trọng? như thế nào là việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ? việc áp dụng Bộ luật hình sự như thế nào là có sai lầm nghiêm trọng? ...

Qua thực tiễn áp dụng các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cho thấy: nội dung của các căn cứ này có thể được hiểu như sau:

Căn cứ thứ nhất, việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ

Bộ luật TTHS năm 2003 không có quy định nào về việc điều tra tại phiên toà. Thực tiễn các phiên toà xét xử các vụ án hình sự cho thấy, tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng có nhiều hoạt động như: kiểm tra căn cước của những người được triệu tập có mặt tại phiên toà, xét hỏi bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, công bố lời khai mà cơ quan điều tra đã thu thập được (nếu thấy cần thiết), xem xét vật chứng… Trong các hoạt động đó, hoạt động xét hỏi tại phiên toà là hoạt động chủ yếu. Do vậy, có thể hiểu quy định “việc điều tra xét hỏi tại phiên toà” là để nhấn mạnh đến hoạt động tố tụng “xét hỏi tại phiên toà” và đây là hoạt động khác với hoạt động điều tra vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra.

Căn cứ về việc điều tra xét hỏi tại phiên toà là “phiến diện” được hiểu là việc xét hỏi tại phiên toà không bảo đảm tính khách quan, quá chú ý đến chứng cứ buộc tội mà bỏ qua chứng cứ gỡ tội hoặc ngược lại (trường hợp có định kiến với bị cáo, cho rằng bị cáo có tội thì người xét hỏi thường chỉ chú ý đến chứng cứ buộc tội, ngược lại, nếu có định kiến cho rằng bị cáo không có tội thì lại chỉ chú ý đến các chứng cứ gỡ tội); hoặc quá chú ý đến các tình tiết tăng nặng mà không xét hỏi các tình tiết giảm nhẹ hoặc ngược lại.

Căn cứ về việc điều tra xét hỏi là “không đầy đủ” được hiểu là hoạt động xét hỏi tại phiên toà còn thiếu những chứng cứ, tình tiết mà lẽ ra phải được xem xét, đánh giá tại phiên toà và việc thiếu những chứng cứ, tình tiết này dẫn đến không có đủ cơ sở để xác định tội phạm được chính xác, ví dụ: chỉ xét hỏi bị cáo mà không xét hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; hoặc chỉ xét hỏi các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự mà không xét hỏi các tình tiết liên quan đến vấn đề dân sự trong vụ án…

Tuy nhiên, pháp luật thực định chưa có quy định cụ thể về các trường hợp được coi là “việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ”. Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định rõ các trường hợp này để tạo thuận lợi và tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.

Căn cứ thứ hai, kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án    

Các tình tiết khách quan của vụ án là những sự kiện, tình tiết có thật diễn ra ngoài ý muốn của con người. Do vậy, những tình tiết nào bị con người làm cho nó thay đổi theo nhận thức của họ thì không phải là tình tiết khách quan của vụ án. Kết luận trong bản án, quyết định của Toà án bị coi là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nếu như: kết luận trong bản án hoặc quyết định đó không phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, hoặc việc đưa ra kết luận không dựa trên cơ sở xem xét các tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án, hoặc có những mâu thuẫn giữa các chứng cứ có ý nghĩa cơ bản đối với vụ án nhưng trong bản án hoặc quyết định của Toà án không nêu được những căn cứ để Toà án chấp nhận chứng cứ này và bác bỏ chứng cứ khác. Tuy nhiên, cũng cần phải luật hoá các trường hợp được coi là “kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án” để tránh việc hiểu và áp dụng pháp luật một cách không thống nhất.

Căn cứ hồ sơ vụ án, có thể thấy rõ hành vi phạm tội của bị cáo là có tính chất băng nhóm, với nhiều can phạm tham gia, nhưng cơ quan tố tụng chỉ xét xử có một bị cáo là bỏ lọt tội phạm. Bị cáo phạm tội nhiều lần, gây thương tích cho nhiều người, trong thời gian ngắn; sử dụng hung khí nguy hiểm, hành hung người khác một cách vô cớ, ngay cả với những người không hề có mâu thuẫn gì với mình, thể hiện rõ tính côn đồ, hung hãn của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm cho Trường hưởng án treo là không đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, thể hiện qua những tình tiết nêu trên của vụ án.

Có ý kiến cho rằng, quy định về hai căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là “việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ” và “kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án” (tại khoản 1 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003) có điểm chưa hợp lý ở chỗ, nếu theo các căn cứ này, Hội đồng giám đốc thẩm sẽ có thẩm quyền xem xét vấn đề đánh giá chứng cứ của vụ án, như vậy sẽ dẫn đến tình trạng thủ tục giám đốc thẩm không còn đúng nghĩa là thủ tục đặc biệt nữa mà gần giống với thủ tục thông thường - một cấp xét xử phúc thẩm lần thứ hai hay một cấp xét xử thứ ba. Đó cũng là một phần lý do tại sao thủ tục giám đốc thẩm nhiều nước chỉ xem xét vấn đề áp dụng pháp luật mà hầu như không xem xét lại các tình tiết thực tế của vụ án. Tuy nhiên, với thực tiễn xét xử ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện Toà án các cấp còn mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng khi đánh giá chứng cứ của vụ án, thì quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm nêu trên sẽ tạo cơ sở pháp lý cho Hội đồng giám đốc thẩm có thể kiểm tra cả tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, qua đó khắc phục sai lầm của Toà án cấp dưới. Vì vậy, cần có một giải pháp dung hoà, theo đó, các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm và thẩm quyền giám đốc thẩm cần đặt trọng tâm vào việc xem xét vấn đề áp dụng pháp luật, còn việc xem xét vấn đề đánh giá chứng cứ sẽ chỉ đặt ra trong trường hợp thật đặc biệt, ví dụ như trong trường hợp “kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án đã được Toà án sơ thẩm, phúc thẩm xác định”. Nếu đi theo hướng này, cần bỏ căn cứ “việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ” quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003. Việc bỏ căn cứ nêu trên sẽ có tác dụng kép, một mặt, góp phần tăng cường tính chất đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm là tập trung xem xét vấn đề áp dụng pháp luật; mặt khác, vừa góp phần nâng cao vai trò, trách nhiệm xét xử của Toà án, bảo đảm “việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo…”, vừa góp phần đề cao yếu tố tranh tụng, chủ yếu là giữa Công tố viên và luật sư bào chữa tại phiên toà xét xử[3].

Căn cứ thứ ba, có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử

Những vi phạm nghiêm trọng thủ tục trong điều tra, truy tố và xét xử là những vi phạm trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử vụ án làm tước bỏ hoặc hạn chế quyền của những người tham gia tố tụng ở các giai đoạn tố tụng này hoặc làm cho Toà án xét xử không khách quan, không đúng pháp luật hoặc không có căn cứ.

Những vi phạm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử diễn ra rất đa dạng, nhưng cho đến nay chưa có văn bản pháp luật giải thích như thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử để vận dụng được thuận lợi và thống nhất. Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hiện thủ tục giám đốc thẩm các vụ án hình sự, những vi phạm nghiêm trọng là cơ sở để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thường được hiểu như sau:

 Ở giai đoạn điều tra

Những vi phạm về thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra được coi là vi phạm nghiêm trọng thường là những trường hợp như: khởi tố vụ án và khởi tố bị can không có yêu cầu của người bị hại đối với các vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại Điều 105 Bộ luật TTHS; nhập hoặc tách các vụ án hình sự để điều tra không đúng thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật TTHS; không yêu cầu luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS; kết luận giám định lại vẫn do giám định viên cũ thực hiện vi phạm Điều 159 Bộ luật TTHS; hành vi của người phạm tội đã có một bản án do một Toà án khác xét xử đã có hiệu lực pháp luật nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không biết nên vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự họ một lần nữa; có căn cứ xác định điều tra viên khi lấy lời khai của bị can đã bức cung, dùng nhục hình đối với họ…

Trong các trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng ở giai đoạn điều tra có những vi phạm sẽ dẫn đến việc truy tố và xét xử sai, những trường hợp như vậy, người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm phải thực hiện việc kháng nghị để khắc phục vi phạm. Tuy nhiên, cũng có trường hợp mặc dù có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng không làm ảnh hưởng đến việc truy tố hoặc xét xử của Toà án (không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án). Như vậy, có bị coi là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và phải thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hay không? Ví dụ, việc giám định lại không do người giám định khác tiến hành mặc dù kết quả giám định đó phản ánh đúng thực tế khách quan nhưng vẫn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 159 Bộ luật TTHS.

Về vấn đề này, có ý kiến cho rằng, cứ có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là có căn cứ kháng nghị và người có thẩm quyền kháng nghị phải thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ý kiến khác lại cho rằng, mặc dù có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng nếu vi phạm đó không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án thì không nên kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Chúng tôi cũng đồng ý với ý kiến này bởi vì, việc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mặc dù là có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tuy nhiên còn phải xét đến sự cần thiết của việc kháng nghị giám đốc thẩm. Nếu kháng nghị để xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm mà không làm thay đổi kết quả giải quyết vụ án thì việc tiến hành thủ tục giám đốc thẩm đó là không cần thiết, gây lãng phí thời gian và chi phí, đồng thời tạo thêm sức ép công việc cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong những trường hợp như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ nên trao đổi, rút kinh nghiệm để khắc phục vi phạm.

Ở giai đoạn truy tố

Những vi phạm thủ tục tố tụng hình sự nghiêm trọng ở giai đoạn truy tố để phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thường ít xảy ra hơn là ở giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử bởi vì quyết định truy tố của Viện kiểm sát là giai đoạn kế tiếp giai đoạn điều tra vụ án của cơ quan điều tra để vụ án được đưa ra xét xử. Do vậy, trong thực tế Hội đồng xét xử phúc thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm thường chỉ quyết định huỷ bản án để điều tra lại cho đúng pháp luật chứ không quyết định huỷ bản án để truy tố lại cho đúng pháp luật. Tuy nhiên, cũng có trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng ở giai đoạn truy tố ví dụ như: truy tố không đúng thẩm quyền.

Ở giai đoạn xét xử

Những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thường là những vi phạm như: xét xử sai thẩm quyền; việc giao các quyết định của Toà án không đúng với quy định tại Điều 182 Bộ luật TTHS; thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của pháp luật; xét xử vắng mặt bị cáo trong trường hợp bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng; xét xử vắng mặt người bị hại trong trường hợp sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo; xét xử vắng mặt người bào chữa trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và văn phòng luật sư hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận đã phân công hoặc cử người bào chữa cho bị cáo nhưng họ vắng mặt; nội dung quyết định của bản án mâu thuẫn với biên bản nghị án hoặc mâu thuẫn với biên bản phiên toà; chủ toạ phiên toà không thực hiện các quy định của Bộ luật TTHS như: không đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; xác định sai tư cách tố tụng của những người tham gia tố tụng; không cho bị cáo nói lời sau cùng; không có biên bản phiên toà hoặc biên bản phiên toà không có chữ ký của thư ký phiên toà hoặc của Thẩm phán chủ tọa phiên toà ...

Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cũng tương tự như ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, do tính chất của thủ tục phúc thẩm nên có những quy định của Bộ luật TTHS nếu ở cấp sơ thẩm không thực hiện sẽ bị coi là vi phạm còn ở cấp phúc thẩm không thực hiện vẫn không coi là vi phạm (ví dụ: người bị hại vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà, nhưng ở cấp phúc thẩm thì có thể tiến hành xét xử). Ngoài ra, ở giai đoạn xét xử phúc thẩm còn có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà ở giai đoạn xét xử sơ thẩm không có như: Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án cấp sơ thẩm theo hướng tăng nặng đối với bị cáo trong trường hợp không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng đó hoặc kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng cho bị cáo đã quá thời hạn quy định của pháp luật nhưng vẫn được Toà án chấp nhận.

Căn cứ thứ tư, có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS

Trong quá trình xét xử từng vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự để đưa ra quyết định xử lý người phạm tội, bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, đồng thời cũng không để lọt kẻ phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, có những trường hợp bản án hoặc quyết định của Toà án có những thiếu sót, thậm chí sai lầm nghiêm trọng dẫn đến việc xử lý hành vi phạm tội không được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS là căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thường biểu hiện như: kết án người không có hành vi phạm tội; kết án người mà hành vi của họ không cấu thành tội phạm; kết án người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; bỏ lọt tội phạm (bao gồm cả việc bỏ lọt hành vi phạm tội và bỏ lọt kẻ phạm tội); kết án không đúng với tội danh mà BLHS quy định; áp dụng không đúng điều khoản của BLHS dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ đối với người phạm tội hoặc quyết định mức bồi thường thiệt hại không có căn cứ, tịch thu tiền hoặc tang vật không đúng với quy định của pháp luật… Tuy nhiên, pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về các trường hợp được coi là “có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS”, vì vậy, trong thời gian tới sửa đổi Bộ luật TTHS, cần phải bổ sung quy định các trường hợp này để bảo đảm sự thống nhất trọng nhận thức và áp dụng.

Có thể nhận thấy, dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, quy định của BLTTHS năm 2003 về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm còn rộng, không rõ ràng, dễ bị lạm dụng hoặc vận dụng sai, nhất là quy định về căn cứ “việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ” và “kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án” được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật TTHS năm 2003. Nếu không quy định căn cứ kháng nghị chặt chẽ, rõ ràng hơn thì rất khó có thể “khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ…” như yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra.

c. Về thẩm quyền giám đốc thẩm

Theo Điều 279 Bộ luật TTHS năm 2003, việc giám đốc thẩm vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thẩm phán Toà án cấp tỉnh; Uỷ ban thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu; Toà hình sự TAND tối cao, Toà án quân sự Trung ương và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. So với Bộ luật TTHS năm 1988, Bộ luật TTHS năm 2003 đã sửa đổi, bỏ quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán TAND tối cao cho phù hợp với Luật tổ chức TAND năm 2002; đồng thời đã bổ sung quy định trường hợp những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau được quy định tại khoản 1, 2 và 3 của Điều 279 Bộ luật TTHS năm 2003 thì cấp có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

Trong thời gian tới, tổ chức của hệ thống TAND sẽ có sự thay đổi căn bản theo yêu cầu của cải cách tư pháp đã được nêu trong các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Theo đó, tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; TAND tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm… Nghiên cứu, xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, những vụ án liên quan đến bí mật quân sự… Thực hiện các yêu cầu cải cách tư pháp nêu trên, thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự của Toà án sẽ có sự thay đổi căn bản so với quy định hiện nay.

d. Về thành phần tham gia phiên toà giám đốc thẩm và thành phần Hội đồng giám đốc thẩm

Điều 280 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định “những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm”, về cơ bản, nội dung của điều luật này vẫn giống với quy định tại Điều 249 Bộ luật TTHS năm 1988, tuy nhiên có một điểm sửa đổi so với trước đây là thay vì quy định “phiên toà giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền” (Điều 249 Bộ luật TTHS 1988). Điều 280 Bộ luật TTHS 2003 đã quy định “phiên toà giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp”. Điều đó cho thấy, Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà là với tư cách đại diện Viện kiểm sát, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án chứ không phải với tư cách cá nhân của chính Công tố viên, mà quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án đã được Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát thông qua. Chính vì vậy, nếu tại phiên toà phát hiện các tình tiết mới có thể làm thay đổi quan điểm về việc giải quyết vụ án trước đó đã được Lãnh đạo Viện thông qua, Kiểm sát viên chưa báo cáo với Lãnh đạo Viện kiểm sát về các tình tiết mới này, thì Kiểm sát viên cũng không có quyền thay đổi quan điểm. Thực tế, trong trường hợp này, Hội đồng giám đốc thẩm thường phải hoãn phiên toà với lý do để thông báo cho người kháng nghị xem xét có rút kháng nghị hay không hoặc qua thảo luận thấy có những vấn đề cần nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS lại chưa có quy định về việc hoãn phiên toà trong trường hợp này, vì vậy, cần bổ sung thêm trường hợp hoãn phiên toà giám đốc thẩm cho phù hợp với thực tiễn. Đồng thời cần nghiên cứu việc bổ sung quy định thêm quyền cho Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà giám đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị tại phiên toà, tất nhiên quyền này phải gắn với trách nhiệm của Kiểm sát viên nếu đưa ra quyết định tại phiên toà không đúng với quy định của pháp luật.

Tại khoản 2 Điều 281 Bộ luật TTHS năm 2003 đã bổ sung quy định mới so với Bộ luật TTHS năm 1988 về trình tự biểu quyết về nội dung kháng nghị tại phiên toà giám đốc thẩm, theo đó “Tại phiên toà giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh, Uỷ ban thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao khi biểu quyết về nội dung kháng nghị thì phải biểu quyết theo trình tự những ý kiến đồng ý với kháng nghị, những ý kiến không đồng ý với kháng nghị. Nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán biểu quyết tán thành, thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà thì Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán phải mở phiên toà xét xử lại vụ án với sự tham gia của toàn thể các thành viên”.

đ. Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm

Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm được quy định tại Điều 285 Bộ luật TTHS năm 2003. Xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử và tính chất của giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Bộ luật TTHS năm 2003 đã bỏ quy định tại khoản 4 Điều 254 và Điều 257 Bộ luật TTHS năm 1988 về thẩm quyền “sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật” của Hội đồng giám đốc thẩm. Đây là điểm sửa đổi cơ bản và quan trọng, khẳng định giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà là một thủ tục tố tụng đặc biệt, thực hiện chức năng tương tự như chức năng của Toà phá án như ở một số nước trên thế giới.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, việc quy định Hội đồng giám đốc thẩm không có quyền “sửa án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án” cũng có điểm chưa hợp lý, bởi vì, (i) thẩm quyền sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là một phương thức quan trọng giúp Hội đồng giám đốc thẩm có thể tự mình và trực tiếp khắc phục sai lầm của Toà án cấp dưới, tránh tình trạng phải hủy án để xét xử lại dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài không cần thiết. Đó là chưa kể đến việc trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp khi có quyết định giám đốc thẩm, có những Toà án cấp dưới đã không xét xử theo hướng giải quyết thể hiện trong quyết định giám đốc thẩm, mà vẫn tiếp tục xét xử như cũ hoặc theo hướng khác. Khi đó lại phát sinh kháng nghị và mở lại phiên toà giám đốc thẩm một lần nữa; (ii) “giám đốc thẩm” không đồng nhất và không nhất thiết phải là “phá án”. Giám đốc thẩm có thể đồng thời vừa là cấp “phá án” khi Hội đồng giám đốc thẩm giữ nguyên hoặc huỷ án, vừa là cấp đưa ra phán quyết cuối cùng về các vấn đề áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật của Toà án cấp dưới khi Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong điều kiện hạn chế tối đa hoặc không chấp nhận chứng cứ mới tại phiên toà giám đốc thẩm. Đây là quan niệm được thể hiện trong pháp luật các nước phát triển như Liên bang Nga và một số nước theo truyền thống án lệ như Vương quốc Anh, Úc, Hoa Kỳ… Với cách đặt vấn đề như vậy, ý kiến này cho rằng, việc quy định quyền “sửa án” cho Hội đồng giám đốc thẩm sẽ giúp đạt được hai mục đích: Thứ nhất, đề cao nguyên tắc tiết kiệm trong hoạt động tố tụng tư pháp, đơn giản bớt các thủ tục quá nhiều tầng nấc, rườm rà và phức tạp; thứ hai, kết hợp được ưu điểm của thủ tục “phá án” và thủ tục giám đốc thẩm ở nhiều nước phát triển nêu trên.                        

Về quy định thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong việc “huỷ án để điều tra lại”, có ý kiến cho rằng, quy định này chỉ phù hợp khi có hai điều kiện, thứ nhất, nếu quy định tại Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003 về trách nhiệm chứng minh tội phạm của Toà án được tiếp tục giữ nguyên; thứ hai, nếu chúng ta coi việc khắc phục sai lầm, thiếu sót trong công tác điều tra, truy tố là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, nếu chúng ta đổi mới trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp trên cơ sở phân định rõ ba chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử, theo đó Toà án là cơ quan xét xử, không phải là bên buộc tội và cũng không phải là cơ quan truy cứu trách nhiệm hình sự; và nếu chúng ta coi nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng nhất của thủ tục giám đốc thẩm là khắc phục vi phạm pháp luật nghiêm trọng của Toà án cấp dưới, hướng dẫn áp dụng pháp luật đúng và thống nhất trong hoạt động xét xử, thì không thể không xem xét việc bỏ thẩm quyền “huỷ án để điều tra lại” của Hội đồng giám đốc thẩm. Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, hầu như không có nước nào có quy định Hội đồng giám đốc thẩm được “huỷ án để điều tra lại” như ở nước ta.

4. Thẩm quyền của VKSND trong thủ tục giám đốc thẩm

a. Thẩm quyền của cơ quan công tố trong thực hiện thủ tục giám đốc thẩm hình sự theo pháp luật của một số nước trên thế giới

a1. Pháp luật một số quốc gia theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa

        Pháp luật của các nước này đều đề cao vai trò, trách nhiệm của Viện công tố trong thủ tục phá án. Bộ luật TTHS của nước Cộng hoà Pháp quy định thẩm quyền của Viện công tố trong thủ tục phá án, cụ thể như sau:

        - Thẩm quyền kháng nghị phá án

Điều 567 Bộ luật TTHS nước Cộng hoà Pháp quy định, nếu xét thấy quyết định của Toà điều tra phúc thẩm, bản án phúc thẩm, bản án chung thẩm về trọng tội, khinh tội hoặc tội vi cảnh có vi phạm pháp luật thì Viện công tố có thể kháng nghị lên Toà phá án để yêu cầu huỷ quyết định hoặc bản án đó. Đối với bản án phúc thẩm, bản án sơ chung thẩm của Toà phúc thẩm, Toà đại hình, Toà tiểu hình hoặc Toà vi cảnh, nếu không có ai kháng cáo trong thời hạn luật định thì Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phá án có thể kháng nghị vì lợi ích của pháp luật dù thời hạn kháng cáo đã hết. Tuy nhiên, các bên không thể dựa vào quyết định đó để không thi hành bản án bị huỷ (Điều 621 Bộ luật TTHS nước Cộng hoà Pháp).

        - Thẩm quyền nhận thông báo kháng cáo phá án của các bên đương sự khác (Điều 578 Bộ luật TTHS nước Cộng hoà Pháp).

        - Thẩm quyền tham gia phiên toà phá án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án (Điều 602 Bộ luật TTHS nước Cộng hoà Pháp).

        - Thẩm quyền nhận quyết định của Toà phá án và yêu cầu thừa phát lại tống đạt các quyết định của Toà phá án cho các bên liên quan (Điều 614 Bộ luật TTHS nước Cộng hoà Pháp).

        Tương tự như Bộ luật TTHS  nước Cộng hoà Pháp, Bộ luật TTHS Liên bang Nga cũng quy định trong thủ tục giám đốc thẩm, Viện kiểm sát có thẩm quyền sau đây:

        - Kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án (Điều 402 Bộ luật TTHS Liên bang Nga).

        - Tham gia phiên toà giám đốc thẩm kể cả khi chỉ có kháng cáo của đương sự mà không có kháng nghị của Viện kiểm sát; phát biểu ý kiến bảo vệ kháng nghị hoặc đưa ra kết luận về nội dung kháng cáo (Điều 407 Bộ luật TTHS Liên bang Nga).

        Luật TTHS của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm chỉ tập trung ở việc kháng nghị bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 203, 205 Luật TTHS Trung quốc). Việc tham gia phiên toà do Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án xét xử lại vụ án thực hiện.

a2. Pháp luật một số quốc gia theo truyền thống luật án lệ

- Theo luật của Australia, các tội phạm liên bang thường được xét xử chung tại toà án các tiểu bang, theo thủ tục tố tụng đang được áp dụng của các toà án tiểu bang, còn nội dung theo luật hình sự của liên bang. Trong trường hợp tiến hành tố tụng đối với một vụ việc theo pháp luật hình sự của liên bang dựa trên pháp luật tố tụng hình sự của tiểu bang mà có các quy định tố tụng của liên bang về cùng một vấn đề thì áp dụng các quy định của pháp luật liên bang. Nếu một người phạm một tội hình sự có thể bị truy tố theo luật của cả bang và liên bang (trường hợp này rất khó xảy ra) thì tòa án bang sẽ xử theo luật của liên bang. Các vụ việc liên bang do các cơ quan điều tra và truy tố của liên bang tiến hành tố tụng để đưa ra xét xử tại các toà án tiểu bang. Tuy có các toà án liên bang cấp thấp (như toà gia đình, toà thương mại…) nhưng các toà này chỉ xét xử đối với các vấn đề về dân sự và thương mại mà không xét xử các hành vi vi phạm pháp luật hình sự (khác với hệ thống Tòa án Liên bang của Hoa Kỳ có thể xét xử các hành vi vi phạm pháp luật hình sự và các tranh chấp phi hình sự theo luật liên bang). Theo Luật về Liên bang thì các Toà án Liên bang hoàn toàn có thẩm quyền xét xử những hành vi vi phạm pháp luật hình sự nhưng thực tế tại Australia, điều này chưa xảy ra và hệ thống TTHS liên bang vẫn dựa trên các hệ thống tư pháp của các tiểu bang. Dựa trên hệ thống tư pháp hình sự của tiểu bang Victoria, vai trò của cơ quan công tố trong thủ tục giám đốc thẩm hình sự được quy định như sau:

+ Đối với án giản lược của tòa án sơ cấp

Đối với các vấn đề về luật phát sinh từ bản án, quyết định của Tòa án thì bất kỳ bên nào, bao gồm người bị kết án và Viện công tố đều có thể kháng cáo, kháng nghị thẳng lên Toà án tối cao tiểu bang. Toà án tối cao của bang là Toà án cao nhất theo Hiến pháp bang. Phân toà phúc thẩm (court of appeal division) sẽ xét xử “phúc thẩm” đối với vụ việc. Tuy nhiên, việc xét xử của Toà án tối cao trong trường hợp này chỉ xảy ra nếu có thủ tục cho phép đặc biệt (special leave to appeal). Các đương sự phải đệ đơn để có thủ tục cho phép này và một Thẩm phán hay toàn bộ thẩm phán của Toà án tối cao có thể xét xử vụ án đó. Việc cho phép chỉ có thể xảy ra nếu vấn đề nêu ra có vấn đề tranh cãi lớn về luật, có ý nghĩa lớn đối với công chúng, hoặc có những ý kiến rất khác nhau và đòi hỏi có quyết định cuối cùng hoặc chính bản thân Toà án tối cao xét cần phải đưa vụ việc ra xét xử để đảm bảo công lý.

Đối với vấn đề về tình tiết thực tế và về hình phạt, Viện công tố có thể kháng nghị, người bị kết án có quyền kháng cáo lên Toà cấp quận (hay tòa trung cấp). Ngay cả trường hợp Viện công tố không kháng nghị và chỉ có người bị kết tội kháng cáo thì cũng mở ra khả năng cho phép Tòa án có thể tuyên một hình phạt nặng hơn hoặc nhẹ hơn. Viện công tố không có quyền kháng nghị tiếp lên Toà án tối cao của tiểu bang về vấn đề hình phạt.

Nếu người bị kết án được tuyên tự do tại Toà cấp quận mà vụ việc không được giao xét xử lại, Viện công tố có quyền kiến nghị lên phân toà phúc thẩm của Tòa án tối cao tiểu bang về các vấn đề về luật phát sinh từ vụ án (refer point of law to the court of appeal). Toà phúc thẩm có thể xem xét kiến nghị đó, người được trả tự do có thể tham dự để trình bày lập luận, nhưng phán quyết của Toà phúc thẩm chỉ có ý nghĩa về pháp luật (mang tính án lệ) cho các trường hợp xét xử sau này chứ không thay đổi phán quyết của Toà án cấp quận.

+ Đối với án nghiêm trọng do bồi thẩm đoàn xét xử và các vụ án giản lược nhưng được xét xử bởi Toà án cấp quận

Viện công tố có quyền kháng cáo về hình phạt giống như người bị kết án. Khi có kháng cáo của một trong hai bên, Toà án toàn quyền được tăng hay giảm hình phạt. Hình phạt không được tăng nếu tại phiên toà phúc thẩm xuất hiện chứng cứ mới (liên quan đến hình phạt). Viện công tố không bị hạn chế thời hạn kháng cáo về hình phạt nếu như việc giảm hình phạt trước đó cho bị cáo vì sự hợp tác của họ sau đó không được thực hiện. Toà án tối cao Australia và Victoria, cũng như các Toà án thuộc các tiểu bang khác của Australia đều có đường lối chung là việc kháng cáo phúc thẩm của Viện công tố chỉ nên hạn chế tới mức thấp nhất trên cơ sở lợi ích công chúng (public interest).

Đối với quyết định của bồi thẩm đoàn tuyên bị cáo vô tội, nguyên tắc chung là Viện công tố không có quyền kháng cáo, cho dù có lỗi sai lầm nghiêm trọng của Thẩm phán trong việc hướng dẫn Bồi thẩm đoàn. Tuy nhiên, công tố viên có thể kiến nghị Toà phúc thẩm Toà án tối cao tiểu bang xem xét các vấn đề về luật phát sinh từ vụ án đó. Toà phúc thẩm sẽ mở phiên xử xem xét. Phía bị cáo đã được trả tự do và Công tố viên có quyền tự do trình bày lập luận. Tuy nhiên, Toà phúc thẩm cũng không thể thay đổi quyết định đã tuyên vô tội đối với bị cáo của Bồi thẩm đoàn.

Việc kháng nghị tiếp theo của Viện công tố đối với phán quyết phúc thẩm của Toà phúc thẩm Toà án tối cao tiểu bang chỉ xảy ra trong trường hợp Toà phúc thẩm tuyên huỷ bản án kết tội của Toà án cấp dưới bị cáo kháng cáo. Khi đó, Viện công tố có thể tiếp tục truy tố hoặc tiếp tục kháng nghị lên Toà án tối cao liên bang về các vấn đề pháp luật phát sinh từ vụ án. Tuy nhiên, để kháng nghị được chấp nhận, Viện công tố phải trải qua thủ tục Toà tối cao liên bang xét đơn (by special leave) giống như trường hợp đương sự gửi đơn (Điều 73 Hiến pháp liên bang  và Điều 35 Luật về tư pháp liên bang 1903).

Việc kháng cáo hay kháng nghị đối với bản án hình sự sơ thẩm do Toà tối cao tiểu bang xét xử (những vụ án nghiêm trọng thường là án giết người và phản bội Tổ quốc) lên Toà án tối cao liên bang (High court) thực hiện theo nguyên tắc chung về thẩm quyền xét xử của Toà án tối cao liên bang, tức là phải trải qua thủ tục xét đơn (by special leave).

Trong trường hợp cả hai bên có thể cùng kháng cáo và kháng nghị, phía người bị kết án thông thường bị giới hạn về thời hạn sau khi bản án, quyết định đã được tuyên (từ 15, 20 hoặc 30 ngày tuỳ theo loại án và cấp toà). Nếu Viện công tố kháng cáo, không có hạn chế về thời hạn, kể cả khi đã thi hành án tù hay phạt tiền. Cũng không có thời hạn cho cả hai bên về việc tiếp tục kháng cáo, kháng nghị tại Toà án tối cao tiểu bang hay liên bang. Ngoài ra, cũng không có thời hạn về việc tiếp nhận đơn, giải quyết các đơn xin kháng cáo, kháng nghị mà việc này do Toà án tự ấn định, nhất là ở Toà án tối cao tiểu bang hay Liên bang (thông thường là từ 3 đến 6 tháng để xét đơn) và giải quyết sớm nhất trong thời hạn từ 6 tháng đến 1 năm. Các bên khi kháng cáo hay kháng nghị đều phải gửi thông báo cho các bên liên quan (respondent) và việc không gửi sẽ làm chậm tiến độ của việc xét đơn của Toà án.

Nếu người bị kết án tiếp tục kháng cáo trên cơ sở đệ đơn xin xem xét lại tại Toà án tối cao tiểu bang hay liên bang (with leave of the court of appeal), Viện công tố (có thẩm quyền đối với từng cấp toà) sẽ cử người tham dự vụ việc để trình bày quan điểm về vấn đề mà phía kháng cáo nêu ra. Không có quy định tố tụng bắt buộc Viện công tố phải tham dự nhưng việc từ chối tham dự đồng nghĩa với việc Toà án sẽ coi đó là một yếu tố thuận lợi hơn cho phía người kháng cáo. Nếu Viện công tố kháng nghị, Công tố viên phải tham dự phiên toà để trình bày quan điểm và lập luận. Thực chất các phiên toà tại Toà án trung cấp, Toà án tối cao tiểu bang hay liên bang khi xét lại các vụ việc chủ yếu là xét các vấn đề về pháp luật nảy sinh từ vụ án, xét cả các lập luận hay án lệ của Toà cấp dưới nên vấn đề mà phía người kháng cáo cũng như của Viện công tố (nếu có) nêu ra hay lập luận chỉ là các ý kiến của riêng từng chủ thể tố tụng để sau đó Toà án nêu ra quan điểm chính thức của mình.

- Theo pháp luật liên bang Hoa Kỳ, hệ thống Toà án được chia thành gồm 3 cấp toà: cấp quận (US federal district courts), cấp phúc thẩm (US court of appeal) và Toà án tối cao liên bang (US supreme court). Mỗi Toà phúc thẩm chịu trách nhiệm xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự đã được xét xử (sơ thẩm) bởi một trong số các Toà án quận thuộc địa phận trong khu vực lãnh thổ nhất định. Toà án tối cao liên bang có quyền xem xét lại và đưa ra phán quyết cuối cùng đối với các bản án của các Toà phúc thẩm liên bang và các bản án của các Toà án tối cao các tiểu bang đưa lên.

Pháp luật Hoa Kỳ, cũng như Australia, đều coi các bản án, quyết định đã tuyên của Toà án cấp thứ nhất (Toà sơ thẩm) là phán quyết cuối cùng (final judgment) và có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên tuy rằng các cấp toà cao hơn vẫn có thể xem xét lại các bản án, quyết định đã được tuyên bởi Toà án cấp thấp hơn bị kháng cáo hay kháng nghị. Việc kháng cáo hay kháng nghị phúc thẩm cũng được phân loại rõ: kháng cáo về việc định tội hay quyết định hình phạt. Đối với việc định tội, Công tố viên không thể kháng nghị nếu Toà sơ thẩm đã quyết định bị cáo vô tội. Đối với việc quyết định hình phạt, cơ quan công tố và bị cáo đều có thể kháng cáo, kháng nghị về việc tăng hay giảm hình phạt nhưng quyết định về hình phạt là một loại thủ tục độc lập của các thẩm phán và rất hiếm khi các kháng cáo, kháng nghị được chấp thuận (tuỳ theo từng loại tội có thể được kháng cáo hay không được kháng cáo).

Sau khi Toà phúc thẩm đã xét xử kháng cáo, kháng nghị, Viện công tố chỉ có thể kháng nghị tiếp lên Toà án tối cao liên bang nếu được sự đồng ý rõ ràng của Tổng chưởng lý hay phó Tổng chưởng lý liên bang (Personal approval of the Attorney General, the Solicitor General, or a deputy solicitor general designated by the Solicitor General) - Điều 3742 Chương 18 Tổng luật liên bang Hoa Kỳ.

Tại các phiên toà xét xử phúc thẩm, nếu Viện công tố kháng nghị, Công tố viên phải trình bày quan điểm về căn cứ kháng nghị, lập luận nêu ra và tranh luận với phía người bị kết án (nếu có tham dự). Nếu phía người bị kết án kháng cáo (về việc định tội hay về quyết định hình phạt), Công tố viên có thể tham gia hoặc không tham gia phiên toà xử phúc thẩm. Cấp Toà phúc thẩm liên bang không có Cơ quan công tố tương đương nên các Công tố viên đã tham gia truy tố tại toà án liên bang cấp quận tiếp tục tham gia phiên toà phúc thẩm tại Toà phúc thẩm liên bang. Đối với các phiên xử do Toà án tối cao liên bang tiến hành, Công tố viên liên bang thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ sẽ tham gia phiên toà. Các Công tố viên liên bang (đã tiến hành công tố tại các toà cấp dưới) thuộc Văn phòng công tố Liên bang cấp quận có trách nhiệm phối hợp, trợ giúp họ khi được yêu cầu. Pháp luật Hoa Kỳ cũng như Australia đều có quy định thời hạn kháng cáo của phía người bị kết án và bị hại mà thường không quy định về thời hạn kháng nghị của Cơ quan công tố.

Nghiên cứu vai trò, trách nhiệm của Viện công tố trong thủ tục giám đốc thẩm hình sự theo pháp luật các nước theo truyền thống luật án lệ, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Một là, cơ quan công tố của Hoa Kỳ và Australia về cơ bản thực hiện nhiệm vụ trong tố tụng hình sự theo mô hình tố tụng tranh tụng bắt nguồn từ Anh quốc. Trong mô hình này, quyền kháng nghị phúc thẩm bị hạn chế tới mức tối thiểu nếu so sánh với các mô hình tố tụng thẩm vấn tại các quốc gia theo truyền thống luật Châu Âu lục địa và nhiều quốc gia khác. Ngay tại Anh quốc, quyền được kháng cáo phúc thẩm không đặt ra, có nghĩa là không được kháng cáo phúc thẩm. Đạo luật năm 1907 của Anh (criminal appeal act 1907) lần đầu tiên cho phép người bị kết án được kháng cáo phúc thẩm đối với bản án kết tội và lượng hình (quyết định hình phạt). Năm 1970 mới có sửa đổi trong luật này cho phép Viện công tố (Hoàng gia) được kháng nghị về phần lượng hình. Tại Hoa Kỳ và Australia cũng có cách tiếp cận tương tự và sau này người ta đã cho phép Cơ quan công tố được kháng nghị phúc thẩm. Việc kháng nghị tiếp sau nữa (kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo cách hiểu của pháp luật Việt Nam) còn bị hạn chế hơn nữa. Đặc điểm này cho thấy: nguyên tắc phân chia quyền lực thể hiện rõ trong cả các hoạt động tố tụng, Cơ quan công tố chỉ tập trung vào việc truy tố (bao gồm cả việc điều tra), còn việc xét xử là do Toà án quyết định.

Hai là, các nước theo truyền thống thông luật, bản án hay phán quyết của toà án ngay khi ban hành được coi như có hiệu lực pháp luật và không có nguyên tắc xét xử hai cấp như ở Việt Nam. Tuy vậy, mọi bản án, quyết định của Toà án đều có nguy cơ có thể bị xem xét lại bởi Toà án cấp trên. Nhưng rất khó có thể tạo ra việc phúc thẩm, xem xét lại bản án, quyết định của Toà án cấp dưới một cách phổ biến. Có những cách thức, cơ chế để kiểm soát quá trình này và một thực tế là các cấp toà cao hơn thường rất “bảo thủ” trong việc sửa đổi, thay đổi các phán quyết của Toà án cấp dưới trừ khi các sai sót là rõ ràng hay khác nhau cơ bản về quan điểm cần phải có một cách đánh giá, giải thích pháp luật hoàn toàn khác.

Ba là, thủ tục tố tụng ở các nước này, nhất là ở giai đoạn xét xử, xét xử lại hầu như do Toà án các cấp tự quyết định. Quyền tuỳ nghi của thẩm phán rất lớn. Hơn nữa việc tham gia tố tụng ở các cấp toà cao hơn khi vụ án đã được đưa ra xét xử lại hầu như chỉ mang tính trình bày quan điểm, lập luận, các vấn đề về giải thích hiến pháp hay luật mà không chú trọng vào việc xét xử những tình tiết thực tế của vụ án nên việc tham gia của Cơ quan công tố chỉ thực sự có ý nghĩa quan trọng khi vụ việc do Cơ quan công tố kháng nghị. Những vụ việc khác, Cơ quan công tố có thể không tham gia và cũng không bắt buộc phải tham gia. Một điều cần nhấn mạnh là Cơ quan công tố ở các nước theo truyền thống án lệ đều thuộc chính quyền hành pháp và do đó không có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án. Toà án có toàn quyền trong hoạt động xét xử và Cơ quan công tố chỉ có thể trình bày quan điểm, lập luận như một bên đương sự trong tố tụng.

b. Thẩm quyền của VKSND trong thủ tục giám đốc thẩm hình sự ở Việt Nam

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, trong thực hiện thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;

- Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án;

- Tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

b1. Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Ngay từ khi mới có chế định giám đốc thẩm hình sự, pháp luật đã quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của VKSND. Qua các lần sửa đổi Bộ luật TTHS, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát vẫn được khẳng định, đến Bộ luật TTHS năm 2003 cũng chỉ sửa đổi về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Phó Viện trưởng VKSND tối cao.

        Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật TTHS năm 2003, ở VKSND, chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát mới có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm. Theo quy định của điều luật, Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp dưới; Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới.

Theo quy định tại Điều 274 Bộ luật TTHS người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị; trong trường hợp phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát, Toà án phải thông báo cho người có quyền kháng nghị. Như vậy, việc phát hiện vi phạm pháp luật để kháng nghị giám đốc thẩm có thể xuất phát từ đơn đề nghị của người bị kết án, thông báo của cá nhân, tổ chức khác hoặc do Viện kiểm sát cấp dưới đề nghị. Kháng nghị cũng có thể xuất phát từ cơ sở do chính người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm phát hiện được vi phạm pháp luật. Mặc dù có thể xuất phát từ cơ sở đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của người bị kết án (trên thực tế, đây là nguồn chính để Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm) nhưng pháp luật không quy định phạm vi kháng nghị giám đốc thẩm phải dựa trên yêu cầu của người bị kết án. Điều đó có nghĩa là người có thẩm quyền kháng nghị hoàn toàn có quyền quyết định có kháng nghị hay không, phạm vi kháng nghị, hướng kháng nghị… mà không hề phụ thuộc vào ý chí của người bị kết án hoặc của những người đã thông báo.

Theo quy định tại Điều 277 Bộ luật TTHS, khi có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của người bị kết án hoặc có thông báo phát hiện vi phạm của cơ quan, tổ chức, Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm phải nghiên cứu hồ sơ vụ án. Trong trường hợp không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm kháng nghị thì trước khi hết thời hạn kháng nghị, người có quyền kháng nghị phải trả lời cho người hoặc cơ quan, tổ chức đã phát hiện biết lý do của việc không kháng nghị. Tuy nhiên, vì Bộ luật quy định trước khi hết thời hạn kháng nghị người có quyền kháng nghị mới trả lời lý do của việc không kháng nghị, nên có trường hợp người bị kết án đã gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm nhưng hàng năm sau vẫn chưa được trả lời và cũng không có kháng nghị, nên người bị kết án lại tiếp tục gửi đơn, có thể đến những cơ quan cao hơn (Quốc hội, Chính phủ…), gây nên tình trạng gửi đơn nhiều lần, gửi cả đơn đến những cơ quan không có thẩm quyền giải quyết, dẫn đến  tình trạng khiếu nại phức tạp hiện nay.  

Mặt khác, việc Bộ luật TTHS năm 2003 không hạn chế quyền phát hiện, quyền thông báo (của mọi công dân, tổ chức, bao gồm cả người bị kết án) về vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy quyền dân chủ, thể hiện sự giám sát công khai của toàn xã hội đối với hoạt động xét xử của Toà án. Tuy nhiên, việc Bộ luật TTHS năm 2003 quy định trách nhiệm của người có quyền kháng nghị phải trả lời cho tất cả những người thông báo (những người phát hiện bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm) biết lý do trong trường hợp không kháng nghị lại có điểm chưa hợp lý, bởi vì quyền phát hiện, thông báo về vi phạm pháp luật với trách nhiệm trả lời lý do của việc không kháng nghị là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Quyền phát hiện, thông báo là vấn đề mang nhiều tính chất của phản biện xã hội, nên cần có cơ chế xem xét, giải quyết khác với cơ chế thông thường. Nếu ràng buộc trách nhiệm trả lời như Bộ luật hiện hành quy định cũng có nghĩa là các phát hiện, thông báo (trong đó có yêu cầu hoặc đề nghị xem xét giám đốc thẩm) gửi tới người có quyền kháng nghị phải được giải quyết theo như trình tự giải quyết đơn khiếu nại thông thường, nhận đơn nào phải giải quyết đơn đó. Như thế, vô hình chung đã quan niệm thủ tục giám đốc thẩm cũng như thủ tục thông thường, giám đốc thẩm được coi như là “một cấp xét xử thứ ba”.

         So sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Viện công tố, có thể rút ra nhận xét sau đây:

Một là, về vị trí của Viện kiểm sát trong việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trong việc kháng nghị bản án, quyết định của Toà án nói chung, kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng, Viện công tố các nước thường được coi là một bên trong tố tụng, do đó, việc kháng nghị của Viện công tố cũng tương tự như kháng cáo của bị cáo hoặc nếu có sự khác biệt thì thường là hạn chế hơn (chỉ được kháng nghị giám đốc thẩm trong một số trường hợp nhất định). Khác với các nước, Bộ luật TTHS của Việt Nam quy định Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng của Toà án. Trên cơ sở quan niệm như vậy, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát được quy định khá rộng, không bắt buộc phải có đơn đề nghị của người bị kết án hoặc có thông báo của người phát hiện vi phạm, Viện kiểm sát có thể kháng nghị theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, có thể kháng nghị ngay cả khi các bên không phản đối bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án…).

Hai là, người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm.

Nếu như các nước quy định Viện công tố có quyền kháng nghị giám đốc thẩm thì có nghĩa là Công tố viên có thể thực hiện thẩm quyền này (trên thực tế việc kháng nghị giám đốc thẩm là do các Công tố viên thực hiện), thì theo pháp luật Việt Nam, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát chỉ được quy định trao cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu. Vậy khi Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm là nhân danh Viện kiểm sát như pháp luật các nước hay là nhân danh chính mình ? Viện trưởng Viện kiểm sát có thể uỷ quyền cho cấp dưới của mình thực hiện thẩm quyền này không ? Trước khi có Luật tổ chức VKSND năm 2002, không chỉ Viện trưởng Viện kiểm sát mới có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm. Pháp luật quy định cả Phó Viện trưởng VKSND tối cao, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu cũng có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm. Từ đó cho thấy, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 thì thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm được giao cho chính Viện trưởng Viện kiểm sát chứ không phải giao cho ngành Kiểm sát và như vậy, việc Viện trưởng Viện kiểm sát uỷ quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm là không đúng tinh thần quy định của Bộ luật TTHS năm 2003.

Việc Bộ luật TTHS năm 2003 quy định hạn chế quyền kháng nghị theo hướng chỉ ghi nhận quyền kháng nghị giám đốc thẩm của một số ít người có thẩm quyền trong cơ quan tư pháp là phù hợp. Tuy nhiên, nếu quy định trong ngành Kiểm sát chỉ có “Viện trưởng” mới có quyền kháng nghị, Phó Viện trưởng không có quyền này lại chưa phù hợp với thực tế. Quy định này tạo ra sự bất cập giữa nhu cầu giải quyết thực trạng đang có quá nhiều đơn khiếu nại giám đốc thẩm hiện nay với yêu cầu nâng cao chất lượng kháng nghị và yêu cầu đề cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng “theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để mỗi chức danh chủ động, độc lập trong việc thực hiện những quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể và phải chịu trách nhiệm về hành vi và quyết định tố tụng của mình trước pháp luật”. Mặt khác, xét trên phương diện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND tối cao trong hoạt động quản lý hành chính và trong hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ, tổ chức công tác đối với toàn ngành Kiểm sát, thì việc quy định tập trung quyền kháng nghị giám đốc thẩm cho Viện trưởng là sự “bao biện”, “ôm đồm” và thực tiễn không mấy khả thi. Thực tế cho thấy, do khối lượng công việc quá lớn nên Viện trưởng Viện kiểm sát vẫn phải thường xuyên uỷ quyền cho cấp Phó thực hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm. Do vậy, cần khôi phục lại cơ chế phân quyền kháng nghị giám đốc thẩm giữa cấp trưởng và cấp phó như trước đây để có thể hạn chế tình trạng “quá tải” ở cấp giám đốc thẩm hiện nay. Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, pháp luật nhiều nước đều rất đề cao trách nhiệm của các chức danh như Phó Chánh án Toà án tối cao, Phó Tổng Chưởng lý hay Phó Tổng kiểm sát trưởng trong hoạt động kháng nghị.  

Ba là, việc kháng nghị đối với các quyết định về dân sự trong bản án hình sự.

Trong vụ án hình sự có thể có yêu cầu bồi thường về dân sự (thường được gọi là vấn đề dân sự trong bản án hình sự), nhất là các vụ án liên quan đến tai nạn giao thông, chiếm đoạt tài sản, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm… Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi giải quyết vụ án hình sự, Toà án có thể giải quyết luôn cả vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và những người có thẩm quyền có thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vấn đề dân sự trong bản án hình sự. Vấn đề đặt ra là, ai có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với vấn đề dân sự trong bản án hình sự, việc kháng nghị và giải quyết kháng nghị theo thủ tục nào, tố tụng dân sự hay tố tụng hình sự?

Thông thường, pháp luật các nước đều quy định nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo hướng: Trong vụ án hình sự, nếu có thiệt hại xảy ra, có đơn yêu bồi thường thiệt hại và có đủ chứng cứ để ra phán quyết về vấn đề này thì Toà án có thể giải quyết luôn trong bản án hình sự; thủ tục giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật TTDS. Như vậy, việc kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm đối với phần quyết định về vấn đề dân sự trong bản án hình sự và giải quyết kháng cáo, kháng nghị sẽ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng về vấn đề này. Điều 28 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục TTDS”. Như vậy, Bộ luật mới chỉ quy định trường hợp nào thì giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ngay tại phiên toà hình sự, trường hợp nào tách ra giải quyết riêng mà chưa quy định vấn đề có tính bản chất là việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành theo thủ tục nào? Khoản 3 Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành theo quy định của pháp luật TTDS nhưng cần lưu ý rằng, Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều đó có nghĩa là, khoản 3 Điều 278 chỉ quy định thời hạn kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự phải theo các quy định của pháp luật TTDS chứ không quy định thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm và giải quyết kháng nghị giám đốc thẩm về dân sự trong vụ án hình sự. Trên thực tế, các cơ quan tiến hành tố tụng đều áp dụng thủ tục TTHS để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Trong thủ tục giám đốc thẩm, những người có thẩm quyền theo Điều 275 sẽ có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vấn đề dân sự trong bản án, quyết định hình sự.

Bốn là, việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm.

Khoản 3 Điều 277 Bộ luật TTHS quy định “Trước khi bắt đầu phiên toà giám đốc thẩm, người đã kháng nghị có quyền bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 278 của Bộ luật này hoặc rút kháng nghị”. Như vậy, theo quy định của điều luật, người kháng nghị chỉ có quyền bổ sung và rút kháng nghị trước khi bắt đầu phiên toà. Mặt khác, điều luật không quy định cho phép người kháng nghị được thay đổi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hình sự (thay đổi kháng nghị khác với bổ sung kháng nghị). Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị chỉ có thể được quyết định sau khi đã có lập luận, tranh luận của những người tham gia phiên toà. Tuy nhiên, việc bổ sung, rút quyết định kháng nghị tại phiên toà thường là không thực hiện được vì Viện trưởng Viện kiểm sát đã ký kháng nghị thường không trực tiếp tham gia phiên toà giám đốc thẩm để có thể bổ sung, rút kháng nghị mà thường phân công Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Vì việc quy định chỉ có người đã kháng nghị giám đốc thẩm mới có quyền thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên toà là chưa phù hợp với thực tiễn, cần phải nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung.

b2. Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

        Theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới, kháng cáo giám đốc thẩm chỉ được công nhận nếu bị cáo chứng minh rằng mình đã tự nguyện thi hành án, trừ những trường hợp theo quy định của pháp luật, họ được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án, bởi vì đa số các nước đều quan niệm rằng kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm không đương nhiên dẫn đến việc hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành bản án bị kháng cáo, kháng nghị.

        Theo pháp luật Việt Nam, Điều 276 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: những người đã kháng nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đó. Như vậy, khác với tố tụng dân sự, trong tố tụng hình sự không quy định việc hoãn thi hành án. Việc quyết định tạm đình chỉ thi hành án hình sự khi đã kháng nghị giám đốc thẩm cũng không phổ biến, chủ yếu chỉ áp dụng trong trường hợp kháng nghị theo hướng bị cáo không phạm tội, cho bị cáo hưởng án treo hoặc các hình phạt không tước tự do khác…

         b3. Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án

        Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật TTHS, phiên toà giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp. Như vậy, kể cả trường hợp phiên toà giám đốc thẩm được mở do có kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát hay do có kháng nghị giám đốc thẩm của Toà án thì Viện kiểm sát vẫn bắt buộc phải tham gia phiên toà giám đốc thẩm. Tại phiên toà, theo Điều 282 Bộ luật TTHS, “đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”. Từ các quy định nêu trên cho thấy:

        Thứ nhất, các quy định về thủ tục giám đốc thẩm chưa phân biệt rõ ràng các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên toà giám đốc thẩm. Theo quy định của pháp luật, cơ sở để tiến hành thủ tục giám đốc thẩm là kháng nghị của người có thẩm quyền, trong đó có trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị, cũng có trường hợp Chánh án Toà án kháng nghị. Tuy nhiên, trong hai trường hợp này, Viện kiểm sát tham gia phiên toà giám đốc thẩm với mục đích, nhiệm vụ khác nhau. Trong trường hợp phiên toà giám đốc thẩm được mở do có kháng nghị của Viện kiểm sát thì tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát ngoài việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án còn phải bảo vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát.

        Thứ hai, các quy định về việc bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên toà chưa được quy định. Tại khoản 3 Điều 277 BLTTHS chỉ quy định việc bổ sung kháng nghị và việc rút kháng nghị trước khi bắt đầu phiên toà. Tuy nhiên, pháp luật cũng chưa quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục, hậu quả pháp lý… của việc bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm. Trên thực tế, có trường hợp tại phiên toà giám đốc thẩm phát hiện các tình tiết có thể làm thay đổi nội dung kháng nghị, nhưng đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà lại không thể thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị. Trong trường hợp này, thường đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm tạm hoãn phiên toà giám đốc thẩm để xin ý kiến của Viện trưởng đã kháng nghị giám đốc thẩm về việc bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Cách giải quyết như vậy trên thực tế là chưa phù hợp. Vì vậy, cần nghiên cứu, bổ sung quy định tăng quyền hạn cho Kiểm sát viên tham gia phiên toà có quyền quyết định việc bổ sung, rút kháng nghị, đồng thời gắn với trách nhiệm của Kiểm sát viên đối với quyết định của mình.

CHƯƠNG II

KỸ NĂNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẢM

I. KỸ NĂNG TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ ĐƠN

        1. Căn cứ pháp luật về tiếp nhận, xử lý đơn

        Điều 243 Bộ luật TTHS năm 1988 quy định về việc phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, các cơ quan, tổ chức và công dân đều có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật với người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm. Từ quy định này có thể hiểu việc phát hiện vi phạm của bản án hoặc quyết định và thông báo cho người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm là các đơn khiếu nại. Thực tiễn cho thấy, tất cả các phát hiện và thông báo này đều được xây dựng thành văn bản với hình thức đơn khiếu nại hoặc đơn đề nghị.

Tuy nhiên, Bộ luật TTHS năm 2003 đã dành cả chương XXXV về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. Theo đó, phạm vi khiếu nại, tố cáo trong tố tụng là các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử sơ thẩm.  

 Đối với các kháng cáo về bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì giải quyết theo quy định tại các chương XXIII về xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị; chương XXIV về thủ tục xét xử phúc thẩm; các khiếu nại đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì giải quyết theo quy định tại các chương XXX về thủ tục giám đốc thẩm và chương XXXI về thủ tục tái thẩm. Như vậy, khiếu nại trong giai đoạn giám đốc thẩm không bị điều chỉnh bởi chương XXXV của Bộ luật TTHS. Điều 274 Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định các đơn đề nghị giám đốc thẩm là các thông báo.  Theo đó, “người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị quy dịnh tại Điều 275 của Bộ luật này”.

Theo quy định nêu trên thì bất cứ người nào cũng có quyền phát hiện vi phạm của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, cụ thể là bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các cơ quan, tổ chức và công dân. Luật quy định “mọi công dân” ở đây cũng được hiểu là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý và các quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật. Do vậy, đối với người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì phải thông qua người đại diện hợp pháp.

Cũng theo quy định của pháp luật thì tên gọi của văn bản phát hiện vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án là “thông báo”. Trong thực tiễn, các thông báo này được làm dưới dạng “đơn khiếu nại”. Theo chúng tôi, việc quan niệm “thông báo” đồng nghĩa với “khiếu nại” là chưa đúng với quy định của pháp luật. Bởi vì, trình tự giải quyết đối với hai loại “thông báo” và “khiếu nại” có khác nhau. Nếu coi đây là “khiếu nại” thì việc giải quyết phải theo quy định tại chương XXXV Bộ luật TTHS về khiếu nại trong TTHS. Còn nếu là “thông báo” thì việc giải quyết phải theo quy định tại Điều 273, 274, 275 Bộ luật TTHS.

Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật TTHS thì những người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm là Chánh án và Viện trưởng VKS từ cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên. Như vậy, Viện trưởng, Chánh án không chỉ là người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm mà đây còn là chủ thể tiếp nhận và xử lý các đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Việc quy đinh “mọi công dân” đều có quyền phát hiện vi phạm của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án và thông báo cho những ngưòi có quyền kháng nghị có tác dụng tăng cường trách nhiệm các cơ quan Viện kiểm sát và Toà án trong việc giải quyết các đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nhưng lại tạo cho xã hội một quan niệm coi các đề nghị giám đốc thẩm như là một khiếu nại tư pháp và dẫn tới có quan niệm giám đốc thẩm là một cấp xét xử. Điều này không những làm cho việc khiếu nại không có điểm dừng mà đây chính là vi phạm nguyên tắc của pháp luật tố tụng về hai cấp xét xử. Thực tế nhiều người có quan niệm sai nên đã dẫn đến việc khiếu nại cầu may (bản án có hiệu lực, dù đúng vẫn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm). Hiện nay, bình quân hàng năm có khoảng hơn 2000 đơn với gần 400 vụ việc đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm được giải quyết thì chỉ có 8 vụ được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm [4] chiếm tỷ lệ 2% so với số đề nghị. Còn lại không có căn cứ kháng nghị, trong đó nhiều trường hợp chỉ là khiếu nại cầu may.

 Thời gian qua, tình hình đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự gửi đến Viện kiểm sát với số lượng rất nhiều, chỉ tính riêng ở VKSND tối cao, bình quân hàng năm nhận được gần 3.000 đơn với gần 800 vụ, việc đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hình sự [5]. Tình hình trên đang có chiều hướng gia tăng và tính chất cũng rất phức tạp. Lãnh đạo Viện kiểm sát tối cao đã có nhiều biện pháp chỉ đạo tăng cường công tác giải quyết các khiếu nại, tố cáo về hoạt động tố tụng nói chung và các đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nói riêng:

- Ngày 11/4/2001, Viện trưởng VKSND tối cao đã có Quyết định số 34/2001/QĐ-VKSTC về chế độ quản lý đơn khiếu nại, tố cáo tại cơ quan VKSND tối cao.

- Ngày 21.5.2004, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Quy chế số 65/VKSTC-V3 về tổ chức và hoạt động của Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3).

- Để thực hiện thống nhất quy định tại chương XXXV Bộ luật TTHS, Viện kiểm sát tối cao đã chủ trì cùng các ngành tư pháp trung ương ban hành Thông tư Liên tịch số 02/2005/TTLT- VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày 10/8/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật TTHS về khiếu nại tố cáo.

 - Ngày 06/2/2006, Viện trưởng VKSND tối cao đã có Quy chế số 59/2006-QĐ-VKSTC-V7 về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

- Ngày 01/8.2005, Viện trưởng VKSND tối cao đã có Kết luận số 2025/VKSTC-VP về công tác giải quyết các vụ việc theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

- Ngày 06/2/2006, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

Các văn bản hướng dẫn trên đây đã tạo thành hành lang pháp lý giúp cho các Kiểm sát viên làm căn cứ để giải quyết các khiếu nại của đương sự.

2. Kỹ năng phân loại, giải quyết đơn

a. Về phân loại đơn

Hiện nay số đơn gửi đến VKS có nhiều loại. Theo quy định tại Điều 10 Quy chế số 59/2006-QĐ-VKSTC-V7, để bảo đảm việc giải quyết tốt các đơn thuộc thẩm quyền của VKS, khi tiếp nhận các khiếu nại, Kiểm sát viên cân phân loại theo các tiêu chí sau đây:

- Đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của VKS;

- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của VKS;

- Đơn khiếu nại về hoạt động tư pháp thuộc chức năng giải quyết của các cơ quan tư pháp và Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết;

- Đơn không đủ điều kiện để xử lý, giải quyết.

Theo quy định trên đây, đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của VKS  thì phải trả lại đơn và chỉ dẫn, trả lời cho người có đơn biết để họ gửi đúng nơi có thẩm quyền giải quyết. Đối với đơn không đủ điều kiện thụ lý thì có văn bản chỉ dẫn, trả lời rõ lý do cho người có đơn biết.

Tại Kết luận số 2025/VKSTC-VP của Viện  trưởng VKSND tối cao có quy định Vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự VKSND tối cao có nhiệm vụ xem xét, giải quyết các loại đơn sau:

- Đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định về hình sự của 3 Toà phúc thẩm thuộc TAND tối cao;

- Đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án;

- Đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án đã được Lãnh đạo Viện trả lời nhưng đương sự không đồng ý và tiếp tục đề nghị xem xét lại;

- Đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận và các cơ quan báo chí chuyển đến.

b. Thủ tục giải quyết đơn

Theo các quy định trên đây, các đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm thuộc Viện kiểm sát cấp  nào thì  Viện kiểm sát cấp đó có trách nhiệm thụ lý và giải quyết. Thủ trưởng các đơn vị phải có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc thụ lý đơn đề nghị và việc rút hồ sơ vụ án để nghiên cứu theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Sau khi nghien cứu hồ sơ vụ án, đơn đề nghị nào không có căn cứ kháng nghị thì Kiểm sát viên trả lời đương sự. Những đề nghị nào có căn cứ kháng nghị thì báo cáo Lãnh đạo Viện kháng nghị. Những đề nghị nào xét cần nghiên cứu hoặc xác minh thì Kiểm sát viên báo cáo đề xuất rút hồ sơ và đi xác minh báo cáo Lãnh đạo Viện cho ý kiến.

Nếu Kiểm sát viên trả lời mà người đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn tiếp tục có đơn yêu cầu giải quyết thì Lãnh đạo Vụ phải nghiên cứu để trả lời đương sự. Trường hợp Lãnh đạo Vụ trả lời mà đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại thì báo cáo Lãnh đạo Viện phụ trách khối để bố trí tiếp công dân. Trong buổi tiếp công dân này có Lãnh đạo Vụ và Kiểm sát viên dự để đối thoại với công dân. Sau đó Lãnh đạo Viện trả lời. Đây là trả lời cuối cùng với đương sự.

Ví dụ, vụ án Nguyễn Thị Liên, về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng ở Quảng Ninh. Vụ án đã được xét xử tử năm 1995 nhưng Nguyễn Thị Liên cho rằng mình bị xét xử oan nên đã có nhiều đơn đề nghị giải quyết giám đốc thẩm. Kiểm sát viên và Lãnh đạo Vụ 3 VKSTC đã có nhiều văn bản trả lời Nguyễn Thị Liên là án xử đúng, không có căn cứ kháng nghị. Nhưng Nguyễn Thị Liên vẫn có nhiều đơn gửi các cơ quan.

Để tiếp tục giải quyết việc khiếu nại của Nguyễn Thị Liên Lãnh đạo VKSND tối cao đã trực tiếp gặp và đối thoại với Nguyễn Thị Liên. Tại cuộc đối thoại này, Nguyễn Thị Liên đã đưa ra nhiều tình tiết để khẳng định rằng mình đã làm hết trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao. Để có cơ sở trả lời cho Nguyễn Thị Liên, Lãnh đạo Viện đã cử Kiểm sát viên tiếp tục xác minh theo các tình tiết mà Nguyễn Thị Liên đưa ra. Trên cơ sở kết quả xác minh, Lãnh đạo Viện đã trả lời cho đương sự.

Như vậy, trình tự thủ tục nghiên cứu và trả lời đương sự như trên thể hiện trách nhiệm của VKSND tối cao trước các yêu cầu của đương sự. Đồng thời làm cho đương sự cũng thoả mãn với nội dung trả lời mà VKSND tối cao đã nêu.

Theo Kết luận số 2025/VKSTC-VP thì việc tiếp nhận và giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thực hiện như sau:

- Các đơn vị thuộc VKSND tối cao khi tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nếu thuộc trách nhiệm xem xét, giải quyết của VKS cấp tỉnh thì phải làm công văn chuyển đơn và kèm theo đơn của đương sự cho VKS nơi Toà án đã ra bản án hoặc quyết định để xem xét, giải quyết và thông báo cho người có đơn biết;

- Khi nhận được đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, bộ phận tiếp nhận đơn phải yêu cầu người gửi đơn cung cấp bản sao cáo trạng, bản án, quyết định của Toà án liên quan đến nội dung đề nghị và những tài liệu chứng minh các vi phạm của bản án hoặc quyết định, sau đó chuyển cho các đơn vị nghiệp vụ nghiên cứu, xem xét giải quyết. Nếu chưa đủ các tài liệu trên đây thì chưa thụ lý.

- Đối với các đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do Lãnh đạo các Cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan báo chí chuyển đến thì cũng phải có các tài liệu trên đây.

- Lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ (cấp vụ) phân công Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án để báo cáo Lãnh đạo Vụ. Sau đó báo cáo Lãnh đạo Viện cho ý kiến. Đối với những vụ việc phức tạp, nhất thiết Lãnh đạo Vụ phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án. Khi báo cáo Lãnh đạo Viện, Kiểm sát viên chú ý phải báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau (nếu có) và đề xuất giải quyết.

c. Kỹ năng nghiên cứu đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Thực tiễn giải quyết các đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vừa qua cho thấy, các thông báo vi phạm của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực thường liên quan đến các nội dung sau:

- Khiếu nại kêu oan;

- Đề nghị tăng hoặc giảm hình phạt đối với bị cáo;

- Đề nghị tăng hoặc giảm mức bồi thường về dân sự;

- Khiếu nại về các biện pháp tư pháp của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Khi nghiên cứu các đề nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Kiểm sát viên chú ý các nội dung sau đây:

Thứ nhất, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ nội dung và đề nghị của đương sự. Đề nghị của đương sự có nội dung gì, lập luận của họ ra sao? Họ có những phản bác các lập luận của bản án hoặc quyết định như thế nào? Thông báo của đương sự đã đưa ra những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án ra sao? Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên phải rút ra những nội dung trọng tâm của thông báo. Muốn nắm chắc nội dung của thông báo, Kiểm sát viên không những phải đọc kỹ thông báo của người đề nghị kháng nghị mà còn phải ghi chép các nội dung vào bản cứu của mình.

Nắm chắc các nội dung của thông báo sẽ giúp cho Kiểm sát viên có phương pháp nghiên cứu hồ sơ và xác minh phù hợp. Hạn chế được việc nghiên cứu tràn lan, không có trọng tâm, trọng điểm. Nghiên cứu không có trọng tâm, trả lời không có trọng điểm là nguyên nhân dẫn tới việc giải quyết các đề nghị giám đốc thẩm (nhất là ở cấp trung ương) không triệt để, kéo dài và gây bức xúc trong dư luận.

Thực tiễn đã có trường hợp, Kiểm sát viên không nghiên cứu kỹ nội dung thông báo nên không nắm chắc các nội dung thông báo. Vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc khi tiến hành xác minh sẽ không sát đúng với các nội dung mà người đề nghị kháng nghị đưa ra. Do vậy, việc trả lời hoặc giải thích cho đương sự không thuyết phục, đương sự khiếu nại kéo dài.

Thứ hai, Điều 273 Bộ luật TTHS quy định 4 căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm. Kiểm sát viên phải nắm vững các quy định này để đối chiếu với nội dung thông báo đề nghị của đương sự thuộc trường hợp nào. Những thông báo nào đưa ra các vi phạm của bản án, quyết định của Toà án thuộc một trong các căn cứ của Điều 273 Bộ luật TTHS thì mới xem xét kháng nghị. Nếu các thông báo đưa ra những nội dung không phù hợp với Điều 273 Bộ luật TTHS (ví dụ bị cáo bị xét xử về tội tham ô nhưng thông báo lại nêu các vi phạm về quyền dân chủ của chính quyền địa phương) thì không giải quyết; hoặc bị cáo bị phạt tù nhưng thông báo lại nêu bản án chưa đúng pháp luật, hoặc chỉ nêu một cách chung chung, không rõ ràng thì Kiểm sát viên yêu cầu đương sự cung cấp cụ thể các tài liệu, chứng cứ có liên quan để nghiên cứu, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Ví dụ, bị cáo A bị án sơ thẩm và phúc thẩm kết án 3 năm tù về tội cố ý gây thương tích, theo khoản 1 Điều 104 BLHS. Trong văn bản đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, bị cáo cho rằng án xử không đúng nhưng lại không đưa ra được những vi phạm của bản án như thế nào. Thậm chí bị cáo cũng không đưa ra được số, ngày xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên xem xét, nghiên cứu trả lời cho người có thông báo biết lý do không kháng nghị theo khoản 2 Điều 277 Bộ luật TTHS.

Nếu đương sự kêu oan, cho rằng bản án không phù hợp với thực tế khách quan thì Kiểm sát viên yêu cầu đương sự cung cấp những tài liệu có liên quan đến nội dung đề nghị.

3. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án

Nghiên cứu hồ sơ vụ án ở giai đoạn giám đốc thẩm cũng như ở các giai đoạn tố tụng khác (sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm) là hoạt động nghiệp vụ cơ bản của Kiểm sát viên. Nếu không nắm vững các nội dung của hồ sơ vụ án thì không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự. Để cho việc nghiên cứu hồ sơ vụ án được tốt, Kiểm sát viên chú ý các thao tác nghiệp vụ sau đây:

a. Nguồn phát hiện vi phạm.

Như phần trên đã đề cập, căn cứ Điều 274 Bộ luật TTHS, bất cứ người nào cũng có quyền phát hiện các vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, nguồn phát hiện vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được gửi đến VKS gồm đề nghị của đương sự, đề xuất của VKS các cấp, qua công tác kiểm tra giám đốc…Điều 46 Quy chế số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 đã xác định: “Kiểm sát viên nghiên cứu phát hiện vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật căn cứ vào những nguồn sau đây:

  1. Báo cáo đề xuất kháng nghị của VKS các cấp;

2. Đơn đề nghị của người bị kết án và của mọi công dân hoặc kiến nghị của các cơ quan, tổ chức;

3. Các tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kết quả kiểm tra công tác nghiệp vụ.”

Trên thực tế, có nhiều trường hợp Kiểm sát viên nghiên cứu không kỹ nên không nắm chắc các nội dung của văn bản đề nghị. Do vậy, khi tiến hành nghiên cứu hồ sơ cũng như trả lời không đúng trọng tâm vấn đề người đề nghị nêu ra, làm cho người được trả lời cũng không tâm phục khẩu phục. Các đề nghị vì vậy sẽ lại tiếp tục phát sinh và ngày càng gay gắt.

Ví dụ, vụ án Lưu Đình Tứ, về tội trộm cắp tài sản. Khoảng 8h ngày 20/9/2007, Lưu Đình Tứ lợi dụng lúc gia đình bà Nguyễn Thị Nậm đi làm vắng đã vào nhà, phá khoá tủ lấy trộm 51.000.000 đồng. Quá trình điều tra còn xác định, trước đó Tứ đã có 6 lần lấy trộm 24.839.000 đồng. Như vậy, với 7 lần trộm cắp, Tứ đã lấy trộm tổng cộng 86.339.000 đồng. Với hành vi phạm tội này, Tứ bị Toà án cấp sơ thẩm cấp tỉnh áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 và 2 Điều 46; điểm g, k khoản 1 Điều 48 BLHS, xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Toà án cấp phúc thẩm đã  sửa án sơ thẩm, xử phạt Tứ 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng. Sau khi xét xử phúc thẩm, VKS tỉnh có văn bản báo cáo VKSND tối cao và đề nghị kháng nghị giám đốc, vì lý do bản án cho bị cáo hưởng án treo là không đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, nội dung đề nghị của VKS trong trường hợp này là không cho bị cáo hưởng án treo. Muốn xác định bị cáo có được hưởng án treo hay không thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ để xem bị cáo có nhân thân như thế nào, có các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ ra sao; việc áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138 để xử bị cáo 30 tù có đúng hay không và đối chiếu với quy định tại Điều 60 BLHS về án treo để có căn cứ kết luận việc bản án quyết định cho bị cáo hưởng án treo đúng hay sai.

b. Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án

Để có căn cứ kháng nghị hoặc trả lời người đề nghị giám đốc thẩm, Kiểm sát viên có văn bản yêu cầu Toà án đã xét xử mà bản án có hiệu lực pháp luật chuyển hồ sơ vụ án về đơn vị để nghiên cứu.

Cũng có ý kiến cho rằng không nhất thiết phải lấy hồ sơ vụ án để nghiên cứu mà chỉ cần nghiên cứu bản án là có thể trả lời người đề nghị kháng nghị được. Quan niệm như vậy là không đúng với Điều 47 Quy chế số 950/QĐ xác định:

“Sau khi phát hiện bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, Kiểm sát viên làm văn bản yêu cầu Toà án đã ra bản án hoặc quyết định đó chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật TTHS”. Như vậy, việc rút hồ sơ để nghiên cứu là một thao tác nghiệp vụ của Kiểm sát viên trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trên thực tế, việc yêu cầu Toà án nơi ra bản án hoặc quyết định chuyển hồ sơ cho VKS để nghiên cứu xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhìn chung được Toà án các cấp đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, có một số trường hợp do chưa xác định được trách nhiệm theo quy định của pháp luật nên việc chuyển hồ sơ còn để quá chậm, dẫn đến việc giải quyết vụ án không kịp thời. Việc chuyển hồ sơ vụ án giữa Toà án và Viện kiểm sát đã được Luật tổ chức VKSND quy định tại khoản 4 Điều 18. Theo đó, khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, VKSND có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“4. Yêu cầu TAND cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị”.

Thời gian qua, các trường hợp xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm ở VKSND tối cao đều được Kiểm sát viên rút hồ sơ để nghiên cứu. Việc rút hồ sơ để nghiên cứu là bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án theo trình tự giám đốc thẩm.

c. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án

c1. Phạm vi nghiên cứu hồ sơ vụ án

Phạm vi nghiên cứu hồ sơ vụ án phụ thuộc vào phạm vi giám đốc thẩm. Điều 284 Bộ luật TTHS quy định về phạm vi giám đốc thẩm, theo đó, “ Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị”. Từ quy định trên đây có thể suy ra, phạm vi nghiên cứu hồ sơ vụ án không chỉ giới hạn bởi nội dung của đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm mà phải nghiên cứu một cách toàn diện hồ sơ vụ án. Tuỳ theo tính chất của vụ án và nội dung đề nghị của đương sự mà xác định nội dung cần nghiên cứu hồ sơ vụ án. Để xác định nội dung nghiên cứu hồ sơ theo thủ tục giám đốc thẩm, xét về kỹ năng nghiên cứu của Kiểm sát viên cần đặt ra các tình huống để nghiên cứu theo dõi.  

c2. Các nội dung cần chú ý khi nghiên cứu hồ sơ vụ án

- Trường hợp bị cáo kêu oan do bị bức cung, mớm cung.

  Đây là những trường hợp thường gặp trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong các trường hợp đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì trường hợp kêu oan phải được ưu tiên nghiên cứu. Thực tiễn cho thấy, đơn kêu oan, đề nghị minh oan cho người bị kết án có nhiều loại. Có loại kêu oan nhưng trong đơn có nội dung đề nghị giảm nhẹ, có đơn đề nghị giảm nhẹ nhưng lại có nội dung kêu oan…Vì vậy, đối với nội dung kêu oan, Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu các tình tiết sau đây:

Nghiên cứu lời khai của bị cáo

Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, có một số trường hợp, bị cáo khai lúc nhận tội, lúc phản cung. Việc bị cáo khai nhận hành vi phạm tội là do có sự bức cung, mớn cung trong quá trình điều tra. Đây là trường hợp vụ án có các tình tiết rất phức tạp. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã nghiên cứu, trao đổi kỹ, thẩm chí có cả trường hợp thỉnh thị, chỉ đạo của các cơ quan cấp trên. Vì vậy, trong các trường hợp này Kiểm sát viên phải nghiên cứu thận trọng, khách quan các tình tiết: bị cáo có bao nhiêu lời khai và tường trình trong quá trình điều tra, trong đó có bao nhiêu lời khai nhận tội, bao nhiêu lời khai không nhận tội. Bị cáo khai nhận tội trong giai đoạn tố tụng nào. Ví dụ, trong quá trình điều tra, bị cáo có một số lời khai nhận tội, khi VKS phúc cung thì bị cáo không nhận tội, hoặc tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo không nhận hành vi phạm tội và cho rằng việc bị cáo nhận tội trong quá trình điều tra là do bị bức cung, mớm cung.

Thực tiễn giải quyết các vụ án kêu oan theo thủ tục giám đốc thẩm như vụ Phan Văn Quỳnh về tội giết người, hiếp dâm ở Đắc Nông, vụ Lê Bá Mai về tội giết người, hiếp dâm ở Bình Phước, vụ Lê Văn Mạnh về tội giết người, hiếp dâm ở Thanh Hoá, vụ Lý Minh Dũng về tội hiếp dâm ở Cà Mau, vụ Hàn Đức Long về  tội giết người, hiếp dâm ở Bắc Giang, vụ Nguyễn  Thị  Lâm, về  tội giết  người  ở Bình Thuận, thường  gọi  là  vụ  án  Vườn  Điều ...) cho thấy, lúc đầu tại Cơ quan điều tra các bị cáo đều khai nhận tội, giữa lời khai và bản tường trình đếu khai phù hợp với nhau, như: Trong vụ án Lý Minh Dũng cùng đồng phạm phạm tội hiếp ở Bạc Liêu, tại Cơ quan điều tra, bốn bị cáo đều khai nhận hành hiếp dâm và có nhiều bản cung các bị cáo khai rất giống nhau, đến từng chi tiết. Thậm chí, có những vụ án, nghiên cứu hồ sơ thấy, bị cáo không chỉ nhận tội thể hiện trên các bản cung mà còn viết thư gửi về cho người thân trình bày về nội dung hành vi phạm tội của mình và tỏ ra hối hận, xin lỗi người thân. Ví dụ, Lê Văn Mạnh gửi thư về cho gia đình thú tội và nhờ bố mẹ sang nói với bố nạn nhân để xin cho Mạnh. Nguyễn Thị Lâm trong vụ án Vườn Điều mặc dù không biết chữ nhưng vẫn viết một bức thư gửi về cho con rể là Trần Văn Sáng. Thư đề ngày 20/6/1999 có nội dung “chuyện gia đình má đã khai hết rồi, bây giờ má bàn với con hay là mình đổ thừa cho một đứa chịu thôi để nó đứng ra nhận, chứ không thì nó bắt hết cả gia đình. Phần má thì má đã khai hết rồi...”. Hàn Đức Long viết thư gửi về cho ông Báu (là bác của bị hại là cháu Yến) “Thân gửi chú Báu…về việc anh trót hại cháu Yến con chú Sơn, anh đã thành khẩn khai báo với Cơ quan công an. Vậy anh mong chú xuống bảo vợ chồng chú Sơn…không hành động những gì nóng quá để xảy ra những việc đáng tiếc”. Hoặc trong thư gửi vợ là chị Mai thì Long viết “Thân gửi em Mai...Còn nhà Sơn Liễu em sang bảo Sơn có gắng bình tĩnh đừng nóng vội làm việc gì đáng tiếc xảy ra độ vài ngày nữa anh về sẽ có thư riêng cho chú Báu và Sơn…”. Đây là những tình tiết về mặt lôgích rất phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ thì các bị cáo đều khai việc viết thư nhận tội là có tác động của những người bạn tù. Tại phiên toà sơ thẩm, Mạnh khai bức thư gửi về gia đình là do phạm nhân Hiền ép phải viết và nhờ Hiền chuyển ra ngoài. Nhưng cơ quan điều tra và VKS cũng không hề hỏi Hiền có ép Mạnh viết thư không? Do nội dung không phù hợp với tâm trạng người viết nên Kiểm sát viên phải hết sức chú ý những tình tiết này để đối chiếu với các tình tiết khác nhằm đánh giá tính xác thực của các tài liệu đó.

Việc nghiên cứu theo thứ tự theo thời gian các lời khai của bị cáo có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho KSV biết được diễn biến tâm lý của bị cáo trong quá trình khai báo, trên cơ sở đó xác định được phương hướng nghiên cứu hồ sơ vụ án. Tại Cơ quan điều tra thì nhận tội, trong quá trình phúc cung của VKS và xét xử thì bị cáo phản cung. Điều này có thể rút ra nhận định, trong quá trình điều tra, bị cáo rất có thể bị bức cung hoặc mớn cung.

Ví dụ, vụ án Hàn Đức Long, về tội giết người, hiếp dâm ở tỉnh Bắc Giang. Chiều tối ngày 26/6/2005, Hàn Đức Long đến quán nhà chị Liễu thì gặp cháu Nguyễn Thị Yến (sinh tháng 7/2000) đang ngồi trước của quán. Sau vài câu hỏi cháu Yến, Long đã dùng tay bịt mồm và bế cháu Yến ra cánh đồng sắn. Sau đó Long đã hiếp và giết chết cháu Yến rồi vứt xác cháu xuống cái chuôm giữa đồng.

Bản án sơ thẩm ngày 31/10/2007 đã tuyên phạt Hàn Đức Long tử hình về tội hiếp dâm trẻ em và chung thân về tội giết người. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là tử hình. Bản án phúc thẩm ngày 25/6/2008 đã quyết định y án sơ thẩm về tội danh và hình phạt. Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ thấy, tại Cơ quan điều tra, Hàn Đức Long có 10 bản cung,1 đơn tự thú, 1 bản tự khai và một số lá thư của Long gửi về cho người thân đều thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Đến khi Viện kiểm sát phúc cung ngày 14/1/2006 thì Hàn Đức Long phản cung. Tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Long đếu khai rằng việc nhận tội là do các Điều tra viên đã bức cung, nhục hình, bắt nhận tội. Đây là những tình tiết cho chúng ta suy nghĩ là việc điều tra trong vụ án này có vấn đề về tính khách quan của lời khai nhận tội.

Đáng chú ý là, đối với các trường hợp bị cáo khai, trong quá trình điều tra bị bức cung, nhục hình nhưng không được VKS hỏi kỹ để xem có đúng như lời khai của bị cáo không. Đây là trách nhiệm của VKS, Kiểm sát viên cần chú ý hỏi kỹ nội dung này.

Nghiên cứu các tài liệu, đồ vật có liên quan. Nghiên cứu các tài liệu, đồ vật liên quan có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm đánh giá tính xác thực, tính khách quan của vụ án. Trong các vụ án giết người, hiếp dâm, nếu bị cáo phản cung thì thông thường các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo để kết tội. Do vậy, Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu các tài liệu, đồ vật để chứng minh lời khai nhận tội của bị cáo có đúng hay không. Các tài liệu đồ vật có liên quan như biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, các kết luận giám định, biên bản thực nghiệm điều tra, các dấu vết, vật chứng thu tại hiện trường…Đây là những tài liệu quan trọng phản ánh thuộc tính của chứng cứ là khách quan. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng để lại các dấu vết. Hay nói cách khác, các tài liệu, dấu vết là sự phản ảnh tính khách quan của hành vi phạm tội. Nếu các tài liệu, dấu vết thu được mà phù hợp với lời khai nhận tội thì khẳng định lời nhận tội ấy là chứng cứ kết tội bị cáo. Ngược lại, nếu các tài liệu chứng cứ ấy mà mâu thuẫn hoặc không phù hợp với lời khai nhận tội thì phải xác minh làm rõ.

Thực tiễn giải quyết các vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm cho thấy các vụ án bị Hội đồng giám đốc bị huỷ thường liên quan đến các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra, vật chứng của vụ án. Có trường hợp lời khai bị cáo phù hợp với hiện trường nhưng các bản cung đó khi đọc qua đã thấy rõ cách hỏi mớm cung (như vụ Lê Bá Mai giết người, hiếp dâm ở Bình Phước). Có những biên bản khám nghiệm hiên trường không thu đầy đủ các dấu vết và những đồ vật thu được lại bảo quản không tốt, để mất mát nên không xác định được danh tính người bị giết (như vụ án Vườn Điều ở Bình Thuận). Có trường hợp, vật chứng thu được như dao, gậy nhưng không phù hợp với vết thương gây ra…Do vậy, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các tài liệu này để phát hiện những thiếu sót trong việc khám nghiệm, trong việc thực nghiệm điều tra…để đối chiếu với các tài liệu khác nhằm xác định tính có căn cứ của lời khai.  

Ví dụ, trong vụ án Hàn Đức Long nêu trên, cơ quan tố tụng đã truy tố, xét xử Hàn Đức Long về hai tội giết người và hiếp dâm thì chủ yếu dựa vào lời khai nhận tội của của bị cáo. Tuy nhiên để đánh giá tính xác thực của các lời khai nhận tội của bị cáo thì Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu các tài liệu khác như biên bản khám nghiệm hiện trường, các đồ vật thu giữ được, lời khai của người làm chứng ... để đánh giá xem lời khai bị cáo có phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác không. Nhưng trong vụ án này, biên bản khám nghiệm hiện trường có thu được một số mẫu tinh trùng, lông và tóc, nhưng giám định không xác định được gen. Quá trình thực nghiệm điều tra hai lần, trong đó lần một do bị cáo thực hiện nhưng không phải ở hiện trường vụ án mà ở hiện trường tương tự. Thực nghiệm lần hai thì người thực hiện không phải bị cáo mà người khác thực hiện.

Như vậy, biên bản hiện trường, thực nghiệm hiện trường trong trường hợp này không bảo đảm tính xác thực để chứng minh hành vi phạm tội của Hàn Đức Long. Hay nói cách khác, lời khai nhận tội của bị cáo không phù hợp với các tài liệu, dấu vết thu được của vụ án. Nói tóm lại, lời khai nhận tội của Hàn Đức Long trong vụ án này chưa mang tính khách quan nên chưa đủ cơ sở là chứng cứ buộc tội của vụ án.

Vì vậy, Kiểm sát viên cần nghiên cứu thật kỹ các tài liệu đồ vật và ghi chép đầy đủ vào bản cứu để đối chiếu, so sánh với các tài liệu khác nhằm đánh giá đúng bản chất của vụ án.

Nghiên cứu các lời khai nhân chứng

Lời khai nhân chứng là tài liệu quan trọng phản ánh mối quan hệ giữa nhân chứng, bị cáo với vụ án, phản ánh tính liên quan của chứng cứ. Qua nghiên cứu lời khai của nhân chứng nếu xét thấy nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo thì các lời khai của bị cáo, nhân chứng là các tài liệu có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và các tài liệu đó trở thành chứng cứ của vụ án. Ngược lại, nếu lời khai của bị cáo và nhân chứng không phù hợp với nhau thì phải tiến hành xác mịnh tìm nguyên nhân rồi mới kết luận lời khai ấy có trở thành chứng cứ hay không. Do vậy, Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu, đối chiếu giữa lời khai của bị cáo và nhân chứng để rút ra giũa chúng có sự phù hợp hay không. Sự phù hợp giữa lời khai của bị cáo và lời khai nhân chứng cũng như sự mâu thuẫn giũa các lời khai đó phải được thông kê chi tiết vào bản cứu. Việc thống kê chi tiết này không chỉ có ý nghĩa về xem xét về số lượng giá trị chứng minh của các lời khai ấy mà còn giúp cho Kiểm sát viên lựa chọn những biện pháp xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ví dụ, vụ án Lý Minh Dũng cùng đồng bọn bị xét xử về tội hiếp dâm ở tỉnh Cà Mau. Khoảng 2h sáng ngày 21/2/2007, Nguyễn Văn Hồ rủ một số thanh niên về nhà uống rượu. Trong nhà lúc này có Hồ, Lý Minh Dũng, Nguyễn Văn Sang, Lý Văn Mười, Nguyễn Văn Tý, Bùi Bích Thuỷ. Dũng có hành vi kéo tay Thủy xuống giường phía sau nhà. Tiếp đó, Dũng, Sang, Hồ, Tý thay nhau giao cấu với Thuỷ. Ông Đoàn Minh Chính, đội phó dân phòng đi qua nghe tiếng kêu la của Thuỷ nên đã bắt quả tang và dẫn Thuỷ đi trình báo công an.

Tại bản án sơ thẩm ngày 21/9/2007, TAND tỉnh Cà Mau áp dụng điểm c khoản 2 Điều 111; áp dụng Điều 69; Điều 74 BLHS phạt Lý Minh Dũng 10 năm tù, Nguyễn Văn Sang 9 năm tù, Nguyễn Văn Tý 8 năm tù, Nguyễn Văn Hồ 6 năm tù đều về tội hiếp dâm. Các bị cáo kháng cáo kêu oan. Đáng chú ý là bị hại Bùi Bích Thuỷ cũng có đơn kêu oan cho bị cáo. Bản án phúc thẩm ngày 17/1/2008 của Toà phúc thẩm TATC tại thành phố Hồ Chí Minh đã y án sơ thẩm. Sau đó các bị cáo tiếp tục kêu oan.

Kiểm tra các lời khai thấy, tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận như trên. Nhưng tại các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo kêu oan và cho rằng, sở dĩ trước đây khai với Cơ quan điều tra vì cán bộ đánh và mớn cung. Bị hại Thuỷ khai lúc đầu là bị hiếp, nhưng sau đó khai không bị hiếp. Việc Thuỷ khai trước đây bị hiếp là do ông Chính ép phải khai như vậy. Riêng Thuỷ và Sang khai hai người có quan hệ tình dục vì đã yêu nhau. Lời khai của Thuỷ và Sang là phù hợp với nhau.

Đối chiếu với biên bản khám nghiệm hiện trường thấy lời khai lúc đầu của các bị cáo nhận có hiếp dâm không phù hợp với hiện trường. Hiện trường là căn phòng trong ngôi nhà lợp lá, xung quanh được làm bằng vách lá cây. Xung quanh hiện trường lúc đó có nhiều người nhưng không ai nghe thấy gì. Ông Nguyễn Thanh Hùng là tổ trưởng tự quản khai, khi ông Chính đến báo có chuyện hiếp dâm tại nhà bà Mẫn, nhưng ông Thành nghĩ không có chuyện đó. Vì nếu có chuyện hiếp dâm thì cạnh nhà đó có hai nhà kế sát vách. Nếu có chuyện đó là mọi người đều biết.

Lời khai của ông Chính, người phát hiện đầu tiên khai mâu thuẫn với nhau về việc thấy Thuỷ bị hiếp (lúc thì khai thấy Thuỷ nằm trên giường không mặc quần áo, lúc thì khai có một thanh nhiên đang nằm trên người Thuỷ. Ông Chính khai nhìn thấy một thanh niên từ phòng Thuỷ nằm bước ra nhưng không xác định được người đó là ai. Có lúc ông Chính khai khi vào phòng Thuỷ thấy có đèn sáng, lúc thì khai không bật đèn.

Trong lúc đó, có các lời khai gỡ tội cho bị cáo lại không được sử dụng như lời khai của Thuỷ và Sang cho rằng hai người có quan hệ tình dục do yêu nhau. Lời khai này phù hợp với lời hai của bà Nguyễn Thị Nhỉ (mẹ Thuỷ) và bà Bông (mẹ Sang) đều khai Thuỷ và Sang yêu nhau và hai bên định cưới cho hai người.

Như vậy, qua nghiên cứu lời khai nhân chứng thấy còn nhiều nội dung mâu thuẫn nhưng chưa được điều tra làm rõ. Để có nhận định này, đòi hỏi Kiểm sát viên nghiên cứu kỹ tất cả các lời khai nhân chứng, đối chiếu với các lời khai của bị cáo với các tài liệu khác để phát hiện giữa chúng có những nội dung nào hợp lý, nội dung nào còn mâu thuẫn. Muốn vậy, yêu cầu Kiểm sát viên phải chú ý nghiên cứu kỹ và thận trọng tất cả các tài liệu với tinh thần trách nhiệm cao và thái độ nghiêm túc, khách quan.

- Trường hợp bị cáo kêu oan vì hành vi của họ không cấu thành tội phạm

Trong thực tiễn giải quyết án theo thủ tục giám đốc thẩm có nhiều trường hợp đương sự đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm với lý do hành vi của bị cáo không cấu thành tội. Những loại tội thường được đương sự đề nghị xem xét lại là các tội theo quy định của BLHS tại các điều 105, 106, 111, 122, 139, 140, 156, 165, 174, 175, 190, 202, 255,  257, 281, 285, 300…

Đối với các trường hợp này Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu kỹ các tình tiết mà bản án đã lấy đó làm căn cứ buộc tội, trên cơ sở đó, đối chiếu với các cấu thành cơ bản của điều luật để xem việc kết tội như vậy đã phù hợp với quy định của pháp luật chưa. Nói chung, hàng năm các Toà án xét xử khoảng trên dưới 60 vạn vụ án thì cơ bản là đúng người, đúng pháp luật. Tuy nhiên vẫn còn một số trường hợp việc kết tội không đúng với quy định của pháp luật, có trường hợp làm cho công dân bị oan.

Qua nghiên cứu hồ sơ các trường hợp bị kháng nghị giám đốc để nghị Hội đồng giám đốc huỷ án để điều tra, xét xử lại thấy vấn đề cơ bản là bản án chưa bám sát hoặc có nhận thức sai lầm về các cấu thành có bản của điều luật. Ví dụ, Điều 105 BLHS quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 BLHS thì căn cứ để kết tội cho một người nào đó phải có hai dấu hiệu bắt buộc: thứ nhất, người đó có hành vi gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%. Thứ hai, hành vi của người đó có ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không? Tiêu chí để đánh giá tinh thần bị kích động mạnh là nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng (ví dụ hành vi cố ý gây thương tích, đập phá tài sản…) đối với người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc đối với người thân thích của người đó. Như vậy, nếu hành vi cố ý gây thương tích mà tỷ lệ thương tật dưới 31% thì trong trường hợp này chưa cấu thành tội theo Điều 105 BLHS.

Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS thì phải chứng minh hai dấu hiệu bắt buộc, thứ nhất, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản như thế nào? thứ hai, hành vi vay, mượn, thuê tài sản rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, hoặc dùng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp ra sao?

Ví dụ, Ngô Duy Chiến cho Vương Thị Xuân vay 100 triệu đồng để làm ăn kinh tế. Theo hẹn, Chiến đến nhà yêu câu Xuân trả nợ. Xuân cứ khất lần nhiều lần và có ý chây ỳ, không chịu trả nợ theo đúng hạn đã thoả thuận. Sau đó, Chiến đã có đơn đề nghị Công an huyện giải quyết. Cơ quan điều tra đã khởi tố Xuân về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm d, khoản 2 Điều 140 BLHS. Vụ án đã được truy tố và xét xử.. Bản án sơ thẩm phạt Xuân 2 năm tù về tội danh và điều luật theo cáo trạng đã truy tố. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật,  bị cáo Xuân có đơn đề nghị xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Vì bản án kết tội bị cáo về tội danh và hình phạt theo điểm d, khoản 2 Điều 140 là không có căn cứ.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và tiến hành xác minh một số tình tiết thấy, việc Chiến cho Xuân vay 100 triệu đồng là có thật. Nhưng việc Xuân chưa trả nợ cho Chiến là do Xuân mua lô hàng sắt sau đó sắt xuống giá. Đồng thời, Xuân đã viết giấy biên nhận nợ và hứa sẽ thu xếp trả trong thời gian tới. Trong thời gian Xuân nợ Chiến, Xuân cam đoan trả lãi xuất theo ngân hàng Nhà nước quy định cho từng thời gian.

Như vậy, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy, việc Xuân nợ Chiến là do buôn bán, chứ không phải do Xuân chiếm đoạt. Yếu tố chiếm đoạt trong trường hợp này là chưa có căn cứ. Mặt khác, hồ sơ không chứng minh được Xuân đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối  hoặc bỏ trốn như thế nào. Đồng thời, hồ sơ cũng chưa chứng minh được Xuân đã dùng số tiền đó vào mục đích bất hợp pháp ra sao (như đánh bạc hoặc buôn lậu). Đây là các yếu tố cấu thành cơ bản của điều luật  (khoản 1 Điều 140) nhưng bản án chưa chứng minh đầy đủ. Việc Xuân nợ Chiến chỉ là quan hệ kinh tế. Đây là trường hợp các cơ quan tố tụng chưa nghiên cứu đầy đủ các quy định của BLHS nên đã hình sự hoá các quan hệ kinh tế.

Việc đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm với lý do hành vi của bị cáo chưa cấu thành tội thì Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu kỹ các hành vi cụ thể của bị cáo mà bản án lấy đó làm căn cứ kết tội (ví dụ bản án kết tội cho bị cáo gồm các hành vi: vay mượn, đến hẹn không có tiền trả nợ, sau đó làm giấy khất nợ…). Trên cơ sơ đó đối chiếu với các cấu thành cơ bản của điều luật để xem các hành vi của bị cáo đã phù hợp với các quy định của điều luật chưa. Từ đó, Kiểm sát viên có quan điểm đánh giá về tính có căn cứ của các lập luận của bản án.

Đối với các để nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm vì lý do hành vi không cấu thành tội phạm, Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu các quy định của pháp luật chuyên ngành. Theo quy định của BLHS hiện hành, trong một số tội phạm, điều luật chỉ quy định những dấu hiệu chung nhất của tội phạm. Do đó, khi xác định hành vi phạm tội cụ thể, Kiểm sát viên phải nghiên cứu các quy định của pháp luật chuyên ngành. Ví dụ Điều 195 BLHS quy định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý. Vậy thế nào gọi là tiền chất? Đây là nội dung mà cấu thành cơ bản của điều luật chưa xác định. Muốn khẳng định bản án đã kết luận bị cáo phạm tội theo Điều 195 BLHS có đúng hay không thì Kiểm sát viên không những phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm chắc hành vi của bị cáo, đồng thời phải nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật về tiền chất như thế nào? Trên cơ sở đó đối chiếu với các hành vi của bị cáo để xem hành vi ấy đã cấu thành tội theo quy định tại Điêu 195 BLHS chưa?

Ví dụ, Nguyễn Huy Hoàng có hành vi vận chuyển amphetaminc. Bản án sơ thẩm đã kết luận Hoàng phạm tội theo khoản 1 Điều 195 BLHS. Bản án sơ thẩm có hiệu lực, Hoàng có đơn đề nghị giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, vì theo Hoàng hành vi của bị cáo không phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 195 BLHS. Để có cơ sở xác định đề nghị của bị cáo Hoàng là đúng hay sai cần nghiên cứu các quy định của Nhà nước về tiền chất.

  Đây là vụ án mà hành vi cụ thể là mua bán amphetaminc. Để có cơ sở kết luận bản án kết tội bị cáo đúng hay không thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ Nghị định số 163/2007/NĐ-CP ngày 01/10/2007 của Chính phủ về sửa tên, bổ sung, chuyển, loại bỏ một số chất thuộc danh mục các chất ma tuý và tiền chất (ban hành kèm Nghị đinh số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất). Theo đó, chất amphetaminc với số thứ tự 145, là tiền chất.

c3. Nghiên cứu các đề nghị về nội dung bồi thường thiệt hại

Thực tiễn giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm thấy, các đề nghị có liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan đến các loại tội được quy định tại các Chương XII BLHS về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; Chương XIII về các tội xâm phạm qquyền tự do, dân chủ của công dân; Chương XIX về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng… Trong đó Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu để xem bản án đã thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường, đối tượng bồi thường, kỷ phần bồi thường chưa ? Trong thực tiễn giải quyết các vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm thấy có nhiều bản án quyết định việc bồi thường chưa đúng với quy định của pháp luật nên đã có khiếu kiện kéo dài. Vì vậy, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ để xem xét, đề xuất giải quyết cho phù hợp với quy định của pháp luật.

c4. Nghiên cứu việc áp dụng các thủ tục TTHS

Đối với các đề nghị giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm với lý do quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã vi phạm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật hình sự và TTHS, TTDS. Về pháp luật hình sự, các đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm thường liên quan đến điều, khoản tội danh áp dụng, tổng hợp hình phạt…Về pháp luật TTHS các đề nghị kháng nghị thường liên quan đến bức cung, nhục hình, quyền bào chữa không được tôn trọng, giám định không chính xác, thu thập chứng cứ không khách quan…Về TTDS, các khiếu nại thường liên quan đến tư cách tham gia tố tụng, bồi thường thiệt hại không chính xác…

Do vậy, Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu kỹ hồ sơ về các tình tiết liên quan đến khiếu nại để có đánh giá về tính có căn cứ của những khiếu nại, yêu cầu kháng nghị.

Kinh nghiệm cho thấy, để có cơ sở đánh giá chứng cứ, yêu cầu Kiểm sát viên ghi chép đầy đủ các tình tiết mà tài liệu, đồ vật có liên quan của hồ sơ vụ án (các chứng cứ buộc tội, gỡ tội). Các tài liệu quan trọng như các lời khai nhận tội, chối tội của bị cáo, các lời khai nhân chứng về các tình tiết liên quan đến nội dung khiếu nại, các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, các biên bản giám định, thực nghiệm điều tra, diễn lại hiện trường…nhất thiết Kiểm sát viên phải phô tô để lưu hồ sơ kiểm sát.

Những tài liệu này không những giúp cho Kiểm sát viên làm cơ sở để đánh giá tính có căn cứ và tính hợp pháp của hồ sơ vụ án, đồng thời đây là những tài liệu để viện dẫn, chứng minh khi báo cáo Lãnh đạo Viện. 

3. Kỹ năng xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm

a. Xác minh giám đốc thẩm

Căn cứ pháp lý cho việc xác minh trong thủ tục giám đốc thẩm của Viện kiểm sát: Bộ luật TTHS quy định Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của toà án bổ sung chứng cứ mới trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (Điều 246 Bộ luật TTHS năm 2003). Đối với việc giải quyết các vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, thực tiễn đặt ra là có những vụ án, nếu không xác minh bổ sung chứng cứ thì việc kháng nghị hay kết luận kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm không vững chắc; do vậy Điều 55 của Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSND tối cao) đã quy định:

1. Xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm trong những trường hợp cần thiết để làm rõ thêm những căn cứ kháng nghị hoặc kết luận kháng nghị…”

Để việc xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm có căn cứ pháp luật thật đầy đủ; trong dự thảo sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự mới, ban soạn thảo s ẽ đưa nội dung này bổ sung vào chương giám đốc thẩm.

b. Những vấn đề cần xác minh

Xác minh giám đốc thẩm không phải tiến hành rộng rãi cho các vụ án khi xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm; mà chỉ giới hạn ở những trường hợp cần thiết được hiểu như sau: đối với các vụ án do Viện kiểm sát nghiên cứu xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, cũng như những vụ án toà án đã kháng nghị giám đốc thẩm, chỉ khi thấy các căn cứ để kháng nghị tuy đã được điều tra xác minh trong các giai đoạn tố tụng trước đó; song khi đánh giá chứng cứ thấy chưa thật vững chắc; chỉ cần xác minh thêm một vài tình tiết, căn cứ là khẳng định được quyết định hay bản án có hiệu lực pháp luật đã quyết định không đúng bản chất của vấn đề cần kháng nghị.

Ví dụ

1. Vụ án Lê Văn Hoàng, về tội chứa mại dâm xảy ra tại tỉnh Bình Dương. Hoàng bị Viện kiểm sát truy tố và Toà án tỉnh Bình Dương áp dụng điểm a khoản 3 Điều 254 BLHS; khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự phạt Lê Văn Hoàng 5 năm tù về tội chứa mại dâm. Sau khi xét xử sơ thẩm, Hoàng kháng cáo kêu oan.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 179 ngày 13/3/2006, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm d khoản 2 Điều 254 các điểm p và s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 60 BLHS phạt Lê Văn Hoàng 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội chứa mại dâm. Lý do, Toà án cấp phúc thẩm căn cứ vào bản tường trình của chị Nguyễn Thị Dung và của cháu Phạm Thị Trúc Mai để khẳng định cháu Mai sinh năm 1987 chứ không căn cứ vào giấy Chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, lời khai chị Nguyễn Thị Dung -đều xác định cháu Phan Thị Trúc Mai sinh năm 1989. Về tình tiết giảm nhẹ, Toà án cấp phúc thẩm xác định bị cáo Lê Văn Hoàng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 46 BLHS; chỉ với căn cứ là lời khai của bị cáo và xác nhận của Hội cựu chiến binh cấp xã.

Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng cần xác minh thêm căn cứ để xác định tuổi của cháu Phan Thị Trúc Mai và nhân thân của bị cáo Hoàng thì việc kháng nghị mới vững chắc. Viện kiểm sát đã tiến hành xác minh thu thập được các tài liệu: tàng thư của công an huyện lập từ năm 1989, sổ xác định hộ nghèo, học bạ của Phan Thị Trúc Mai. Các tài liệu này phù hợp với lời khai của mẹ cháu Mai và các giấy tờ khác thu thập được trong quá trình điều tra, làm rõ thêm căn cứ khẳng định cháu Mai sinh năm 1989 chứ không phải sinh năm 1987 như Toà án cấp phúc thẩm đã xác định.

Đối với nhân thân của bị cáo Hoàng, tại UBND xã nơi bị cáo đăng ký nhân khẩu thường trú, chính quyền địa phương (bao gồm thành phần như Xã đội, Thương binh xã hội, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch và Bí thư xã) đều xác định Lê Văn Hoàng có đi bộ đội từ 1969 nhưng đến năm 1982 đã bỏ đơn vị, không có tài liệu, thông báo… nào chứng minh Hoàng được tặng thưởng huân chương và được hưởng các chính sách ở địa phương. Bản thân bị án Hoàng cũng thừa nhận điều này khi được lấy lời khai xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm.

Với kết quả xác minh nêu trên, căn cứ để kháng ghị giám đốc thẩm được củng cố vững chắc và rõ ràng hơn. Chính vì vậy kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao được chấp nhận toàn bộ khi xét xử giám đôc thẩm (vụ án được huỷ để xét xử lại theo quy định của pháp luật).

2. Vụ án Trương Thị Thu Vân, về tội mua bán trái phép chất ma tuý ở thành phố Hồ Chí Minh. Trương Thị Thu Vân là đầu mối tiêu thụ hêrôin cho nhiều đối tượng ở thành phố Hồ Chí Minh. Trong nhiều năm, Vân đã dùng chính căn nhà của vợ chồng bị cáo làm nơi giao dịch, mua bán ma tuý. Tổng cộng bị cáo mua bán với số lượng đặc biệt lớn, có trọng lượng lên tới gần 40kg hêrôin. Tham gia với Vân có chồng và con gái.

Bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm ngoài việc quyết định hình phạt chính và hình phạt bổ sung, Toà án các cấp còn áp dụng Điều 41 BLHS tịch thu toàn bộ tài sản, trong đó có căn nhà mà bị cáo cùng gia đình sinh sống.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, con gái bị cáo có đơn đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm để xin lại căn nhà, vì nhà này là nơi ở duy nhất còn lại, nếu tịch thu nhà thì không còn chỗ ở cho con gái và 2 cháu nhỏ (mẹ là Trương Thị Vân bị tuyên tử hình, bố 20 năm tù (đã chết trong trại) chị gái 18 năm tù (đã chết trong trại).

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy việc tuyên tịch thu nhà của bị cáo, nhưng không để lại cho gia đình bị cáo một khoản tài sản nào là chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 40 BLHS “khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống”. Song nhà bị tịch thu có phải là căn nhà duy nhất còn lại của gia đình bị cáo hay không thì hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng minh. Do đó, để có thêm căn cứ, Viện kiểm sát tiến hành xác minh. Kết quả xác minh thể hiện ngoài căn nhà bị tịch thu theo bản án phúc thẩm; gia đình bị án Vân không còn căn nhà nào khác.

Tóm lại, xác minh giám đốc thẩm là việc làm rất cần thiết để có thêm những căn cứ cho việc quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hay kết luận về kháng nghị của Chánh án Toà án cùng cấp trước khi mở phiên toà giám đốc thẩm.

c. Các thao tác xác minh giám đốc thẩm

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên thấy có tình tiết cần phải xác minh để làm rõ thêm căn cứ kháng nghị. Những việc Kiểm sát viên phải làm là chuẩn bị kỹ, đầy đủ các tài liệu có liên quan đến vấn đề cần xác minh đã có trong hồ sơ vụ án: bao gồm các tài liệu điều tra, tài liệu do người tham gia tố tụng cung cấp, bổ sung chứng cứ tại phiên toà, kết quả điều tra tại phiên toà… Trên cơ sở đó rút ra nhận xét và đề xuất việc cần xác minh lên Lãnh đạo Vụ. Lãnh đạo Vụ kiểm tra xem xét thấy đề xuất có căn cứ và cần thiết thì báo cáo Lãnh đạo Viện phụ trách. Khi báo cáo Lãnh đạo Viện cần bổ sung báo cáo về nội dung, phương pháp xác minh từng việc cụ thể.

Khi tiến hành xác minh, Kiểm sát viên là người thực hiện và có thể có cán bộ, kiểm tra viên giúp việc ghi chép.Thông thường để đảm bảo sự khách quan, tiến hành xác minh giám đốc thẩm cần có 2 thành viên: kiểm sát viên và cán bộ giúp việc. Những việc làm của kiểm sát viên trong khi xác minh bao gồm:

- Hỏi các đương sự (bị cáo, người bị hại, nhân chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người giám định, người giám hộ…).

- Xem xét lại hiện trường, vật chứng, tang vật của vụ án…

- Hỏi điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đã tham gia giải quyết vụ án. Yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội… cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết có liên quan đến việc xác minh.

- Trưng cầu giám định, tiến hành ghi âm, chụp ảnh, ghi hình, đo đạc, vẽ lại hiện trường…

d. Biện pháp xác minh

Khi tiến hành xác minh giám đốc thẩm, Kiểm sát viên là người chịu trách nhiệm tiến hành và ký kết các văn bản xác minh. Mọi vấn đề xác minh cần phối hợp với Viện kiểm sát địa phương để tiến hành; tuỳ từng việc có thể mời cơ quan điều tra địa phương, chính quyền địa phương tham gia.

4. Tổng hợp đánh giá chứng cứ

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án và điều tra xác minh, Kiểm sát viên tiến hành tổng hợp, đánh giá chứng cứ để xác định những yêu cầu của đương sự có chấp nhận được hay không. Đây là bước rất quan trọng của hoạt động tư duy. Kiểm sát viên phải chuẩn bị cho mình các điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc tổng hợp, đánh giá chứng cứ chính xác, khoa học và thực tiễn.

a. Những quy định của pháp luật về đánh giá chứng cứ.

Tổng hợp, đánh giá chứng cứ là hoạt động nghiệp vụ của Kiểm sát viên trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đây không chỉ là trách nhiệm của Kiểm sát viên mà còn là kỹ năng công tác của Kiểm sát viên, cán bộ, nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh, vụ án được giải quyết một cách đúng đắn, toàn diện và khách quan. Tổng hợp đánh giá chứng cứ có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự. Nếu như quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã chấp hành nghiêm chỉnh các trình tự, thủ tục tố tụng nhưng việc tổng hợp, đánh giá chứng cứ không được coi trọng, chất lượng không cao thì sẽ làm cho việc giải quyết vụ án không chính xác, có trương hợp dẫn đến oan sai.

Vấn đề chứng cứ và đánh giá chứng cứ là nội dung quan trọng nên đã được pháp luật TTHS từ trước tới nay quy định chặt chẽ. Bộ luật TTHS năm 1988, tại Điều 48 quy định:

“1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Chứng cứ được xác định bằng:

a. Vật chứng;

b. Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c. Kết luận giám định;

d. Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác”.

Những quy định trên đã góp phần đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thời gian qua thu được những thành tựu quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện, những quy định trên chưa chặt chẽ, làm cho việc áp dụng trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Ví dụ, ngoài lời khai của những người quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 48, trên đây, còn có các lời khai của những người khác cũng là chứng cứ như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt. Điểm d khoản 2 chỉ mới quy định về các tài liệu mà chưa đề cập đên đồ vật

Đây là những bất cập của Bộ luật TTHS năm 1988 mà thực tiễn hoạt động tố tụng đã bị hạn chế trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập của Điều 48 Bộ luật TTHS năm 1988, Điều 64 Bộ luật TTHS năm 2003 đã bổ sung những đối tượng trên đây là nguồn chứng cứ.

 Hoạt động đánh giá chứng cứ nhằm nghiên cứu một cách tổng hợp tất cả các chứng cứ đã được thu thập để xác định tội phạm và người phạm tội. Đây là hoạt động của tư duy mang tính chủ quan nhưng dựa trên nên tảng của sự thật khách quan, không được định kiến một cách chủ quan. Do vậy, hoạt động đánh giá chứng cứ đã được pháp luật quy định chặt chẽ. Điều 66 Bộ luật TTHS quy định:

“1. Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định các chứng cứ thu thập được phải bảo đảm để để giải quyết vụ án hình sự;

2. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm xác định và đánh giá chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cáh tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án”.

So với quy định tại Điều 50 Bộ luật TTHS năm 1988, Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2003 đã có quy định mới về thuộc tính của chứng cứ. Theo quy định Điều 66 trên đây, tổng hợp, đánh giá chứng cứ là xác định các thuộc tính của chứng cứ: tính xác thực, tính liên quan và tính hợp pháp.

Tính xác thực của chứng cứ là những gì có thật, tức là tự thân của chứng cứ là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Những tài liệu, đồ vật nào tồn tại khách quan và có ý nghĩa đến việc xác định tội phạm và người phạm tội thì phải được thu thập đầy đủ và được xem xét đánh giá một cách tổng hợp trong hệ thống các chứng cứ. Nếu tài liệu, đồ vật nào không mang tính khách quan, do con người suy diễn tạo nên (như lời khai không trung thực, tài liệu thu thập được tạo nên…) thì không được coi là chứng cứ. Vì vậy, đánh giá chứng cứ trước hết Kiểm sát viên phải nghiên cứu, xem xét các tình tiết của vụ án, các tài liệu, đồ vật đã được thu thập khách quan chưa? Ví dụ: bị cáo A khai đã dùng dao đâm chết B. Trong trường hợp này Kiểm sát viên phải đánh giá con dao có thật không, nếu có thì kích thước ra sao, có phù hợp với vết thương không? Con dao và vết thương có phù hợp với thực nghiệm điều tra hay không?

Tính liên quan của chứng cứ là mối liên hệ bền vững giữa các chứng cứ. Mối liên hệ giữa các chứng cứ là khách quan. Một tài liệu, đồ vật chỉ trở thành chứng cứ khi giữa chúng có mối liên hệ với nhau, tạo thành một hệ thống chứng cứ của vụ án. Nếu một tài liệu, đồ vật được thu thập một cách khách quan nhưng giữa chúng không có mối liên quan với nhau thì chúng chưa trở thành chứng cứ cua vụ án.Ví dụ, khi khám nghiệm hiện trường vụ giết người, Cơ quan điều tra có thu giữ một con dao găm. Con dao găm đó là khách quan. Tuy nhiên qua điều tra thấy hung thủ đã dùng con dao có chọc tiết lợn để gây án. Như vậy, con dao găm đó không có mối liên quan đến vụ án nên chúng không phảI là chứng cứ của vụ án. Vì vậy, để trở thành chứng cứ của vụ án, các tài liệu, đồ vật cần phải được điều tra, xác minh về mối liên hệ giữa chúng với các tài liệu đồ vật khác.

Tính hợp pháp của chúng cứ  là sự tuân theo pháp luật TTHS trong việc thu thập, tổng hợp, đánh giá chứng cứ của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi các tài liệu, đồ vật muốn trở thành chứng cứ thì việc thu thập và đánh giá chúng phải theo đúng các trình tự, thủ tục TTHS. Những tài liệu, đồ vật được thu thập không theo quy định của pháp luật thì nó không được coi là chứng cứ vụ án.

 Như vậy, Bộ luật TTHS đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng về các thuộc tính của chứng cứ: tính xác thực, tính liên quan và tính hợp pháp của chứng. Trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào việc thu thập và đánh giá chứng cứ luôn luôn được coi trọng. Có thể nói, đây là vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện.

 Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tổng hợp, đánh giá chứng cứ là hoạt động nghiên cứu, kiểm tra, đối chiếu, xem xét những tài liệu, đồ vật có trong hồ sơ để có kết luận về tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Ví dụ, bị cáo khai dùng dao đâm B vì B có hành vi dùng gậy đánh trước. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ A dùng dao đâm B diễn ra như thế nào, A chuẩn bị dao từ lúc nào, dao có kích thước ra sao? B dùng gậy đánh A bằng gỗ gì, kích thước gậy như thế nào? Giữa A và B có mâu thuẫn ra sao…Như vậy, phải nghiên cứu, tổng hợp tất cả các chứng cứ để xem bị cáo A có hành vi phạm tội theo Điều 104, hay Điều 105, 106 BLHS? Trên cơ sở đó nhận xét bản án áp dụng Điều 106 BLHS để quy kết tội danh và hình phạt đối với hành vi của A có đúng với pháp luật hay không?

 Việc tổng hợp đánh giá chứng cứ có chất lượng sẽ là cơ sở cho việc xem xét, kết luận những đề nghị giám đốc thẩm có căn cứ như thế nào và trong trường hợp ấy có cần thiết phải kháng nghị hay không. Như vậy, tổng hợp, đánh giá chứng cứ không chỉ là hoạt động nghiệp vụ nhằm phát hiện những sai lầm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm mà đây còn là biện pháp để xem xét, kết luận việc đề nghị giám đốc thẩm của đương sự có căn cứ hay không.

Tổng hợp, đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy độc lập của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án. Hoạt động tư duy này tùy thuộc vào năng lực, trình độ tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu, tình tiết của vụ án của Kiểm sát viên. Mỗi giai đoạn tố tụng, việc tổng hợp đánh giá chúng cứ do các Kiểm sát viên ở mỗi cấp và trong mỗi giai đoạn tố tụng thực hiện nên việc tổng hợp, đánh giá chứng cứ có thể khác nhau. Trong giai đoạn giám đốc, yêu cầu đặt ra đối với Kiểm sát viên phải nêu cao trách nhiệm và năng lực để nhiên cứu một cách khách quan, toàn diện các chứng cứ, bảo đảm góp phần giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, việc thường xuyên nghiên cứu, bồi dưỡng kỹ ngăng nghiệp vụ kiểm sát nhằm nâng cao năng lực tổng hợp, phân tích, đánh giá chứng cứ được đặt ra như yêu cầu cấp thiết của Kiểm sát viên.  

 Trên cơ sở nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án và đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm của đương sự, căn cứ vào kết quả xác minh các tình tiết của vụ án, Kiểm sát viên tiến hành phân tích, so sánh đánh giá, kết luận về tính hợp pháp của các tài liệu. Ví dụ: Biên bản khám nghiệm hiện trường đã được lập theo đúng quy định chưa, kết luận giám định của Hội đồng có đúng với quy định của pháp luật về giám định không ? Đồng thời, xem xét, kết luận về tính có căn cứ của các tài liệu, đồ vật mà bản án của Tòa án đã dùng làm cơ sở quy kết tội phạm và hình phạt đối với bị cáo. Ví dụ, trong vụ án tham ô tài sản, bản án đã căn cứ lời khai của bị cáo để khẳng định bị cáo đã lợi dụng chức vụ là thủ kho để chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp này Kiểm sát viên phải kiểm tra hồ sơ vụ án để xem bị cáo đã được phân công làm nhiệm vụ thủ kho lúc nào, ai ký quyết định. Việc hệ thống, đánh giá toàn bộ giá trị chứng minh của các tài liệu, đồ vật ở cấp giám đốc sẽ giúp cho Kiểm sát viên có một cái nhìn tổng quát, toàn diện hơn về vụ án.  

b. Kỹ năng tổng hợp, đánh giá chứng cứ của vụ án

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án và kết quả xác minh tài liệu, gặp bị can, nhân chứng, Kiểm sát viên phải tiến hành tổng hợp, đánh giá các chứng cứ của vụ án từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Tổng hợp, đánh giá chứng cứ nhằm xác định chính xác tính có căn cứ và tính hợp pháp của vụ án, lựa chọn phương hướng xử lý theo đúng quy định Điều 273 Bộ luật TTHS. Đây là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi Kiểm sát viên không chỉ phải có tư duy độc lập, chính xác mà còn phải nắm vững các quy định của pháp luật và am hiểu sâu sắc thực tiễn công tác giải quyết án trong giai đoạn giám đốc thẩm.

Tổng hợp đánh giá các chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm khác với giám đốc thẩm. Nếu như trong giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm, việc tổng hợp, đánh giá chứng cứ chủ yếu dựa trên các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các tình tiết về nhân thân con người phạm tội thì trong thủ tục giám đốc thẩm, việc tổng hợp đánh giá chứng cứ yêu cầu phải mang tính toàn diện hơn. Tính toàn diện thể hiện ở chỗ, ngoài những nội dung cần xem xét, đánh giá như các giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm, phải chú ý đến quan điểm đánh giá chứng cứ của các cấp sơ thẩm, hoặc phúc thẩm, các tài liệu mà Kiểm sát viên đã điều tra, xác minh; đồng thời chú ý nghiên cứu kỹ những ý kiến của cơ quan, tổ chức và cá nhân khi nêu các vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án. Hay nói cách khác, tổng hợp đánh giá chứng cứ vụ án giám đốc thẩm phải dựa trên tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Mặt khác, xem xét vụ án giám đốc thẩm phải được nghiên cứu việc tuân thủ pháp luật của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong suốt quá trình từ giai điều tra, truy tố, đến giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.

Vụ án được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, Kiểm sát viên không chỉ nắm vững các chứng cứ, tình tiết của vụ án mà còn phải hiểu và vận dụng đúng đắn quy định tại Điều 273 Bộ luật TTHS  về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều 273 quy định:

“Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;

2. Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

3. Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi đièu tra, truy tố hoặc xét xử;

4. Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.”

Như vậy, Kiểm sát viên khi tiến hành tổng hợp đánh giá chứng cứ phải đối chiếu, so sánh giữa các chứng cứ của vụ án, giữa những yêu cầu của người đề nghị giám đốc thẩm với các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật TTHS. Văn bản thông báo về những vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có thể nêu nhiều vi phạm của bản án, hoặc qua nghiên cứu hồ sơ vụ án có thể phát hiện nhiều vi phạm nhưng những vi phạm ấy đã đến mức phải kháng nghị giám đốc thẩm hay chưa thì Kiểm sát viên chú ý, các vi phạm đó phải phù hợp với một trong các căn cứ quy định tại Điều 273 Bộ luật TTHS. Do vậy, quá trình tổng hợp, đánh giá chứng cứ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm, Kiểm sát viên lưu ý nắm vững các quy định của pháp luật sau đây:

Thứ nhất, việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ 

        Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu các đề nghị của đương sự về việc nêu các nội dung về vi phạm trong việc điều tra xét hỏi tại phiên toà như thế nào (ví dụ, Hội đồng xét xử không xét hỏi về vị trí, vai trò của các bị can trong vụ án có đồng phạm). Trên cơ sở đó đối chiếu với biên bản phiên toà (sơ thẩm và phúc thẩm) để xem việc điều tra xét hỏi của Hội đồng xét xử ra sao. Để có cơ sở kết luận việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ thì phải xem việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện và việc điều tra xét hỏi tại phiên toà không đầy đủ được diễn ra như thế nào. Để có căn cứ khẳng định việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần làm rõ các vấn đề sau đây:

Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện: Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà được Bộ luật TTHS quy định rất chặt chẽ như: Kiểm tra căn cước của những người được triệu tập (Điều 201), công bố những lời khai tại cơ quan điều tra (Điều 20), hỏi bị cáo (Điều 209), hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp (Điều 210), hỏi người làm chứng (Điều 211), xem xét vật chứng (Điều 212), xem xét tại chỗ (Điều 213), hỏi người giám định (Điều 215)...

Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà phiến diện được hiểu là việc điều tra xét hỏi không vô tư, khách quan, toàn diện, quá nhấn mạnh đến một tình tiết nào đó, ví dụ nhấn mạnh tình tiết buộc tội, coi nhẹ tình tiết gỡ tội, để kết luận nghiêng về buộc tội theo ý chí chủ quan của mình. Quá chú ý đến các tài liệu có trong hồ sơ, không chú ý đến các chứng cứ được thẩm tra xác minh công khai tại phiên toà. Ví dụ, do có định kiến kết tội bị cáo nên khi xét hỏi chỉ tập trung thẩm vấn về chứng cứ buộc tội, bỏ qua các chứng cứ gỡ tội, nhân chứng đưa ra các chứng cứ gỡ tội nhưng không được điều tra xét hỏi. Khi điều tra xét hỏi chỉ chú ý đến tình tiết tăng nặng, bỏ qua các tình tiết giảm nhẹ. Từ đó nhận định của bản án chỉ nêu đậm nét về quan điểm buộc tội, tăng nặng hình phạt dẫn đến việc đánh giá sai với thực tế khách quan.

 Về vấn đề này, Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu kỹ ý kiến của đương sự trong việc thông báo các vi phạm về điều tra xét hỏi, lập luận của họ như thế nào, chứng cứ nêu ra gồm những tình tiết gì? Có phù hợp với các tình tiết của hồ sơ vụ án hay không? Trong đó Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu xem biên bản phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm được ghi chép với nội dung gì? Biểu hiện của việc điều tra, xét hỏi phiến diện đuợc thể hiện trong biên bản phiên toà như thế nào? Các bị cáo, bị hại, nhân chứng…đã trả lời Hội đồng xét xử những nội dung gì ? Cuối cùng Kiểm sát viên nghiên cứu hậu quả của việc điều tra xét hỏi phiến diện dẫn đến bản án có nhận định, đánh giá chứng cứ sai lầm như thế nào?

Ví dụ, vụ án Đinh Xuân Đắc, về tội hiếp dâm trẻ em ở tỉnh Tuyên Quang. Vào khoảng 15h ngày 20/12/2003, bà Đỗ Thị Hoa cùng con là Nguyễn Thị Hương (sinh ngày 21/11/1991) trú tại thị trấn Na Hang, huyện Na Hang lên đồi lấy củi. Cùng lúc đó, Đinh Xuân Đắc gặp cháu Hương và rủ cháu Hương rẽ sang đường khác rồi gạ gẫm và giao cấu với cháu Hương. Tối hôm đó, ông Vũ Đình Thị là bố dượng của cháu Hương gạn hỏi thì cháu Hương kể về việc cháu bị ông Đinh Xuân Đắc hiếp dâm. Sau đó ông Thị làm đơn tố cáo Đinh Xuân Đắc phạm tội hiếp dâm trẻ em. Vụ án được khởi tố điều tra. Tại bản án sơ thẩm số 54/2006/HSST ngày 29/05/2006, TAND tỉnh Tuyên Quang đã áp dụng khoản 4 Điều 112; điểm m khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt Đinh Xuân Đắc 12 năm tù về tội hiếp dâm trẻ em, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 5 triệu đồng. Đinh Xuân Đắc kháng cáo kêu oan. Bản án hình sự phúc thẩm số 953/2006/HSPT ngày 27/9/2006, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã giữ nguyên các quyết định về tội danh và hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đinh Xuân Đắc.

        Trong quá trình điều tra và tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo không nhận tội, kêu oan. Còn lời khai của cháu Hương về việc bị ông Đắc giao cấu có sự mâu thuẫn về địa điểm, thời gian, diễn biến sự việc, số lần giao cấu. Lời khai của bà Hoa cũng có nhiều mâu thuẫn về thời gian và mâu thuẫn với lời khai của cháu Hương về vị trí chặt củi, về diễn biến sự việc. Còn lời khai của ông Thị cũng có nhiều mâu thuẫn với lời khai của bà Hoa và cháu Hương. Những mâu thuẫn của các lời khai trên đây không được xét hỏi, đối chất làm rõ. Về thời gian tiêu thụ của bà Hoa, cháu Hương, ông Thị, bị cáo Đắc có nhiều mâu thuẫn nhưng không được điều tra, xét hỏi làm rõ.

Hiện trường do cháu Hương khai, nhưng biên bản khám nghiệm hiện trường không thể hiện có cháu Hương tham gia. Biên bản giám định pháp y do Trung tâm y tế huyện thực hiện là không đúng thẩm quyền, trái với hướng dẫn của Thông tư số 78 ngày 226/1/1989 của Bộ Tư pháp.

Tất các mâu thuẫn trên đây không được Hội đồng xét hỏi đầy đủ, chỉ tập trung xét hỏi các tình tiết buộc tội, không chú ý xét hỏi để làm rõ các tình tiêt gỡ tội. Vì vậy, vụ án trên đây đã bị Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị, để nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử theo hướng huỷ án để điều tra, xét xử lại và Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

 Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà không đầy đủ được hiểu là việc điều tra xét hỏi tại phiên toà rất sơ sài, còn thiều những tình tiết, những chứng cứ quan trọng mà hồ sơ đã phản ảnh nhưng không được xét hỏi làm rõ. Biểu hiện của việc điều tra xét hỏi tại phiên toà không đầy đủ ở chỗ: không triệu tập, không xét hỏi những người mà lời khai của họ có ý nghĩa quan trọng đến việc đánh giá chứng cứ, không thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, đồ vật quan trọng của vụ án, các tài liệu về nhân thân người phạm tội, không tiến hành giám định những trường hợp phải giám định theo quy định của pháp luật. Do việc không xét hỏi đầy đủ những tình tiết, chứng cứ của vụ án nên việc nhận định, đánh giá chứng cứ vụ án không khách quan, không lô gích. Ví dụ: bị cáo A phạm tội trộm cắp dây điện chiếu sáng và có khai do B xúi dục, mỗi lần cắt trộm giây điện về bán cho B. Cơ quan điều tra có hỏi B nhưng tại các phiên tòa B không được triệu tập đế với tư cách người có nghĩa vụ liên quan để xét hỏi. Sau khi án có hiệu lự, bị cáo A đề nghị xem xét lại cho y vì y phạm tội do xúi dục của B. Như vậy, việc Tòa án không triệu tập B đến phiên tòa để xét hỏi về vai trò giúp sức là vi phạm nghiêm trọng.

Do việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ nên các tình tiết quan trọng của vụ án không được làm sáng rõ, các mâu thuẫn của hồ sơ chưa được giải quyết. Từ đó dẫn đến bản án hoặc quyết định của Toà án không khách quan, không chính xác.

Khi tổng hợp, đánh giá chứng cứ về điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến din hoặc không đầy đủ Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ biên bản phiên toà và đói chiếu với các chứng cứ khác để xem xét vi phạm ấy diễn ra như thế nào, có nghiêm trọng không, có làm thay đổi tính chất của vụ án không? Nếu việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà có phiến diện hoặc không đầy đủ nhưng không làm thay đổi tính chất, không ảnh hưởng lớn đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng thì việc kháng nghị hay không cần phải được tính toán kỹ.

Ví dụ, bị cáo A có hành vi dùng dao Thái Lan gây thương tích cho anh B, anh C và anh Đ. Giám định thương tật kết luận anh B có tỷ lệ thương tật 3%, anh C 3%, còn anh Đ từ chối giám định. Khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Toà án chỉ triệu tập bị hại là anh B và anh C. Còn anh Đ không triệu tập. Bản án tuyên phạt bị cáo A phạm tội cố ý gây thương tích, theo điểm c khoản 1 Điều 104 BLHS và tuyên phạt A 2 năm tù. Buộc bị cáo A bồi thường cho anh B và anh C mỗi người 235.000 đồng. Sau khi án có hiệu lực, bị hại có đơn yêu cầu giám đốc thẩm vì cho rằng Toà án không triệu tập bị hại Đ là không đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Tuy nhiên qua nghiên cứu hồ sơ Kiểm sát viên thấy: Cơ quan điều tra có yêu cầu giám định nhưng anh Đ từ chối. Khi xét xử Toà án không triệu tập anh Đ là có vi phạm. Bởi vì anh Đ là bị hại của vụ án. Tuy nhiên anh Đ không có khiếu nại bản án. Nếu phiên toà có triệu tập anh Đ đến thì cũng không thể xét xử bị cáo A nặng hơn. Vì việc xét xử bị cáo A theo điểm c khoản 1 Điều 104 và tuyên phạt A 2 năm tù là thoả đáng. Như vậy, trong trường hợp này Hội đồng xét xử không triệu tập anh Đ với tư cách là người bị hại đến phiên toà là có vi phạm nhưng không phải là vi phạm nghiêm trong. Do vậy, trong trường hợp này cần trả lời người khiếu nại là án xử đúng, không có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm.

Thứ hai, kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án

Trước hết hiểu thế nào là kết luận trong bản án hoặc quyết định? Theo chúng tôi, kết luận là những đánh giá, nhận định, quan điểm, quyết định của bản án hoặc quyết định về hành vi phạm tội, tính chất và hậu quả, động cơ, mục đích của tội phạm, các chứng cứ buộc tội, các chứng cứ gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân người phạm tội. Kiểm sát viên cần lưu ý là, nói kết luận của bản án hoặc quyết định cũng bao ham các kết luận của Cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát không phù hợp với tình tiết khách quan mà Toà án cũng dựa vào đó để kết luận thì cũng là vi phạm nghiêm trọng và đây là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm. Ví dụ, trường hợp bản án, cáo trạng, kết luận điều tra có kết luận không phù hợp với tình tiết khách quan thì việc kháng nghị không chỉ đề nghị hủy án mà hủy các kết luận của cáo trạng, bản kết luận điều tra để điều tra, xét xử lại.

Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án biểu hiện ở việc không phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được điều tra xét hỏi tại phiên toà.

        Chứng cứ được điều tra xét hỏi tại phiên toà bao gồm các tình tiết có ý nghĩa về buộc tội, gỡ tội, các tài liệu về giám định, lời khai nhân chứng, bị hại… Đó là những chứng cứ đã được thể hiện một cách công khai qua điều tra xét hỏi công khai, khách quan  nhưng Hội đồng xét xử lại không căn cứ vào đó để kết luận. Ví dụ, kết quả xét hỏi tại phiên tòa cho thấy A đã dùng dao đâm vào ngực B, vết thương thấu tim dẫn đến B chết. Như vậy A đã có hành vi giết B nhưng kết luận bản án lại cho rằng A giết người trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Tại phiên tòa tình tiết phòng vệ chính đáng không được xét hỏi để làm rõ, nhưng lại có kết luận phòng vệ chính đáng là vi phạm nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 217 Bộ luật TTHS, tại phiên toà, nhiều chứng cứ được bị cáo, người bào chữa, nhân chứng, người đại diện hợp hợp pháp, những người tham gia tố tụng đưa ra (đó là quyền của họ), trường hợp này Hội đồng xét xử phải có trách nhiệm đấu tranh, xét hỏi làm rõ để kết luận. Tuy nhiên, có trường hợp, sau khi xét hỏi, Hội đồng xét xử đưa ra kết luận nhưng không dựa trên kết quả xét hỏi tại phiên tòa. Nhiều mâu thuẫn giữa các tài liệu chứng cứ chưa được giải quyết (ví dụ mâu thuẫn giữa các lời khai với nhau, mâu thuẫn giữa lời khai với hiện trường, với vật chứng, với kết luận giám định…) nhưng Hội đồng xét xử không xét hỏi, đấu tranh làm rõ mà vẫn kết luận theo ý chí chủ quan của mình. Những kết luận này là không khách quan vì không phù hợp với kết quả đã được điều tra xét hỏi tại phiên tòa.

Ví dụ, vụ án Lê Văn Mạnh, về tội giết người, hiếp dâm ở tỉnh Thanh Hoá. Khoảng 17h ngày 21/3/2005, Lê Văn Mạnh đi tìm trâu ở bờ sông Cầu Chày thuộc xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá thì phát hiện cháu Hoàng Thị Loan đang đi vệ sinh. Mạnh bất ngờ dùng tay bịt miệng cháu Loan, đấm vào mắt phải và quật ngã cháu Loan. Mạnh nằm đè lên người cháu Loan, tay trái bịt miệng, tay phải kéo quần dài và quần lót cháu Loan rồi thực hiện việc giao cấu. Loan giãy giụa phản ứng, Mạnh túm tóc đập đầu cháu xuống đất nhiều lần làm cháu Loan bất động. Sau đó, Mạnh đã bế cháu Loan lội qua sông Cầu Chày để giấu xác. Tại đây, Mạnh xé áo lót của cháu Loan, cuộn thành dây rồi buộc qua cổ, với ý định là làm mọi người tưởng cháu Loan tự sát. Sau đó Mạnh về nhà. Toà án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên phạt Mạnh 10 năm tù tội hiếp dâm trẻ em và tử hình về tội giết người. Sau khi án có hiệu lực, Mạnh có đơn kêu oan.

Qua nghiên cứu hồ sơ, xác minh thấy vụ án có nhiều mâu thuẫn nhưng tại các phiên toà chưa giải quyết được. Tại Cơ quan điều tra Mạnh đã khai nhận hành vi giết người và hiếp dâm cháu Loan và có những nội dung nhận tội khá chi tiết, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được hiện trường chính nơi xảy ra hành vi tấn công đầu tiên của Mạnh đối với cháu Loan để thực hiện hành vi hiếp dâm là ở chỗ nào và nếu cháu Loan kêu cứu thì có ai phát hiện được không. Cơ quan điều tra và tại các phiên tòa cũng chưa tiến hành thực nghiệm điều tra và xét hỏi kỹ để làm rõ việc Mạnh bế cháu Loan qua sông như thế nào và cũng chưa yêu cầu cơ quan giám định giải thích rõ cháu Loan chết do nguyên nhân trực tiếp nào và nếu trường hợp bị đánh, bị ngạt thở thì tử cung người phụ nữ có thể ra máu không.

Về lá thư Mạnh viết gửi về cho gia đình ghi ngày 23/4/2005 thì ngày 28/4/2005 phạm nhân Lê Văn Dũng chuyển cho cán bộ trại giam bức thư này nhưng Cơ quan điều tra không hỏi gì về lá thư này. Tại phiên tòa, Mạnh khai do phạm nhân Hiền ép phải viết thư và nhờ Hiền chuyển ra ngoài. Nhưng không xét hỏi kỹ phạm nhân Hiền có ép buộc Mạnh viết thư này không và vì sao Mạnh nhờ phạm nhân Hiền chuyển thư ra ngoài nhưng người giao lá thư cho cán bộ trại giam lại là phạm nhân Dũng ?

Tại các phiên toà cũng chưa xét hỏi kỹ để làm rõ mâu thuẫn giữa các lời khai của bị cáo về thời gian tiêu thụ bất minh của Mạnh. Giữa lời khai của bị cáo và các nhân chứng còn nhiều mâu thuẫn nhưng chưa được Hội đồng xét xử đấu tranh làm rõ. Tại sao Mạnh bế cháu Loan qua sông để dấu xác mà lại không dìm xác xuống khỏi mặt nước ? Mạnh khai bế cháu Loan trên mặt nước nhưng giám định tử thi lại thấy có nước … Với những tình tiết khách quan của vụ án chưa được làm rõ như vậy, kết luận của Toà án về hành vi giết người, hiếp dâm của bị cáo là chưa đủ căn cứ.[6] 

Thứ ba, có sự vi phạm nghiêm trọng về thủ tục TTHS trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử

Vi phạm thủ tục TTHS trong khi điều tra, truy tố xét xử là vi phạm các trình tự, thủ tục tố tụng đã được Bộ luật TTHS quy định. Các vi phạm này thường được thể hiện rất đa dạng. Ví dụ, theo quy định tại Điều 166 Bộ luật TTHS, đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, VKS phải quyết định truy tố. Nếu quá 20 ngày VKS mới quyết định truy tố là vi phạm. Tuy nhiên vi phạm này của VKS chỉ cần rút kinh nghiệm chứ không nên kháng nghị, vì có kháng nghị cũng không làm thay đổi bản chất của vụ án và các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, có vi phạm không ảnh hưởng đến tội danh và hình phạt nhưng vẫn coi là nghiêm trọng và cần phải kháng nghị. Ví dụ, theo quy định hiện hành, cơ quan giám định pháp y phải từ cấp tỉnh trở lên, nhưng có trường hợp cơ quan tố tụng lại trưng cầu Trung tâm y tế cấp huyện thực hiện việc giám định. Có trường hợp tiến hành giám định lại nhưng vẫn do giám định viên lần trước thực hiện, dù kết quả giám định như thế nào thì như vậy vẫn bị coi là vi phạm nghiêm trọng. Do đó, phạm vi xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm là đối với các vi phạm nghiêm trọng về thủ tục TTHS.

 Từ phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS là việc không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Ví dụ, bị can, bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình mà cơ quan tiến hành tố tụng không yêu cầu cơ quan, tổ chức cử người bào chữa cho họ là vi phạm nghiêm trọng khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS. Qua thực tiễn, những vi phạm trong hoạt động tố tụng thường được biểu hiện ở các giai đoạn tố tụng như sau:

Trong giai đoạn điều tra

Vi phạm trong giai đoạn điều tra cần phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thường gặp là:

- Vi phạm trong việc khởi tố theo yêu cầu người bị hại. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật TTHS, chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng cơ quan điều tra quyết định khởi tố không có yêu cầu của người bị hại. Ví dụ, A có hành vi vu khống B. B không yêu cầu khởi tố A, (trừ trường hợp việc không yêu cầu đó có sự ép, buộc cưỡng bức) mà Cơ quan điều tra quyểt định khởi tố A về tội vu khống theo Điều 122 BLHS và vụ án đã được xét xử, án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là vi phạm nghiêm trọng, nếu cơ quan, tổ chức đề nghị xem xét thì vụ án trên cần phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Điều tra viên đã có hành vi mớm cung, nhục hình làm cho bị can khai nhận không đúng sự thật. Đây là vi phạm Điều 131, 132 Bộ luật TTHS về “hỏi cung bị can” và “biên bản hỏi cung bị can”. Ví dụ, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do có sự hướng dẫn của Điều tra viên hoặc lấy lời khai của người bị tình nghi khác để mớm cho bị cáo khai như lời khai của người bị tình nghi. Đây là những vi phạm thường dẫn đến bỏ lọt tội hoặc làm oan người vô tội. Tuy đây là vi phạm trong quá trình điều tra nhưng không phải dễ dàng phát hiện mà thường đến giai đoạn truy tố hoặc xét xử mới phát hiện do bị cáo khai ra. Việc bị cáo khai có bị mớm cung, bức cung, nhục hình thì Kiểm sát viên phải xác định rõ bằng chứng khẳng định việc đó là có thật. Còn nếu bị cáo khai mà không có bằng chứng thì không thể chấp nhận được. Trong trường hợp xác minh có căn cứ việc mớm cung, nhục hình làm cho bị cáo khai báo sai sự thật thì phải xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Không trưng cầu giám định trong những trường hợp theo quy định của pháp luật phải giám định. Đây là vi phạm Điều 155 Bộ luật TTHS về “trưng cầu giám định”. Ví dụ, bị cáo A phạm tội giết người, nhân chứng cho biết A có biểu hiện tâm thần và lời khai của bị cáo có biểu hiện không bình thường. Nhưng Cơ quan điều tra không trưng cầu giám định về tâm thần của bị cáo A. Theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật TTHS thì việc giám định tình trạng tâm thần của bị can là một trong 4 trường hợp bắt buộc phải giám định. Trường hợp này được xác định là vi phạm nghiêm trọng, cần phải kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị huỷ án để điều tra, xét xử lại.  

 - Nhập hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 117 Bộ luật TTHS. Ví dụ, A và B đồng phạm về tội tham ô. Trong đó A là người chủ mưu, B là người thực hiện. Nhưng Cơ quan điều tra đã tách A để giải quyết bằng biện pháp hành chính và chỉ đề nghị truy tố B. VKS và TA vẫn tiến hành truy tố, xét xử. Khi bản án có hiệu lực, B khiếu nại cho rằng B chỉ là kẻ bị lôi kéo, hành vi phạm tội nhẹ hơn nhưng lại bị xét xử, trong khi A là kẻ cầm đầu, hành vi phạm tội nghiêm trọng hơn lại không bị xét xử. Trường hợp này cơ quan điều tra đã vi phạm khoản 2 Điều 117 Bộ luật TTHS và cần phải kháng nghị để yêu cầu điều tra, xét xử lại.

- Không yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị can hoặc không đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS. Đây là vi phạm nghiêm trọng cần phải được kháng nghị. Tuy nhiên trong thực tiễn có trường hợp, các tổ chức trên đây đã cử người bào chữa nhưng bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không đồng ý và họ có quyền yêu cầu thay đổi người bào chữa hoặc từ chối người bào chữa. Trong những trường hợp này, Cơ quan điều tra đã lập biên bản ghi nhận ý kiến của bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ thì đây là hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

- Thu giữ và bảo quản vật chứng, xử lý vật chứng, khám nghiệm hiện trường, tử thi không đúng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 75, 76, 150, 151 Bộ luật TTHS. Đây là những hoạt động thu thập chứng cứ quan trọng của vụ án mà quá trình điều tra, người tiến hành tố tụng không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định trên đây là vi phạm nghiêm trọng, do vậy Kiểm sát viên nghiên cứu phát hiện đề xuất kháng nghị để khắc phục các vi phạm ấy.

- Công tác điều tra, thu thập chứng cứ không đầy đủ, làm cho vụ án được giải quyết không triệt để, toàn diện. Ví dụ, vụ án Phạm Duy Luật, Phạm Văn Hùng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội. Phạm Duy Luật là Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hải Phú Sơn, chuyên kinh doanh về dịch vụ nhà đất. Ngày 29/7/2003, UBND thành phố Hà Nội đã đồng ý cho Công ty của Luật lập dự án sử dụng đất trình cơ quan có thẩm quyền quyết định. Lợi dụng chủ trương này, Phạm Duy Luật cùng Phạm Văn Hùng đều là trưởng phòng thuộc Công ty không tiến hành lập dự án mà chia đất thành các lô để bán, ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 2.385m2 đất cho 25 người và thu tiền đặt cọc tổng số 8.788.000.000 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 381/2006/HSST ngày 30/8/2006, TAND thành phố Hà Nội áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48, 51 BLHS xử phạt Phạm Duy Luật tử hình về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139, điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt Phạm Văn Hùng 12 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi xét xử sơ thẩm cả hai bị cáo đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại kháng nghị số 02/HSPT ngày 1/9/2006, Viện trưởng VKS thành phố Hà Nội đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo Luật xuống chung thân.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 374/HSPT ngày 2/5/2007, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã y án sơ thẩm. Sau khi án phúc thẩm có hiệu lực, bị cáo Luật có đơn kêu oan gửi TAND tối cao và VKSND tối cao.

Các tài liệu có trong hồ sơ khẳng định, hành vi phạm tội của bị cáo Luật là có căn cứ kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, theo bị cáo Luật khai, tổng số tiền bán đất mà bị cáo Luật chiếm đoạt, bị cáo Luật đã chi cho cán bộ có thẩm quyền như ông Lương Xuân Hiển (Sở Tài nguyên môi trường và ông Đào Công Từ Chủ tịch UBND huyện Gia Lâm 5,7 tỷ đồng để được xem xét cấp đất. Nếu việc bị cáo Luật khai chi tiền trên là có thật thì số tiền đó là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có, cần phải được thu hồi để trả cho bị hại và tình tiết này còn là dấu hiệu của tội đưa hối lộ. Ngoài ra, bị cáo Luật còn đặt cọc 190 triệu đồng và 3000 USD để mua khách sạn tại Bãi Cháy, nhưng Cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ tình tiết này để xác định tiền bị cáo đặt cọc mua khách sạn có phải là tiền bị cáo phạm tội lừa đảo trước đó không ? Vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội từ giai đoạn điều tra. Vì vậy, VKSND tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng huỷ án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại theo quy định của pháp luật.[7] 

        Trong giai đoạn truy tố  

        Trong thực tế, các vi phạm thủ tục tố tụng dẫn tới phải kháng nghị giám đốc thẩm chủ yếu thuộc giai đoạn điều tra và xét xử,  trong giai đoạn truy tố ít gặp các vi phạm loại này. Tuy nhiên, trong giai đoạn truy tố cũng có một số vi phạm bị coi là nghiêm trọng như:

- VKS bỏ lọt người phạm tội hoặc làm oan người vô tội mà khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm không phát hiện được. Ví dụ, Cơ quan điều tra đề nghị truy tố bị can A và B về tội tham ô. Nhưng VKS chỉ truy tố A, còn B được miền truy tố. Bản án có hiệu lực, A có đề nghị xem xét lại vụ án vì bỏ lọt B. Kiểm sát viên nghiên cứu thấy có căn cứ bỏ lọt B thì trong trường hợp này phải kháng nghị đề nghi huỷ án để quyết định truy tố lại.

- Thất lạc các tài liệu quan trọng trong giai đoạn truy tố nhưng khi xét xử, Hội đồng xét xử không phát hiện được. Đây là vi phạm nghiêm trọng khoản 3 Điều 166 Bộ luật TTHS. Ví dụ, trong vụ án tham ô tài sản, khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ sang Toà án thì phát hiện mất quyển sổ ghi chép số tiền ăn chia giữa các bị cáo. Đây là tài liệu thuộc về chứng cứ quan trọng của vụ án. Hội đồng xét xử không trả lại cho Viện kiểm sát để khắc phục mà vẫn xét xử. Sau khi bản án có hiệu lực mới phát hiện những sai só này nên vụ án phải được kháng nghị để điều tra, khắc phục.

- Truy tố sai thẩm quyền. Thẩm quyền truy tố của VKS gắn với thẩm quyền xét xử của Toà án. Ví dụ, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp tỉnh nhưng VKS truy tố ra Toà án cấp huyện và Toà án cấp huyện không phát hiện nên đã xét xử sơ thẩm. Đây là vi phạm quy định tại Điều 170 Bộ luật TTHS.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 285 Bộ luật TTHS hiện hành thì nội dung của quyết định giám đốc thẩm chỉ quy định huỷ án để điều tra lại hoặc xét xử lại, chứ không có nội dung truy tố lại. Nhưng các vi phạm trên đây thuộc trách nhiệm của VKS, do vậy Viện kiểm sát phải có trách nhiệm truy tố lại. Vì vậy, theo chúng tôi, Điều 285 trên đây cần phải được sửa đổi cho phù hợp theo hướng quyết định giám đốc không chỉ hủy án để điều tra hoặc xét xử lại mà bao hàm cả việc hủy để truy tố lại.

         Trong giai đoạn xét xử

        Vi phạm trong giai đoạn xét xử được xác định là nghiêm trọng thuộc các trường hợp sau:

        - Xét xử sai thẩm quyền: bao gồm Toà án cấp huyện xét xử vụ án thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, TAND xét xử vụ án thuộc quyền xét xử của Toà án quân sự. Đây là vi phạm Điều 170 Bộ luật TTHS.

- Nội dung của bản án mâu thuẫn với biên bản phiên toà hoặc biên bản nghị án, bản án không có đầy đủ chữ ký của thành viên Hội đồng xét xử. Biên bản phiên toà không có chữ ký của thư ký phiên toà hoặc của Thẩm phán chủ tọa phiên toà. Đây là vi phạm Điều 224, 200, 222 Bộ luật TTHS. Hội đồng xét xử không biểu quyết phần áp dụng các điều khoản của BLHS, không biểu quyết phần hình phạt đối với từng bị cáo.

Ví dụ, vụ án Vừ A Tếnh về tội mua bán trái phép chất ma tuý ở Nghệ An. Đây là vụ án có nhiều bị cáo, trong đó bị cáo Vừ A Dính bị Hội đồng xét xử tuyên án tử hình. Tuy nhiên, quá trình xét xử, khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ biểu quyết phần tội danh và hình phạt chính. Đối với hình phạt bổ sung và các phần khác của vụ án, nhất là đối với phần quyết định hình phạt chính đối với bị cáo Tếnh lại bỏ trống, không ghi mức án “tử hình” như án sơ thẩm đã tuyên. Hội đồng xét xử có 5 thành viên nhưng lại ghi biểu quyết 3/5. Đây là vi phạm nghiêm trọng khoản 1 Điều 222 Bộ luật TTHS quy định “các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một…”.

- Thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của pháp luật; Phiên toà được hoãn nhưng khi xét xử lại, thành viên Hội đồng xét xử thay đổi nhưng không thông báo cho những người tham dự phiên toà biết. Đây là vi phạm tại Điều 186, khoản 5 Điều 178 Bộ luật TTHS.

Ví dụ, vụ Đinh Xuân Đắc về tội hiếp dâm trẻ em như đã nêu trên, sau khi án sơ thẩm và phúc thẩm có hiệu lực, bị cáo Đắc tiếp tục kêu oan. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các đơn kêu oan và trực tiếp xác minh những tình tiết liên quan đến vụ án, Kiểm sát viên thấy quá trình điều tra, truy tố và xét xử có nhiều vi phạm nghiêm trọng. Chỉ trong giai đoạn xét xử đã có các vi phạm như: quá trình xét xử sơ thẩm, phiên toà đã hoãn 14 lần. Trong đó có phiên tòa Hội đồng xét xử đã nghị án nhưng vẫn hoãn phiên toà không có lý do (phiên toà ngày 23/1/2006) là vi phạm nghiêm trọng về hoãn phiên toà. Theo biên bản phiên toà ghi Hội đồng xét xử chỉ có 4 người là vi phạm nghiêm trọng Điều 185 Bộ luật TTHS về thành phần Hội đồng xét xử (là 3 hoặc 5 chứ không phải 4 thành viên). Đặc biệt là phiên toà lần thứ 15 ngày 29/5/2006, Hội đồng xét xử thay đổi cả chủ tọa, thẩm phán và hội thẩm nhân dân nhưng trước khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án không ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để tống đạt cho bị cáo biết là vi phạm nghiêm trọng khoản 5 Điều 178 và 182 Bộ luật TTHS.[8] 

- Hội đồng xét xử xác định sai tư cách tố tụng của những người tham gia tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của họ. Vi phạm trong trường hợp này chủ yếu là có sự nhầm lẫn giữa bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, giữa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 178, 191 Bộ luật TTHS.

- Bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng, người bào chữa trong trường hợp buộc phải có người bào chữa theo luật định và người bị hại vắng mặt gây trở ngại cho việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo mà phiên toà vẫn tiến hành. Đây là các vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 187, 190, 191 Bộ luật TTHS.        

         - Bản án sơ thẩm sửa ngay bản án của mình. Theo quy định tại khoản 2 Điều 284 Bộ luật TTHS thì chỉ có phiên tòa cấp phúc thẩm mới có quyền sửa bản án hoặc quyết định của cấp sơ thẩm. Nhưng trong thực tiễn đã xảy trường hợp khá khôi hài là Toà án ra bản án sơ thẩm lại sửa ngay bản án sơ thẩm trước đó của mình.

        Ví dụ, vụ án Phạm Quang Công, về tội trộm cắp tài sản ở Quảng Ngãi. Trong thời gian từ 13/8/2004 đến ngày 20/10/2004, Phạm Quang Công người xã Tịnh Đông, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi đã thực hiện 15 vụ trộm cắp tài sản, với tổng trị giá 30 triệu đồng. Trong đó có 6 vụ Công thực hiện cùng với Phạm Quốc Nguyên, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt 8.760.000 đồng. Sau khi bị phát hiện, Nguyên đã bỏ trốn, Công bị bắt. Bản án hình sự sơ thẩm số13/2005/HSST ngày 12/4/2005 của TAND huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi đã xử phạt Công 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản, buộc Công phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại với tổng số tiền là 25.380.800 đồng; Công còn phải nộp 480.000 đồng xung công quỹ vì không xác định được người bị hại và phải chịu 1.293.040 đồng tiền án phí dân sự. Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành.

Ngày 18/8/2006, Phạm Quốc Nguyên ra đầu thú và tự nguyện bồi thường cho 6 người bị hại số tiền là 4.380.000 đồng. Tại bản án sơ thẩm số 17/2007/HSST ngày 4/4/2007, TAND huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi xử phạt Nguyên 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Bản án của Toà án lần này đã cải sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 13/2005/HSST ngày 12/4/2005 nêu trên của chính mình, buộc bị cáo Công bồi thường thiệt hại cho người bị hại là 21.000.800 đồng (được trừ 4.380.000 đồng phần của Nguyên đã bồi thường); buộc Công phải chịu án phí dân sự 1.074.000 đồng, giảm một chút so với bản án trước.

Hai bản án này không hiểu thi hành như thế nào? Đây là vi phạm nghiêm trọng khoản 2 Điều 20 Bộ luật TTHS quy định “đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”.[9] 

  - Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự không đúng với quy định của pháp luật. Ví dụ, xác định sai chủ thể có trách nhiệm bồi thường, việc bồi thường không đúng kỷ phần, không cụ thể rõ ràng… Đây là vi phạm quy định tại Điều 28, 224 Bộ luật TTHS và Bộ luật TTDS.

Thứ tư, có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS 

Sai lầm trong việc áp dụng BLHS là những sai lầm của Cơ quan điều tra, VKS, Toà án trong việc áp dụng các quy định của BLHS để truy cứu trách nhiệm hình sự, làm cho việc xử lý vụ án thiếu khách quan, toàn diện. Trong thực tiễn giải quyết án, sai lầm trong việc áp dụng BLHS cũng rất đa dạng, nhưng chỉ những sai lầm nghiêm trọng mới xem xét việc kháng nghị. Vậy sai lầm nào là sai lầm nghiêm trọng ? Sai lầm nghiêm trọng ở đây được hiểu là những sai lầm làm cho việc xử lý vụ án thiếu khách quan, toàn diện, xâm phạm các lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại và của những người tham gia tố tụng.

 Ví dụ, bị cáo A bị Toà án kết tội trộm cắp theo khoản 1 Điều 138 BLHS và bị phạt 12 tháng tù. Bản án đã có hiệu lực; bị cáo đã thi hành xong bản án. Nhưng sau đó, Viện kiểm sát địa phương phát hiện thấy bản án đã áp dụng sai khoản trong điều luật của BLHS. Lẽ ra bị cáo bị xét xử ở khoản 2 Điều 138 BLHS chứ không phải khoản 1 (nhẹ hơn) như Toà án đã xét xử. Tuy nhiên, với vi phạm này, nếu xét xử lại thì nhiều khả năng mức án cũng không thay đổi đáng kể, vì mặc dù bị cáo bị xét xử ở khoản 2, nhưng bị cáo lại có hai tình tiết giảm nhẹ, cần được áp dụng mức phạt dưới khung, khi đó hình phạt sẽ lại trở về mức như khoản 1. Vì thế mà không cần thiết phải kháng nghị, trong lúc bị cáo đã thi hành xong bản án, đang sống yên ổn, không có ai khiếu nại gì.

Kiểm sát viên khi nhận được ý kiến cho rằng bản án có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS thì không chỉ nghiên cứu kỹ bản án đã áp dụng BLHS và các văn bản hướng dẫn thực hiện như thế nào mà còn phải căn cứ vào tình hình thực tế, như việc bản án đã thi hành xong chưa ? Các khiếu nại cũng như dư luận đối với vụ án như thế nào? Nếu bản án đã được thi hành, bị cáo đã có công ăn việc làm, đang sống lương thiện và không có khiếu nại gì về bản án thì không nhất thiết phải đề xuất kháng nghị.

Việc kết luận có sai lầm và sai lầm đó nghiêm trọng tới mức nào trong việc áp dụng BLHS là thuộc ý chí chủ quan của người quyết định kháng nghị, nhưng đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện và chính xác.

Trong thực tiễn, những sai lầm nghiệm trọng trong việc áp dụng BLHS phải kháng nghị thuộc các trường hợp sau đây:

        - Bản án đã kết án người không có hành vi phạm tội. Người không có hành vi phạm tội có thể là người hoàn toàn không có hành động gì. Ví dụ anh A vào ngủ nhờ nhà người quen là B. Nửa đêm, kẻ gian vào trộm cắp chiếc xe máy của B. Vì nghi A lấy trộm nên B đã báo Công an. Từ đó, anh A bị các quan pháp luật khởi tố, bắt giam và xét xử oan về tội trộm cắp. Người không có hành vi phạm tội cũng có thể là người có hành động nhưng hành động ấy không liên quan đến hậu quả của vụ án. Ví dụ, A dùng tay xô B làm B ngã ra đường và bị thương nhẹ. Mấy ngày sau, B chết. Hội đồng giám định pháp y kết luận nguyên nhân cái chết của B là do nhồi máu cơ tim bẩm sinh (chứ không phải vì vết thương ở đầu do A gây nên), nhưng cơ quan pháp luật vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A về tội vô ý làm chết người.

Đây là các trường hợp bị cáo bị kết tội oan. Một người bị kết tội oan thường gặp là nhân chứng khai ra sự có mặt của bị cáo tại hiện trường, hoặc do bị bức cung, nhục hình mà bị cáo phải nhận tội theo sự gợi ý của người tiến hành tố tụng. Ví dụ, A bị đâm chết, khám nghiệm hiện trường có thu một chiếc đồng hồ của B. Khi gọi hỏi thì B khai đó là đồng hồ của mình nhưng đã bị rơi mất cách đây vài tháng. Cuộc điều tra đã tiến hành theo hướng B là người có hành vi giết chết A. Sau đó bản án đã kết tội B về hành vi giết chết A.

 - Người bị kết án đã nhận tội thay cho người khác. Nhận tội thay là trường hợp một người không có hành vi phạm tội nhưng do nhiều lý do khác nhau đã nhận tội thay cho người khác. Ví dụ, anh A điều khiển xe ôtô chở em ruột của mình là B về quê. Trên đường do A không làm chủ tốc độ, cho xe ôtô lấn sang phần đường bên trái, đâm vào xe môtô đi ngược chiều nên đã gây ra tai nạn làm chết người điều khiển xe môtô. Sau khi tai nạn xẩy ra, A và B bàn nhau, theo đó B nhận mình lái xe gây tai nạn làm chết người thay cho A vì B có bằng lái xe và để A (không có bằng lái xe) ở ngoài lo mọi công việc. Bản án đã kết tội B về tội theo quy định tại khoản 2 Điều 202 BLHS. Trường hợp này, có một trong hai hướng giải quyết. Nếu quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã có thông tin về nhận tội thay giữa B và A nhưng do việc điều tra sơ sài nên chỉ kết luận B có hành vi phạm tội theo Điều 202 BLHS thì xem xét kháng nghị giám đốc để điều tra lại. Nếu quá trình điều tra mà Cơ quan điều tra hoàn toàn không phát hiện được lời khai giả mạo của B và A thì đây là tình tiết mới, vụ án phải được xem xét theo thủ tục tái thẩm theo Điều 291 Bộ luật TTHS.

- Bản án kết tội cho người có hành vi không cấu thành tội phạm. Kết tội cho người có hành vi không cấu thành tội phạm là trường hợp hoặc hành vi của một người không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng bản án đã kết tội cho họ (ví dụ hành vi thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế nhưng chưa gây thiệt hại nghiêm trọng).  

Hành vi không cấu thành tội phạm cũng có thể do tội phạm đã được đặc xá, do có sự chuyển biến của tình hình (như pháp luật có thay đổi). Ví dụ, tháng 6 năm 1998, anh B có hành vi xuất cảnh trái phép. Tháng 6 năm 2001, B bị bắt và bị Toà án kết tội xuất cảnh trái phép. Như vậy, bản án trên đây đã vi phạm nghiêm trọng. Bởi vì, BLHS năm 1999, tại Điều 274 đã có quy định mới về tội xuất cảnh trái phép, theo đó, hành vi này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người đó đã bị xử lý hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Trường hợp của anh B chưa từng bị xử lý hành chính về hành vi xuất cảnh trái phép.

Thực tiễn truy tố, xét xử cho thấy có trường hợp, bản án kết tội cho bị cáo là oan, cần phải được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, nhưng bị cáo đã được đặc xá. Có quan điểm cho rằng, đã được đặc xá thì không xem xét lại nữa. Nhưng theo chúng tôi, trong trường hợp bản án kết tội oan thì dù bị cáo đã được đặc xá cũng cần xem xét kháng nghị giám đốc hoặc tái thẩm để minh oan cho họ. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 278 và khoản 2 Điều 295 Bộ luật TTHS thì việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ. Giữa được đặc xá và minh oan là hoàn toàn khác nhau. Đặc xá là người đã có tội nhưng được khoan hồng, còn được minh oan là người hoàn toàn không có tội, cần trả lại các quyền và lợi ích hợp pháp của họ (mà trước đó bị tước đoạt hoặc hạn chế do việc xét xử gây nên).

Ngoài ra, trong một số tội phạm mà pháp luật quy định thiệt hại tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm nhưng không xác định được hành vi của một người đã gây thiệt hại tài sản như thế nào, số lượng cụ thể bao nhiêu, như tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại trong trường hợp sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế khẩn cấp… Có hai tình huống xảy ra, một là hành vi không gây thiệt hại, hai là hành vi có gây thiệt hại, nhưng do nguyên nhân khách quan hoặc do sự yếu kém chủ quan, cơ quan pháp luật không chứng minh được thiệt hại xảy ra. Trong các trường hợp này, Kiểm sát viên phải nghiên cứu thận trọng để phát hiện chính xác, kịp thời các vi phạm, đề xuất kháng nghị nhằm khắc phục các sai lầm của bản án, chứng minh làm rõ các hậu quả thực tế của tội phạm để xử lý hoặc khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, khi hành vi của họ thực sự không gây thiệt hại cụ thể gì.

- Bản án kết án người phạm nhưng còn nhiều mâu thuẫn. Bản án có nhiều mâu thuẫn là bản án có nhiều tình tiết chưa phù hợp và không thống nhất với nhau. Sự không phù hợp và thống nhất với nhau giữa các tình tiết thường biểu hiện ở các dạng: có mâu thuẫn trong lời khai của các nhân chứng, mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo với nhân chứng, mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo với bị hại, với nhân chứng, với giám định, với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; các tình tiết của vụ án không phù hợp với tội danh mà bản án đã kết tội. Ví dụ, bản án kết tội B phạm tội tham ô nhưng hồ sơ mới thể hiện B chiếm đoạt tài sản, chưa đủ chứng cứ kết luận B lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt. Hoặc trong vụ đồng phạm về tội cố ý gây thương tích, bản án đã dựa vào lời khai nhân chứng và bị hại để kết luận A có hành vi dùng dao chém bị thương B, nhưng giám định vết thương lại kết luận vết thương do vật tày gây ra, bị cáo khai không tham gia đánh, chém nạn nhân. Trong khi vật chứng là dao hoặc gậy thì không được Cơ quan điều tra thu giữ. Trường hợp này cần kháng nghị để huỷ án điều tra, xét xử lại.

- Bản án kết án sai tội danh. Kết án sai tội danh là hành vi phạm tội này lại bị kết án về tội khác. Ví dụ, do có mâu thuẫn từ trước, A đã dùng gậy đón đánh B trên đường đi học về. Khi gặp B, A đã đuổi B đánh. B chạy và nhảy xuống hồ chết đuối. Bản án kết A tội giết người. Trong trường hợp này A có hành vi dùng gậy đánh B với mục đích gây thương tích, còn việc B nhảy xuống hồ là ngoài ý muốn của A. Do vậy, bản án kết A phạm tội giết người là không chính xác.

Thực tế có nhiều bản án có hiệu lực nhưng sau khi kiểm tra lại thấy tội danh mà bản án kết cho bị cáo là không đúng, bị cáo khiếu nại về kết án sai tội danh. Các tội danh thường bị áp dụng sai là: Tội cố ý gây thương tích với tội giết người; phạm tội và phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; tội lừa đảo với lạm dụng tín nhiệm; tội tham ô với tội trộm cắp; tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội đua xe trái phép...Trong các trường hợp này vấn đề xác định tội danh rất phức tạp. Đến giai đoạn giám đốc, việc kết luận tội danh như thế nào và có kháng nghị hay không là vấn đề hết sức thận trọng. Vì vậy, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các dấu hiệu đặc trưng của tội danh mà bản án đã kết án đối với bị cáo và các tình tiết của vụ án để đánh giá chính xác, khách quan vụ án, từ đó có đề xuất có kháng nghị hay không.

        - Tổng hợp bản án sai với quy định của pháp luật. Tổng hợp hình phạt là việc Toà án quyết định hình phạt chung trên cơ sở hình phạt của vụ án vừa xét xử với các hình phạt của các bản án trước đậy mà bị cáo đang phải chấp hành. Vi phạm trong việc tổng hợp hình phạt là việc Toà án quyết định hình phạt chung của bị cáo không phù hợp với với các bản án mà bị cáo đang phải chấp hành. Đây là sai lầm trong việc áp dụng Điều 51 BLHS về tổng hợp bản án.  

        Ví dụ, trường hợp Nguyễn Kim Quy bị VKS tỉnh Quảng Ngãi truy tố hai tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281 BLHS) và tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 BLHS). Bản án HSST ngày 13/9/2007 của TAND tỉnh Quảng Ngãi áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 281, khoản 1 Điều 285 BLHS, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33, 47, 60 BLHS xử phạt Nguyễn Kim Quy 2 năm tù về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và 12 tháng tù về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng. Buộc Nguyễn Kim Quy phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 2 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 17/1/2006 đến ngày 5/5/2007 và 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày mãn hạn tù. Ngày 17/9/2007, Nguyễn Kim Quy kháng cáo xin hưởng án treo. Bản án phúc thẩm ngày 29/11/2007 đã tuyên y án sơ thẩm.

        Toà án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong cùng một lần xét xử, kết án một bị cáo về hai tội, với hai hình phạt khác nhau. Trong đó một tội với hình phạt tù và một tội với hình phạt tù cho hưởng án treo. Mặc dù Toà án hai cấp đều có ghi: buộc bị cáo Nguyễn Kim Quy phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội nhưng trên thực tế, Toà án không tiến hành tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội mà lại buộc bị cáo vừa phải chấp hành hình phạt 2 năm tù của tội lợi dụng chức vụ quyền hạn, vừa phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Sai lầm của hai bản án trên đây là không tổng hợp bản án theo quy định tại Điều 50 BLHS. Vụ án này đã bị Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị Toà hình sự TAND tối cao huỷ hai bản án trên để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.[10] 

- Sai lầm trong việc áp dụng điều, khoản của BLHS. Sai lầm trong việc áp dụng điều, khoản của BLHS đến mức phải kháng nghị là việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không chính xác, quá nhấn mạnh đến tình tiết tăng nặng hoặc quá nhấn mạnh đến tình tiết giảm nhẹ dẫn tới việc kết án cho bị cáo quá nặng hoặc quá nhẹ.

Việc áp dụng điều, khoản BLHS  không chính xác thường xảy ra trong các giai đoạn tố tụng. Trong thực tiễn, nhiều trường hợp đã xét xử phúc thẩm vẫn xảy ra việc áp dụng sai khoản, điều của BLHS và đến lúc xem xét theo trình tự giám đốc mới phát hiện. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào áp dụng sai điều, khoản của BLHS đều kháng nghị. Việc kháng nghị hay không trong các trường hợp này đều được cân nhắc cẩn thận. Ví dụ, A điều khiển ôtô do không làm chủ tốc độ nên đã gây tai nạn làm chết người. Trong trường hợp này lẽ ra bản án phải áp dụng khoản 1 Điều 202 BLHS để xử phạt bị cáo nhưng Toà án đã áp dụng khoản 2 Điều 202 BLHS để kết án A 3 năm tù với tình tiết định khung theo điểm d: không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ. Bị cáo A đề nghị kháng nghị xem xét giám đốc thẩm vì cho rằng bị cáo không phạm tội theo điểm d khoản 2 Điều 202 BLHS như bản án quy kết. Vấn đề đặt ra là trong trường hợp này việc xác định A có phạm tội theo điểm d khoản 2 Điều 202 BLHS hay không thì cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, trong đó có ý kiến cho rằng không cần thiết phải kháng nghị. Qua nghiên cứu vụ án, Kiểm sát viên thấy, việc Toà án áp dụng điểm d khoản 2 Điều 202 BLHS để kết tội bị cáo là chưa chính xác. Vì việc xác định A có chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ khi gây tai nạn thì chưa có căn cứ vững chắc. Muốn xác định bị cáo có chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ hay không cần phải tiếp tục điều tra thu thập đầy đủ  chứng cứ mới kết luận được. Tuy nhiên, trong trường hợp này, dù có điều tra lại và có áp dụng khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 202 BLHS thì mức hình phạt mà Toà án đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội. Do vậy, trong trường hợp này không cần thiết đặt vấn đề phải kháng nghị.

Trên đây là các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm. Việc tổng hợp đánh giá vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm phải căn cứ vào những nội dung trên đây. Sau khi đã phân tích, tổng hợp, đánh giá các tài liệu của vụ án, Kiểm sát viên cần tổng hợp để báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện.

                                    CHƯƠNG III

KỸ NĂNG CHUẨN BỊ VÀ THỰC HÀNH QUYỀN

CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ TẠI PHIÊN TOÀ

GIÁM ĐỐC THẨM

   I. CÔNG TÁC CHUÂN BỊ PHIÊN TOÀ

        Theo quy định của Quy chế 960/QĐ-VKSTC thì trước khi tham gia phiên toà giám đốc, Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện và chuẩn bị các tài liệu như xây dựng bản kháng nghị, bản phát biểu quan điểm của VKS về vụ án. Đây là bước chuẩn bị rất quan trọng về các điều kiện cần thiết để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên toà giám đốc.

        1. Báo cáo Lãnh đạo Viện

Báo cáo Lãnh đạo Viện về vụ án giám đốc thẩm không chỉ là trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc thực hiện quy chế công tác Kiểm sát mà còn đây là biện pháp để đảm bảo Viện trưởng thực hiện trách nhiệm quản lý công tác của mình theo quy định của pháp luật. Khi tiến hành báo cáo Viện trưởng, Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau:

a. Báo cáo nội dung vụ án

Phần báo cáo này cần tóm tắt diễn biến vụ án: thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, diễn biến hành vi phạm tội của các bị can, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của của hành vi phạm tội. Viện kiểm sát cấp sơ thẩm truy tố bị can về tội gì, thời gan truy tố, các căn cứ pháp luật áp dụng. Án sơ thẩm, phúc thẩm đã áp dụng pháp luật để xử phạt bị cáo như thế nào? Hiện nay đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm có nội dung ra sao?.

        Kiểm sát viên chú ý khi nêu tóm tắt vụ án nhằm mục đích khái quát những nội dung chính, những tình tiết chính có ý nghĩa đối với vụ án. Làm thế nào việc nêu tóm tắt nội dung vụ án để người đọc nhận thức được vụ án đã xẩy ra như thế nào và hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo ra sao. Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp Kiểm sát viên nêu tóm tắt vụ án không rõ ràng nên làm cho người đọc không hiểu được nội dung vụ án. Tuy nhiên, Kiểm sát viên không nêu quá cụ thể, dài lê thê, nhưng cũng không được nêu tóm tắt đến nỗi không rõ nội dung vụ án. Vì vậy, khi nêu tóm tắt vụ án, Kiểm sát viên chú ý các trường hợp sau đây:

        Trường hợp đương sự kêu oan: Việc bị cáo hoặc đương sự có đơn kêu oan có nghĩa là phản đối hoàn toàn nội dung bản án (nếu vụ án có nhiều bị cáo thì phản đối các nội dung liên quan đến bị cáo). Trong trường hợp này Kiểm sát viên phải đọc toàn bộ hồ sơ vụ án và phải nêu tóm tắt toàn bộ nội dung vụ án (nếu có nhiều bị cáo thì sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án cần nêu hành vi phạm tội đối với bị cáo đề nghị giám đốc thẩm.

        Ví dụ, vụ án Lê Bá Mai, về tội giết người, hiếp dâm trẻ em ở Bình Phước. Khoảng 6h30’ ngày 12/11/2004 anh Bạch Văn Hừng thuê Lê Bá Mai (là người trông giữ rẫy cho anh Dương Bá Tuân) đi rải phân để trồng mì cách chòi Mai ở khoảng 300m. Trong lúc rải phân, Mai thấy cháu Út (sinh ngày 7/5/1993) và cháu Hằng (sinh năm 1995) đang mót củ đậu (củ sắn) ở gần đó. Sau khi rải phân xong, Mai về chòi lấy xe môtô biển số 53SB-4457 của anh Tuân chạy đến chỗ Út và Hằng. Mai rủ Út vào vườn mít để nói chuyện. Út lên xe Mai và kêu Hằng trông xe đạp. Mai chở Út đi đến vườn mít nhà anh Tuân cách chỗ Út mót củ đậu khoảng 1,5km. Đến nơi, Mai dẫn Út vào vườn mít. Đi vào vườn khoảng 80m thì Út không đi nữa. Lúc này, Mai đòi giao cấu với Út, nhưng Út không đồng ý và dọa sẽ về nói lại cho cha mẹ biết. Thấy Út nói vậy, Mai dùng tay phải chặt mạnh vào gáy của Út làm Út bất tỉnh rồi giao cấu với Út. Giao cấu xong, Mai cởi quần Út, lật úp người Út, cầm ống quần luồn qua cổ Út, thắt hai nút. Sau đó Mai cầm chỗ thắt cổ Út bằng tay trái, cầm chân Út bằng tay phải, mang Út đặt ở gốc mít cách nơi giao cấu 3,5m rồi Mai lấy xe về chòi của mình.

        Đến chiều không thấy Út về, gia đình Út đi tìm không thấy nên ông Điểu Ky (anh họ Út) có đơn trình báo Công an xã An Khương. Ngày 16/11/2004 xác của Út được phát hiện tại vườn mít của ông Dương Văn Tuân. Hôm sau, Lê Bá Mai bị Công an  huyện Long Bình tạm giữ và ngày 19/11/2004 Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Phước khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Lê Bá Mai.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 16/3/2005, TAND tỉnh Bình Phước áp dụng điểm c, g, khoản 1 Điều 93; khoản 4 Điều 112; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 50 BLHS, xử phạt Lê Bá Mai tử hình về tội giết người và 18 năm tù vè tội hiếp dâm trẻ em. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là tử hình. Lê Bá Mai kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại bản án phúc thẩm số 1345/2005/HSPT ngày 4/8/2005, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định y án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với Lê Bá Mai.

Mặc dù đơn kháng cáo của bị cáo là xin giảm hình phạt, song tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Mai lại kêu oan. Sau khi xét xử phúc thẩm bị cáo tiếp tục có đơn khiếu nại, vẫn một mực kêu oan.[11]         

        Đối với các trường hợp bị cáo kêu oan như trên, nội dung vụ án phải nêu tương đối đầy đủ về không gian, thời gian, hành vi, hậu quả và các tình tiết liên quan đến vụ án. Trong đó chú ý nêu lý do kêu oan của đương sự.

        Trường hợp đơn đề nghị giải quyết một nội dung cụ thể của vụ án. Thực tiễn có nhiều trường hợp, bản án, quyết định đã có hiệu lực nhưng bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý với một số nội dung cụ thể của bản án hoặc quyết định của Tòa án, nên đã có đơn đề nghị xem xét theo trình tự giám đốc thẩm. Trong trường hợp này Kiểm sát viên chỉ nêu tóm tắt vụ án về những vấn đề liên quan đến đề nghị của bị cáo, bị hại hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ví dụ, bị cáo, bị hại không đề nghị xem xét về phần hình sự mà chỉ đề nghị xem xét lại về phần bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong trường hợp này Kiểm sát viên nêu tóm tắt về các nội dung của vụ án liên quan đến việc bản án quyết định bồi thường.

        Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Tuân và căn nhà 60A phố Lê Hồng Phong, thành phố Vũng Tàu. Vụ án này có liên quan đến bản án số 1590/HSST ngày 04/8/1999 của TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử Tăng Minh Phụng và đồng bọn phạm tội lừa đảo, cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm… Bản án này nêu rất nhiều nội dung, trong đó có nội dung: kê biên căn nhà 60A phố Lê Hồng Phong và giao cho Ngân hàng ngoại thương, chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh quản lý, khai thác, phát mãi thu hồi nợ. Hiện nay, chủ căn nhà 60A khiếu nại việc bản án sơ thẩm tuyên như trên là không chính xác cần xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Như vậy, khi xem xét vụ án này, Kiểm sát viên không nêu tóm tắt toàn bộ vụ án số 1590/HSST mà chỉ nêu tóm tắt về căn nhà 60A và lý do tuyên kê biên, giao cho Ngân hàng ngoại thương quản lý. Đây là nội dung mà đương sự đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đồng thời đây cũng là nội dung xem xét có nên kháng nghị giám đốc thẩm hay không.

b. Báo cáo quá trình giải quyết vụ án

 Để có căn cứ kháng nghị theo trình tự giám đốc hay không, cần xem xét các bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm hoặc vi phạm nghiêm trọng như thế nào. Vì vậy, phần này Kiểm sát viên chú ý báo cáo quá trình truy tố và xét xử bị cáo đã diễn ra như thế nào, trong đó Kiểm sát viên chú ý báo cáo các nội dung sau đây:

- Nội dung cáo trạng truy tố bị can.

 Kiểm sát viên báo cáo rõ thời gian ban hành cáo trạng, VKS nào truy tố, tội danh, điều khoản của BLHS mà VKS áp dụng để truy tố. Nếu quá trình truy tố có sự thay đổi cáo trạng thì phải báo cáo đầy đủ nội dung thay đổi như thế nào, lý do thay đổi. Ví dụ, VKS truy tố nhưng bị Toà án trả lại để điều tra bổ sung vì thiếu chứng cứ hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì KSV báo cáo kết qủa điều tra bổ sung như thế nào, quan điểm của cáo trạng về yêu cầu điều tra bổ sung ra sao. Về việc điều tra bổ sung có thể xảy ra hai trường hợp:

 Một là, Viện kiểm sát đã điều tra bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của Toà án. Trong trường hợp này nếu các bản án đã xét xử và không có vi phạm thì đó là cơ sở để trả lời cho dương sự.

 Hai là, nếu Viện kiểm sát cho rằng việc Toà án trả hồ sơ là không thoả đáng và tiếp tục truy tố thì phải xem xét thận trọng. Nếu việc tiếp tục truy tố là đúng đắn và bản án đã tuyên không có vi phạm thì đây cũng là cơ sở để trả lời đương sự. Nhưng nếu việc tuy tố của Viện kiểm sát không đầy đủ và bản án đã dựa vào đó để kết án thì phải xem xét, nếu có vi phạm nghiêm trọng hoặc có sai lầm nghiêm trọng thì phải để xuất kháng nghị.

- Nội dung các bản án kết tội cho bị cáo đã có hiệu lực mà đương sự cho rằng cần kháng nghị.

Về nội dung này Kiểm sát viên cần lưu ý, chỉ báo cáo các bản án đã có hiệu lực mà đương sự cho là có sai lầm. Thực tiễn cho thấy, một bị cáo có thể bị xét xử với nhiều bản án, nhưng Kiểm sát viên chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu và báo cáo Lãnh đạo Viện các bản án mà bị cáo hoặc đương sự khác cho rằng bản án đó có sai lầm cần được kháng nghị. Ví dụ, bị cáo A bị xét xử lần thứ nhất tại bản án số 01/HSST và bị phạt 2 năm tù về tội trộm cắp. Sau khi mãn hạn tù, bị cáo A lại tiếp tục phạm tội cố ý gây thương tích và bị Toà án tuyên phạt phạt 3 năm tù tại bản án số 02/HSST. Bản án số 02/HSST có hiệu lực. Bị cáo A khiếu nại cho rằng Toà án kết tội bị cáo về hành vi cố ý gây thương tích là vi phạm. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên chỉ nghiên cứu và báo cáo vụ án với Lãnh đạo Viện về bản án số 02/HSST.

 Kiểm sát viên báo cáo nội dung bản án nên tập trung báo cáo rõ các vấn đề: Thời gian ban hành bản án, nhận định và quyết định của bản án có phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án và các quy định của pháp luật không? Giữa nhận định và quyết định của bản án có phù hợp hay mâu thuẫn ...Ví dụ, bản án nhận định bị cáo có hành vi dùng dao chém vào đầu nạn nhân nhưng phần quyết định lại nêu bị cáo có hành vi cố ý gây thương tích. Đây là sự mâu thuẫn giữa nhận định và quyết định của bản án.

- Báo cáo nội dung đương sự đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm.

          Kiểm sát viên cần báo cáo rõ đương sự đề nghị những nội dung gì (đề nghị giảm nhẹ hay kêu oan, đề nghị giải quyết về hình sự hay dân sự). Lập luận của các đề nghị ấy ra sao? Ví dụ bị cáo A nêu việc vay tiền của B là có hợp đồng, quá trình kinh doanh do thua lỗ nên chưa có tiền trả và đã có văn bản khất nợ với bên B. A không có hành vi chạy trốn mà bản án quy kết cho A tội lừa đảo là không thoả đáng. Đây là lập luận của đương sự có nội dung rất quan trọng mà Kiểm sát viên phải báo cáo đầy đủ với Lãnh đạo. Thực tế, nhiều trường hợp Kiểm sát viên báo cáo quá ngắn gọn về nội dung đề nghị giám đốc thẩm. Nên khi trả lời cho đương sự  không đầy đủ, không đúng nội dung đề nghị của đương sự, làm cho đương sự không không đồng ý và khiếu nại gay gắt.

 Báo cáo một cách rõ ràng và đầy đủ nội dung bản án và nội dung đề nghị giám đốc thẩm là những thông tin quan trọng để Lãnh đạo xem xét quyết định. Vì vậy yêu cầu Kiểm sát viên cần chuẩn bị kỹ và báo cáo đầy đủ nội dung vụ án và nội dung đề nghị giám đốc thẩm.

c. Kỹ năng báo cáo kết quả điều tra xác minh

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, những tài liệu, tình tiết nào chưa rõ thì phải trực tiếp xác minh để kết luận. Tài liệu điều tra xác minh về vụ án phải được báo cáo cụ thể, rõ ràng về các tình tiết mới thu thập được. Trên cơ sở các tình tiết đã được thu thập qua điều tra xác minh, đối chiếu với các tình tiết của vụ án, Kiểm sát viên cần có đánh giá tính có căn cứ và hợp pháp của hồ sơ vụ án. Cũng cần lưu ý, các tình tiết mà Kiểm sát viên thu thập được như lấy lời khai bị cáo, bị hại nhân chứng, những người tham gia TTHS, xem xét vật chứng ... nhằm khẳng định tính hợp pháp và tính có căn cứ của vụ án chứ không phải thay thế các tài liệu của hồ sơ vụ án.

d. Kỹ năng nhận xét, đề xuất giải quyết vụ án

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án và kết quả xác minh Kiểm sát viên cần rút ra những đánh giá, nhận xét về vụ án để báo cáo Lãnh đạo Viện. Đây là hoạt động tư duy độc lập của Kiểm sát viên về vụ án nhằm khẳng định lại một cách khách quan, toàn diện về vụ án, về việc giải quyết vụ án của các cấp đã hợp tình, hợp lý chưa ? về các đề nghị của đương sự có thoả đáng không ? Các nội dung này rất quan trọng trong công tác báo cáo án của Kiểm sát viên. Phần nhận xét Kiểm sát viên cần giải quyết hai nội dung: nhận xét việc giải quyết vụ án của các cơ quan tố tụng và đề xuất biện pháp xử lý.

đ. Về nhận xét việc giải quyết vụ án

Đối với vụ án mà bị cáo kêu oan thì Kiểm sát viên phải hệ thống các chứng cứ buộc tội và gỡ tội như thế nào.

- Nhận xét về các chứng cứ buộc tội. Chứng cứ buộc tội là các tài liệu, đồ vật có thực được thu thập một cách hợp pháp mà các cơ quan và người tiến hành tố tụng làm căn cứ để xác định tội phạm và người phạm tội.

 Do vậy, khi báo cáo các chứng cứ buộc tội, Kiểm sát viên cần báo cáo quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng đã căn cứ vào các tài liệu, đồ vật nào đề buộc tội bị cáo. Các tài liệu đồ vật đó theo quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ luật TTHS, bao gồm: Vật chứng, lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu đồ vật khác. Những tình tiết này phải được hệ thống đầy đủ để đối chiếu với các chứng cứ khác khi xem xét, kết luận.

 Ví dụ, bị cáo A khai nhận dùng dao đâm vào ngực B. Lời khai này làm chứng cứ buộc tội vì nó phù hợp với nhân chứng C trực tiếp nhìn thấy A dùng dao đâm B. Biên bản khám nghiệm tử thi xác định vết thương đâm thủng tim nạn nhân với vết sắc, gọn. Khám nghiệm hiện trường thu được con dao và bị cáo thừa nhận đó là con dao y đã dùng đâm nạn nhân B.

Như vậy, Kiểm sát viên chú ý hệ thống các tài liệu, đồ vật đã được bản án làm căn cứ buộc tội bị cáo và tiến hành so sánh, đánh giá xem xét có tài liệu, đồ vật nào không hội đủ một trong ba thuộc tính của chứng cứ: khách quan, liên quan và hợp pháp thì phải được loại trừ khỏi hệ thống các chứng cứ. Ví dụ, bản án đã căn cứ vào lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai người bị hại, lời khai nhận của bị cáo để quy kết bị cáo phạm tội có ý gây thương tích, nhưng qua nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên phát hiện trong các chứng đó có lời khai của người làm chứng không khách quan vì người này chỉ được nghe kể lại, lời khai của bị can phủ nhận lời khai trước đây, vì cho rằng bị can ký vào biên bản không được Điều tra viên đọc lại biên bản hỏi cung... Những tình tiết này Kiểm sát viên tổng hợp để báo cáo Lãnh đạo Viện.

- Nhận xét chứng cứ gỡ tội. Chứng cứ gỡ tội là các tình tiết chứng minh sự ngoại phạm của bị cáo và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Như vậy, chứng cứ gỡ tội không chỉ bao gồm các chứng cứ loại trừ trách nhiệm hình sự mà còn là các chứng cứ giúp cho bị cáo có hội được xem xét làm giảm nhẹ hoặc khoan hồng cho bị cáo. Đây là phần nội dung quan trọng đòi hỏi Kiểm sát viên chú ý tổng hợp để báo cáo đầy đủ với Lãnh đạo Viện.

Các chứng cứ gỡ tội bao gồm tài liệu, đồ vật có ý nghĩa loại trừ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Những lài liệu, đồ vật đó thường xẩy ra trong trường hợp chưa chứng minh được thiệt hại do hành vi của bị cáo phạm các loại tội chiếm đoạt tài sản; biên bản hiện trường vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ghi nhận bị cáo đi đúng phần đường của mình; lời khai không nhận tội của bị cáo có hành vi cố ý gây thương tích phù hợp với lời khai của nhân chứng, người bị hại ...

Những tài liệu, đồ vật mà bản án dùng nó để quy kết tội danh và hình phạt cho bị cáo nhưng qua nghiên cứu Kiểm sát viên phát hiện giữa các chứng cứ ấy có nhiều mâu thuẫn nhưng chưa được xác minh. Ví dụ, mâu thuẫn trong các lời khai của bị cáo với lời khai của nhân chứng, bị hại, với các tình tiết khác của vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi, vật chứng thu được. Ví dụ bị cáo khai chém nạn nhân bằng dao nhưng giám định vết thương kết luận do vật tày gây nên ...

Một nội dung quan trọng là Kiểm sát viên phải nghiên cứ kỹ các chứng cứ mà bản án dùng nó để quy kết hành vi phạm tội cho bị cáo, xem các tài liệu đồ vật ấy có tài liệu, đồ vật nào được thu thập một cách không hợp pháp. Những tài liệu, đồ vật ấy phải được hệ thống để báo cáo đầy đủ với Lãnh đạo Viện xem xét quyết định. Trong thực tiễn truy tố xét xử, có nhiều trường hợp, các cơ quan tố tụng ít chú ý thu thập các chứng cứ gỡ tội nên tại phiên toà, bị cáo, người bào chữa đã đưa ra nhiều tài liệu chứng minh bị cáo vô tội. Vì vậy, trong giai đoạn giám đốc thẩm, đòi hỏi vụ án được nghiên cứu một cách tỷ mỷ, thận trọng để báo cáo đầy đủ với Lãnh đạo xem xét.

Kiểm sát viên cũng chú ý tổng hợp các tài liệu, đồ vật có ý nghĩa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: bị cáo phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn, được tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong học tập, sản xuất ... Nếu các tình tiết này chưa được bản án sơ thẩm, phúc thẩm áp dụng để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì cũng cần được nghiên cứu, tổng hợp để báo cáo Lãnh đạo Viện.  

Như vậy, việc tổng hợp để báo cáo Lãnh đạo Viện về các chứng cứ buộc tội và gỡ tội là hết sức quan trọng. Đây là việc làm nhằm góp phần giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, là cơ sở để xem xét có đề xuất kháng nghị hay không. Việc tổng hợp đầy đủ các chứng cứ buộc tội và gỡ tội sẽ góp phần quan trọng trong việc đánh giá, nhận xét về vụ án, góp phần vào việc đề xuất giải quyết vụ án chính xác toàn diện.  

- Nhận xét việc áp dụng pháp luật hình sự. Kiểm sát viên cần có đánh giá, nhận xét về việc các bản án đã áp dụng các điều, khoản của BLHS để tuyên phạt bị cáo như vậy có đúng, sai như thế nào (về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tổng hợp hình phạt ...).

Trên cơ sở hệ thống các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và việc áp dụng pháp luật hình sự, Kiểm sát viên cần nhận xét bản án kết tội bị cáo như vậy đã chính xác chưa? Có sai lầm gì trong việc áp dụng BLHS không?

        Các khiếu nại của đương sự về những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự thì Kiểm sát viên cũng cần khẳng định về ính có căn cứ và tính có hợp pháp như thế nào. Căn cứ vào nhận xét về việc áp dụng BLHS của bản án và những ý kiến đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm để rút ra kết luận: Bản án kết tội cho bị cáo như vậy có sai lầm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật như thế nào? Có phù hợp với quy định của BLHS không?

- Nhận xét việc áp dụng pháp luật dân sự: Đối với các trường hợp đề nghị xem xét lại về trách nhiệm dân sự thì Kiểm sát viện cần chú ý các bản án đã áp dụng các quy định của pháp luật dân sự để quyết định việc bồi thường như vậy đã phù hợp chưa. Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định rất chặt chẽ. Trong đó đáng chú ý các quy định về nguyên tắc bồi thường, thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, trách nhiệm bồi thường ... Đây là các nội dung mà trong thực tiễn truy tố, xét xử nhiều nơi chưa thực sự quan tâm. Do vậy, sau khi bản án có hiệu lực, đương sự có khiếu nại và qua nghiên cứu thấy có nhiều vấn đề cần phải được xem xét lại vì có vi phạm nghiêm trọng về quyết định việc bồi thường. Do đó, Kiểm sát viên phải nắm chắc các hướng dẫn này để nghiên cứu đề báo cáo đề xuất xử lý vụ án chính xác và toàn diện.

- Nhận xét việc áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS: Trước hết Kiểm sát viên cần báo cáo rõ quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã chấp hành các quy định của Bộ luật TTHS chưa. Trong đó chú ý báo cáo rõ những vi phạm cần rút kinh nghiệm, những vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng. Để trên cơ sở ấy cân nhắc có kháng nghị hay không

e. Đề xuất xử lý vụ án

- Đề xuất trả lời đơn khiếu nại:  

Theo Quy chế 65/VKSTC-V3 ngày 21/5/2004 về tổ chức và hoạt động của Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thì muốn trả lời đúng nội dung người khiếu nại, trước hết Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ nội dung đề nghị giám đốc thẩm để xem họ nêu vấn đề gì, các lập luận để bảo vệ quan điểm của họ ra sao. Trên cơ sở ấy, Kiểm sát viện chuẩn bị các nội dung và lập luận để trả lời người đề nghị. Kiểm sát viên không được trả lời một cách đơn giản là: án xử đúng, không có căn cứ kháng nghị. Nếu Kiểm sát viên nghiên cứu đúng nội dung đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm và trả lời đúng các nội dung ấy sẽ giúp cho người có thông báo hiểu đựơc vụ án xét xử như vậy là chính xác. Hay nói cách khác, việc trả lời như vậy sẽ làm cho người được trả lời tâm phục khẩu phục.

         Do vậy, Kiểm sát viên lưu ý khi báo cáo đề xuất trả lời người khiếu nại phải bám sát các nội dung đề nghị giám đốc thẩm để trả lời đúng trọng tâm. Nội dung khiếu nại như thế nào thì phải trả lời theo từng nội dung như vậy.

Ví dụ, vụ án Nguyễn Thị Liên về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng ở Quảng Ninh. Nguyễn Thị Liên là kế toán của Ban định canh định cư huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Tháng 5/1993, Liên cùng đại diện UBND hai xã Tân Dân và Kỳ Thượng tiến hành khảo sát lập dự toán kinh phí sửa chữa hai con đường theo quyết định của UBND tỉnh là nâng cấp tuyến đường xã Tân Dân và mở mới tuyến đường xã Hồng Kỳ. Việc khảo sát tiến hành bằng mắt thường, không đo đạc cụ thể, sau đó Liên nhờ cán bộ kỹ thuật của huyện vẽ sơ đồ thiết kế, Liên ký vào phần người can vẽ. Hai bản thiết kế được ông Phó Chủ tịch huyện Hoành Bồ vầ Phó Giám đốc Sở Nông lâm nghiệp ký duyệt. Nguyễn Thị Liên lập thành hai bản dự toán kinh phí: Tuyến đường xã Kỳ Thượng 105.050.467 đồng, tuyến đường xã Tân Dân 126.893.939 đồng. Quá trình thực hiện, theo đề xuất của thị Liên, dự án được khoán gọn cho Nguyễn Văn Vinh (em trai thị Liên) thi công. Nguyễn Thị Liên được cử kiểm tra tiến độ thi công. Liên đã cùng một số người tiến hành nghiệm thu công trình.

Quá trình điều tra phát hiện Vinh đã được hưởng lợi trong hai hợp đồng là 77.275.000 đồng. Tại bản án hình sự số 37/HSST ngày 15.4.1995, TAND tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng khoản 3 Điều 134 BLHS (1985) phạt Vinh 7 năm tù, Liên 6 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN. Sau đó Liên và Vinh kháng cáo kêu oan. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 884/HSPT ngày 26/7/1995, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội áp dụng khoản 2 Điều 139 BLHS phạt bị cáo Liên 3 năm tù về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản XHCN, đồng thời tuyên bố bị cáo Vinh không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN.

Sau đó bà Liên tiếp tục gửi nhiều đơn đến các cơ quan Đảng và Nhà nước khiếu nại, kêu oan. VKSND tối cao và TAND tối cao đã nhiều lần trả lời bà Liên là án xử đúng pháp luật, không có căn cứ kháng nghị. Tuy nhiên bà Liên không nhất trí vẫn tiếp tục khiếu nại. Trong văn bản khiếu nại kêu oan bà Liên đã đưa ra 4 vấn đề để phản bác bản án như: việc đi khảo sát, thiết kế, lập dự toán là đúng quy định của pháp luật; Quyết định 217/CP của Chính phủ là một tình tiết mới chứng minh bà vô tội; bản án phúc thẩm tính số tiền bị thất thoát là không có căn cứ; vật chứng của vụ án bị giả mạo ...

 Lãnh đạo VKSND tối cao đã chỉ đạo Vụ 3 rút toàn bộ hồ sơ vụ án để nghiên cứu, trực tiếp xác minh những nội dung mà bà Liên đưa ra để xem xét, đánh giá. Trên cơ sở các tài liệu của hồ sơ vụ án và kết quả xác minh, Kiểm sát viên đã đối chiếu với các chứng cứ của vụ án, các căn cứ pháp luật và báo cáo đề xuất với Lãnh đạo Viện. Sau đó Lãnh đạo VKSND tối cao đã trực tiếp gặp gỡ và đối thoại về từng vấn đề mà bà Liên nêu ra. Cuộc đối thoại diễn ra dân chủ, thẳng thắn về các vấn đề mà bà Liên quan tâm. Trong đó, Lãnh đạo Viện đã phân tích những nhận thức sai lầm của bà về các quy định của pháp luật và khẳng định những kết luận của bản án là khách quan, hợp tình, hợp lý. Nội dung trả lời như sau:

- Về nội dung bà Liên cho rằng việc đi khảo sát, thiết kế, lập dự toán hai con đường là làm đúng tuyến, đúng hướng, đúng Quyết định 817 của UBND tỉnh và Thông báo số 26 ngày 17/7/1991 của Liên Bộ Tài chính, Ngân hàng, Bộ lâm nghiệp và Uỷ ban kế hoạch nhà nước về hướng dẫn thi hành chính sách đầu tư xây dựng vùng kinh tế lâm nghiệp.

VKSND tối cao trả lời, tại phần 3 mục A Thông tư số 26 ngày 17/7/1991 quy định, các đơn vị được đầu tư phải có quyết định thành lập của cấp có thẩm qquyền, có chủ đầu tư theo quy định của Nhà nước. Chủ đầu tư phải có trách nhiệm sử dụng đất đai, tài nguyên, tiền vốn ... theo đúng quy hoạch, kế hoạch, thiết kế, đúng chính sách, chế độ. Riêng các cơ sở định canh, định cư của đồng bào dân tộc ít người và vùng xa xôi, hẻo lánh, đường xã đi lại khó khăn, kinh tế chưa phát triển, trình độ quản lý còn thấp, thủ tục đầu tư tuy có châm chước nhưng cũng phải có các điều kiện sau đây:

+ Có kế hoạch xây dựng cơ bản hàng năm được Nhà nước duyệt.

+ Có dự toán công trình xây dựng cơ bản, dự toán chi sự nghiệp của cơ sở nhận vốn và có thông báo duyệt vốn của cơ quan chủ quản;

+ Có tổ chức bộ máy quản lý vốn.

Theo các tài liệu của hồ sơ vụ án và qua xác minh, VKSND tối cao thấy:

Ngày 29/4/1993, UBND tỉnh Quảng Ninh có Quyết định 817 do Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Hồng Cường ký, giao chỉ tiêu kế hoạch nâng cấp đường liên thôn xã Tân Dân 12km, vốn 85 triệu đồng; đường dân sinh liên thôn mở mới xã Kỳ Thượng 8km, vốn 80 triệu đồng. Trong quyết định giao nêu rõ Chủ tịch UBND huyện, các chủ dự án chịu trách nhiệm thi hành.

Đến ngày 3/8/1993, UBND tỉnh mới có Quyết định số 1500/QĐ-UB cử ông Đặng Đức Thành, Phó Chủ tịch UBND huyện làm chủ dự án, Trưởng ban quản lý dự án của chương trình 327 huyện Hoành Bồ. Nhưng trước đó 4 tháng (4/1993) bà Liên đã đi đến 2 xã Tân Dân và Kỳ Thượng khảo sát hai con đường. Bà Liên khai là làm theo sự phân công bằng miệng của anh Út (Trưởng ban định canh định cư) và ông Đặng Đức Thành, Phó Chủ tịch huyện (không có quyết định cụ thể). Sau này anh Út khai không phân công  bà Liên  mà công trình đương Kỳ Thượng  anh Út đã phân công anh Nhật. Còn việc bà Liên đi khảo sát, do ông Thành Phó Chủ tịch chỉ đạo thế nào thì anh Út không rõ. Trong lúc đó, anh Thành khai không chỉ đạo mà do ban ĐCĐC chỉ đạo. Còn ai chỉ đạo bà Liên thì anh Thành không rõ. Việc chị Liên là kế toán của Ban định canh định cư đi khảo sát 2 tuyến đường (tháng 4/1993) trước khi UBND tỉnh có quyết định cử chủ dự án (3/8/1993), nghĩa là trước khi thành lập Ban quản lý dự án. Đây là việc làm vi phạm Thông tư số 26 ngày 17/7/1991.

Bà Liên là cán bộ kế toán Ban định canh định cư không có nhiệm vụ và nghiệp vụ xây dựng cơ bản mà đi khảo sát, thiết kế, lập dự toán hai công trìn là không đúng chức trách, nhiệm vụ của mình. Trong khảo sát thiết kế cũng không đo đạc cụ thể về chiều dài tuyến đường, từng phần việc cụ thể mà chỉ căn cứ vào chiều dài tuyến đường trên giấy tờ (Quyết định 817), không đo đạc tính toán cụ thể từng phần việc phải sửa chữa, nâng cấp, làm mới … để lập dự toán cho chính xác (sau này đo đạc lại thì đường Tân Dân dài 12km, thực tế chỉ dài 9,520km, đường Kỳ Thượng dài 8.000m, thực tế là 4.520m. Sau đó chị Liên về nhờ anh Minh (cán bộ Ban quản lý công trình huyện Hoành Bồ) và anh Trung (cán bộ Phòng công nghiệp huyện Hoành Bồ) vẽ hộ bản thiết kế dựa trên số liệu bà Liên cung cấp. Cả hai anh này vẽ hộ nên không ký tên ở bản vẽ thiết kế mà chị Liên ký tên trong bản thiết kế (anh Trung và anh Minh không được cơ quan có thẩm quyền phân công mà chỉ được bà Liên nhờ với tư cách cá nhân).

Bà Liên cũng là người trực tiếp lập lại dự toán hai con đường, trình ông Đặng Đức Thành, Phó Chủ tịch huyện Hoành Bồ ký xin Sở Nông lâm duyệt dự toán (tờ trình đường Tân Dân ký ngày 2/5/1993 do ông Đặng Đức Thành ký chức danh Phó Chủ tịch huyện; tờ trình đường Kỳ Thượng ký ngày 2/5/1993 cũng do ông Đặng Đức Thành ký với tư cách là Ban quản lý dự án xin duyệt vốn của hai con đường trên). Đến ngày 10/5/1993, anh Đoàn Dự ký duyệt dự toán thiết kế công trình đường Tân Dân và ngày 10/9/1993, ký duyệt dự toán thiết kê công trình đường Kỳ Thượng.

Theo bà Liên khai nhận và lời khai của các cán bộ 2 xã Tân Dân và Kỳ Thượng thì bà Liên có đi cùng với cán bộ xã để khảo sát nhưng không đo đạc cụ thể chiều dài tuyến đường và cụ thể phần đường phẩi sửa chữa, nâng cấp đối với đường Tân Dân; làm mới đối với đường Kỳ Thượng mà chỉ đo đại diện phần tính đá, kè, tính đất đắp đường và phát cây. Điều lệ về quản lý xây dựng cơ bản được ban hành tại Nghị định 232 ngày 6/6/1981, được sửa đổi tại Nghị định 385 ngày 7/11/1990 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) thì “tất cả các công trình xây dựng (không phân biệt nguồn vốn và thành phần kinh tế) trước khi khởi công xây lắp đều phải có thiết kế do các tổ chức thiết kế có tư cách pháp nhân đúng ngành nghề theo đăng ký được cấp phép thực hiện. Thiết kế phải tuân theo quy trình, quy phạm, định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn Nhà nước và đã được thẩm định, xét duyệt theo đúng quy định của Nhà nước. Công tác thiết kế chỉ được tién hành khi có tài liệu khảo sát xây dựng”.

Như vậy, bà Liên nhờ anh Trung, anh Minh vẽ thiết kế dựa trên số liệu của chị Liên là sai quy định của pháp luật. Vì anh Trung và anh Minh không được phân công và không có tư cách pháp nhân trong lĩnh vực khảo sát thiết kế. Số liệu khảo sát của bà Liên không tuân theo các quy định, quy phạm và định mức kinh tế kỹ thuật. Đây là việc làm vi phạm Nghị định 385 ngày 7/11/1990.

Các nội dung sau cũng trả lời với cách thức cụ thể, rõ ràng như vậy, vì thế mà bà Liên không còn khiếu nại nữa.

        Vấn đề cần rút ra từ vụ án này là, khi trả lời đương sự, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ nội dung thông báo có những vấn đề gì ? Từng vấn đề ấy thể hiện trong hồ sơ vụ án ra sao ? Kết quả xác minh của Kiểm sát viên như thế nào ? Qua đối thoại với đương sự có vấn đề gì nổi lên không ? Trên cơ sở ấy cần có trả lời hết sức cụ thể, không được trả lời chung chung.

Thực tiễn cũng có trường hợp vừa có đơn yêu cầu của đương sự, vừa có những phản ánh của dư luận, báo chí. Đối với những trường hợp này Kiểm sát viên vừa phải nghiên cứu kỹ các phản ánh của đương sự và báo chí vừa phải thẩm tra, xác minh thận trọng để trả lời kịp thời. Sau khi có ý kiến của cơ quan Lãnh đạo Viện, Kiểm sát viên tham mưu trả lời đương sự và báo chí. Kiểm sát viên chú ý bảo đảm các văn bản báo cáo và trả lời phải thống nhất với nhau, không được để mâu thuẫn.

Ví dụ, vụ án CIMEXCOL Minh Hải. Vụ án này có 21 bị cáo, do Dương Văn Ba cầm đầu. Ngày 22/4/1989, TAND tối cao xét xử sơ chung thẩm về tội tham ô tài sản XHCN, đưa hối lộ, nhận hối lộ và thiếu trách nhiệm … Sau khi án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Lê Văn Bình, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Minh Hải bị xét xử 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 1 năm về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, một số tờ báo và đương sự có nhiều phản ánh, đề nghị minh oan cho ông Bình. Đồng thời, các cơ quan Đảng và Nhà nước có yêu cầu Viện trương VKSND tối cao báo cáo, giải trình việc này.

VKSND tối cao đã rút hồ sơ vụ án để nghiên cứu đồng thời có công văn yêu cầu các tờ báo có liên quan và đương sự cung cấp những tài liệu có liên quan đến nội dung vụ án mà tờ báo và đương sự đã phản ánh. Sau đó, Viện trưởng VKSND tối cao đã phân công Kiểm sát viên trực tiếp gặp, trao đổi với Lãnh đạo một số tờ báo đã đăng những tình tiết về sự ngoại phạm của ông Bình, trực tiếp gặp một số người có đơn yêu cầu minh oan cho ông Bình. Đồng thời Viện trưởng VKSND tối cao đã cử Kiểm sát viên trực tiếp xác minh, làm rõ những tình tiết mà báo chí và đương sự đã đặt ra. Sau khi nghiên cứu, xác minh VKSND tối cao đã chủ trì họp cùng các ngành có liên quan để thảo luận kết quả xác minh và đề xuất trả lời đương sự. Kết quả xác minh như sau:

1. Trách nhiệm quản lý của ông Lê Văn Bình đối với Công ty CIMEXCOL: Từ tháng 9.1983 đến ngày khởi tố 5.11.1988, ông Bình giữ chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực, sau đó là Chủ tịch UBND tỉnh Minh Hải. Tại thời điểm này ông Bình được phân công trực tiếp chỉ đạo Công ty CIMEXCOL. Trong thời gian Công ty CIMEXCOL xẩy ra tham nhũng lớn, với tư cách là người theo dõi, chỉ đạo, ông Bình cũng phải chịu trách nhiệm. Do vậy, bản án quy kết ông Bình về thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là có căn cứ.

2. Trách nhiệm của ông Bình trong việc không thực hiện chính sách cải tạo đoàn xe tư nhân của Dương Văn Ba. Theo Quyết định số 121/CP ngày 24/4/1997 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) và các văn bản hướng dẫn khác thì đoàn xe của Dương Văn Ba (18 chiếc) phải thực hiện cải tạo. Ngày 9/6/1983, Dương Văn Ba có văn bản đề nghị UBND tỉnh cho tiến hành cải tạo đội xe nhưng ông Bình đã không chỉ đạo thực hiện. Lợi dụng sơ hở này Dương Văn Ba và đồng bọn đã bán 7 chiếc xe, gây thiệt hại cho Nhà nước 16.350.000đồng (tương đương 106,15 lượng vàng). Trong đó Dương Văn Ba đã chiếm đoạt, sử dụng cá nhân số tiền tương đương 80 lượng vàng.

Vấn đề này báo chí và các đương sự cho rằng thời kỳ này ông Bình đang giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo, sau đó làm Bí thư Huyện ủy Gia Rai và sau đó đi học ở Liên Xô. Quá trình nghiên cứu hồ sơ cho thấy, từ ngày Dương Văn Ba bán chiếc xe đầu tiên vào ngày 28/12/1985 đến ngày bán chiếc xe cuối cùng vào ngày 25/4/1987 và bị phát hiện, đây là thời điểm mà ông Bình đang giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực rồi sau đó là Chủ tịch UBND tỉnh. Như vậy, Hội đồng xét xử phán quyết hành vi của ông Lê Văn Bình trong việc thiếu trách nhiệm để Dương Văn Ba và đồng bọn bán 7 chiếc xe ôtô để tham ô là đúng.

3. Trách nhiệm của ông Lê Văn Bình đối với hoạt động xuất khẩu trái phép của Công ty CIMEXCOL. Ông Lê Văn Bình đã ký xác nhận vào các văn bản do Dương Văn Ba làm sẵn để xin phép xuất hộ cà phê cho công ty BPKP Lào. Sau đó Dương Văn Bà đã đến cửa khẩu Cầu Treo, Hà Tĩnh xin xác nhận khống của Hải quan. Tiếp đó, Dương Văn Ba đã cho người đi mua vét cà phê trong nước làm thủ tục xuất khẩu và đã trốn thuế 323.751USD. Về vấn đề này đương sự cho rằng việc ký giấy bảo lĩnh lô hàng cà phê này là do Lê Khắc Bình, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh. Kiểm tra chữ ký thì đúng là ông Lê Văn Bình ký và chính ông Lê Văn Bình cũng xác nhận tại Cơ quan điều tra thừa nhận đó là chữ ký của mình.

4. Trách nhiệm của ông Lê Văn Bình trong việc bảo lãnh cho CIMEXCOL nhập khẩu hàng hóa không đúng quy định của Nhà nước. Thời kỳ làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Minh Hải, ông Lê Văn Bình đã ký xác nhận vào nhiều công văn của Công ty CIMEXCOL nhập khẩu nhiều hàng hóa cao cấp từ nước ngoài về như xe honđa. Sau đó Dương Văn Ba đã dùng trên 1700 xe để biếu xén, hối lộ cho nhiều quan chức gây thiệt hại cho công quỹ rất lớn. Theo kết luận giám định thì việc bán xe Honđa giá rẻ đã gây thiệt hại 1062 lượng vàng. Vấn đề này đương sự và báo chí cho rằng chủ trương bán xe là Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã cho ý kiến và lúc đó ông Bình đang ở Liên Xô. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho chủ trương bán xe với giá rẻ. Chính Dương Văn Ba đã xác nhận việc bán xe honđa giá rẻ là nhằm mục đích hối lộ, chia chác nội bộ. Mặt khác, qua kiểm tra hồ sơ thấy: ông Bình cho chủ trương nhập xe diễn ra từ năm 1985, đây là thời điểm ông Bình chưa đi học ở Liên Xô.

5. Một số tờ báo nêu tổng số tài sản của Công ty CIMEXCOL hơn 11,3 triệu USD chứ không bị thua lỗ. Về vấn đề này qua xác minh cho thấy: Việc Công ty CIMEXCOL nợ nước ngoài 5 triệu USD đã được Đoàn thanh tra 54 của Chính phủ và Hội đồng giám định tài chính của Bộ Tài chính kết luận. Số liệu mà báo chí đưa ra là dựa vào báo cáo tài chính của Ban Giám đốc Công ty đã bị Đoàn thanh tra bác bỏ. Như vậy, kết luận của Tòa án về trách nhiệm của ông Lê Văn Bình đối với việc CIMEXCOL nợ nước ngoài là có cơ sở.

Từ các tài liệu trên, VKSND tối cao thấy rằng bản án số 01/HS-SCT từ ngày 22/4/1989 của TAND tối cao kết án ông Lê Văn Bình về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và xử phạt 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 1 năm theo Điều 220 BLHS năm 1985 là có căn cứ, không oan.

Đây là toàn bộ nội dung vụ án mà VKSND tối cao đã dựa trên cơ sở hồ sơ vụ án, xác minh các tài liệu và trực tiếp đối thoại với các đương sự. Do vậy, trong báo cáo các cơ quan giám sát và trả lời các đương sự đều phải dựa vào nội dung này đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản báo cáo cũng như trả lời.

b. Đề xuất kháng nghị giám đốc thẩm

 Thời gian qua, bình quân hàng năm VKSND tối cao nhận được 2500 đến 3000 thông báo vi phạm và đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Trong đó có đơn của bị cáo, bị hại, ngươì bào chữa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, của các VKS địa phương. Đặc biệt, có nhiều đơn của các cơ quan Đảng, Nhà nước, cơ quan báo chí, các tổ chức và đơn vị cũng chuyển nhiều đơn đến VKS. Tuy nhiên, giám đốc là một thủ tục đặc biệt để xem xét các trường hợp bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực nhưng phát hiện có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có vi phạm nghiêm trọng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do vậy việc kháng nghị giám đốc thẩm cũng là thủ tục đặc biệt, đòi hỏi Kiểm sát viên khi nghiên cứu, đề xuất cần thận trọng, cân nhắc có nên kháng nghị hay không. Để bảo đảm việc đề xuất kháng nghị chính xác, Kiểm sát viên chú ý nắm chắc các quy định về thẩm quyền và thời gian kháng nghị giám đốc thẩm.  

- Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm:

Điều 278 Bộ luật TTHS đã quy định cụ thể về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, theo đó:

+ Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực.

Thời hạn một năm kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực là khoảng thời gian để những người quan tâm đến vụ án có điều kiện phát hiện những vi phạm của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực. Ngoài thời hạn trên đây, dù vụ án có bị xét xử sai đến mức nào nhưng nếu không có lợi cho người bị kết án thì cũng không được kháng nghị. Ví dụ, một người bị kết án về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Điều 95 BLHS và bản án có hiệu lực ngày 15/3/2007. Đến ngày 14/2/2008 người bị hại mới có thông báo về việc bản án kết tội không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và theo người bị hại, hành vi của bị cáo đã phạm tội giết người theo Điều 93 BLHS. VKSTC rút hồ sơ và đến ngày 15/3/2008 hồ sơ vụ án mới có tại VKSTC. Trong trường hợp này, dù có căn cứ kết luận bị cáo phạm tội theo Điều 93 BLHS nhưng không thể kháng nghị được, vì thời hạn đã hết.

Quy định thời hạn một năm để phát hiện vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án không những nhằm nâng cao trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc phát hiện vi phạm, đồng thời việc quy định trên đây cũng nhằm đề cao trách nhiệm của những người kháng nghị trong việc nghiên cứu hồ sơ, xác minh một cách khẩn trương để xem xét kháng nghị. Vì giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt nên không được kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

 Hiện nay có một số ý kiến đề nghị kéo dài thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm đối với các trường hợp không có lợi cho người bị kết án nhằm khắc phục tình trạng xét xử sai tội danh hoặc xét xử quá nhẹ. Tuy nhiên theo chúng tôi, việc pháp luật quy định thời hạn 1 năm để phát hiện vi phạm của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là phù hợp với thực tiễn. Thời gian qua chưa có vụ án hình sự nào vì xét xử quá nhẹ mà không kháng nghị được do nguyên nhân quá thời hạn kháng nghị. Ngoài các lý do như đã nêu trên, xét về mặt trật tự pháp luật, quy định trên cũng có ý nghĩa bảo đảm sự ổn định của bản án. Việc xét xử sai tội danh, xét xử qúa nhẹ là trách nhiệm trước hết do cơ quan và người tiến hành tố tụng. Không thể khắc phục sự thiếu sót của cơ quan và người tiến hành tố tụng bằng cách làm xấu hơn tình trạng của người bị kết án được. Hay nói cách khác, muốn khắc phục tình trạng xét xử sai tội danh, xét xử quá nhẹ thì phải nêu cao trách nhiệm và năng lực của cơ quan và người tiến hành tố tụng.

+ Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

Theo tinh thần của điều luật, việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án được thực hiện bất cứ lúc nào. Đây là quy định mang tính nhân đạo sâu sắc. Bởi vì, trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, do nhiều lý do khác nhau, rất có thể xảy ra việc oan, sai cho người bị kết kết án. Tại các nước phát triển cũng thường đã xảy ra việc oan sai. Một số chuyên gia luật nước ngoài cho rằng, sỡ dĩ một quốc gia bỏ hình phạt tử hình, ngoài nguyên nhân về nhân quyền có nguyên nhân quan trọng là có nhiều trường hợp bị kết án tử hình nhưng sau khi xem xét lại thì họ bị oan.

Đối với nước ta, việc pháp luật TTHS quy định việc không quy định thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án là tạo cơ hội để những người bị kết án oan, hoặc phát hiện các tình tiết mà nếu xét lại bản án thì họ sẽ được giảm nhẹ. Do vậy, khi có trường hợp thông báo bản án hoặc quyết định của Toà án có vi phạm mà nếu kháng nghị sẽ có lợi cho người bị kết án thì Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu kỹ để báo cáo Lãnh đạo Viện.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, không phải bất cứ trường hợp nào có lợi cũng được kháng nghị giám đốc thẩm. Ví dụ, một người phạm tội cố ý gây thương tích và bị tuyên phạt 2 năm tù và đã chấp hành xong hình phạt. Sau khi ra tù, người này đã đề nghị giảm hình phạt. Vì theo họ, mức án 3 năm là quá nặng. Trong trường hợp này không thể thực hiện được. Bởi vì, bản án đã áp dụng khoản 1 Điều 104 BLHS để tuyên phạt 2 năm tù, mức án này nằm trong khung hình phạt của khoản 1 Điều 104. Do vậy, dù người bị kết án cho là quá nặng nhưng cũng chỉ nằm trong khung hình phạt của khoản 1 Điều 104. Mặt khác, hình phạt áp dụng cho người bị kết án đã được thi hành xong, không thể xét giảm được. Như vậy, vấn đề đặt ra hiều thế nào là có lợi cho người bị kết án ?

Theo chúng tôi, kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án trước hết bản án đó phải có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS. Đồng thời, việc sai lầm đó đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án. Ví dụ, một người bị Toà án tuyên phạt 2 năm tù về tội có ý gây thương tích. Sau khi thi hành án xong, người này đề nghị xem xét lại cho họ, vì theo họ, với hành vi như vậy chỉ phạm tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Nếu có căn cứ như đề nghị của người bị kết án thì đây là trường hợp có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS. Trong trường hợp này cần xem xét là trường hợp bản án đó có vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị kết án.

+ Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về TTDS.

Theo quy định tại Điều 288 Bộ luật TTDS thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là ba năm kể từ ngày bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật. Như vậy, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm về dân sự dài hơn so với thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm về hình sự. Quy định như vậy là xuất phát từ đặc điểm, tính chất của tranh chấp dân sự. Tuy nhiên, nếu kháng nghị theo hướng không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự nào thì không bị hạn chế về thời gian.

+ Về cách tính thời hạn kháng nghị. Như trên đã nêu, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là 1 năm về hình sự và 3 năm về dân sự (theo hướng không có lợi cho đương sự). Trong thực tế phải tính đến trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm hoặc phúc thẩm và trong một thời gian nào đó họ không nhận được bản án, quyết định của Toà án, thì thời hạn kháng nghị về phần trực tiếp liên quan đến đương sự này có thể phải tính từ khi họ nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Riêng đối với án sơ thẩm sau khi nhận được bản án, quyết định sơ thẩm, đương sự còn có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định (15 ngày đối với bản án và 7 ngày đối với quyết định). Nếu họ kháng cáo trong thời hạn này thì vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm, việc kháng nghị giám đốc thẩm chưa được đặt ra.

- Kỹ năng đề xuất kháng nghị giám đốc thẩm.

Điều 285 Bộ luật TTHS quy định về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc. Đây cũng chính là nội dung kháng nghị giám đốc thẩm. Do vậy, Kiểm sát viên chú ý các nội dung sau đây khi đề xuất kháng nghị:

Thứ nhất, kháng nghị theo hướng huỷ án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án. Theo quy định tại Điều 286 Bộ luật TTHS thì Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án, nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điệu 107 Bộ luật TTHS. Điều 107 Bộ luật TTHS  quy định:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

Đây là quy định về những trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự đồng thời cũng là quy định về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm huỷ án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án. Nếu xét trên phương diện kháng nghị giám đốc thì những quy định tại Điều 107 Bộ luật TTHS cũng là những quy định về căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng huỷ án hoặc quyết định và đình chỉ vụ án.    

 Tuy nhiên trong thực tiễn truy tố xét xử, kháng nghị theo hướng huỷ án và đình chỉ xét xử thường xảy ra hai trường hợp là không có sự kiện phạm tội và hành vi không cấu thành tội phạm.  

 Trường hợp không có sự kiện phạm tội là trường hợp bản án kết tội đối với người nào đó nhưng trong thực tiễn không có sự kiện phạm tội xảy ra. Đây là trường hợp do có nhận thức sai lầm của người tiến hành tố tụng nên đã suy đoán một sự kiện xảy ra trong xã hội như là tội phạm và do vậy đã truy cứu trách nhiệm hình sự  nhầm người không có hành vi phạm tội. Nhận thức sai lầm có thể được thực hiện trong điều tra thu thập chứng cứ hoặc trong việc tổng hợp, đánh giá, kết luận sai lầm về sự kiện tự nhiên trong xã hội lại cho đó là do hành vi của con người gây ra. Ví dụ, cháy kho do sét đánh nhưng tưởng do thủ kho đốt, chìm tàu do bão to sóng lớn lại tưởng do thuỷ thủ làm chìm, một người vắng nhà lại coi bị giết sau đó lại xuất hiện. Thực tiễn xét xử cho thấy ít có trường hợp không có sự kiện phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp nếu xảy ra thì bản kháng nghị giám đốc thẩm phải chú ý lập luận làm sáng tỏ hành vi của con người trong trường hợp này là không cấu thành tội phạm.

 Trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi của con người cụ thể nhưng hành vi đó không nguy hiểm cho xã hội, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Thực tiễn truy tố xét xử cho thấy, hành vi không cấu thành tội phạm có thể là hành vi thuộc quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính nhưng quá trình điều tra, truy tố xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng lại cho rằng đó là hành vi phạm tội. Lẽ ra các tranh chấp về dân sự, về kinh tế phải được giải quyết bằng vụ án dân sự hoặc kinh tế nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng lại tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử về một tội phạm cụ thể như lừa đảo hoặc lạm dụng chiếm đoạt tài sản. Các trường hợp này khi phát hiện có sai lầm phải được kháng nghị để huỷ án và đình chỉ việc xét xử. Thực tế đã xảy ra tương đối nhiều trường hợp các cơ quan tố tụng đã hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự, hành chính…Đối với các trường hợp này, khi xây dựng bản kháng nghị, Kiểm sát viên chú ý phân tích, chứng minh để kết luận người có hành vi  trong trường hợp này là không cấu thành tội phạm.

 Ví dụ, vụ án Nguyễn Đình Chiến, về tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản ở tỉnh Cần Thơ. Năm 1995 Nguyễn Đình Chiến, Giám đốc công ty cung ứng xuất nhập khẩu phía Bắc ký kết hai hợp đồng (số 06 ngày 26/7/1995 và số 120 ngày 25/9/1995) uỷ thác tiêu thụ hàng hoá với Võ Hoàng Minh Giám đốc Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp tỉnh Cần Thơ. Theo hợp đồng thì Công ty xuất nhập khẩu tỉnh Cần Thơ uỷ thác cho Công ty cung ứng hàng xuất nhập khẩu phía Bắc tiêu thụ 9073 tấn đường, trị giá 53.986.608.000 đồng. Chiến đã tiêu thụ hết nhưng chỉ thanh toán cho Công ty xuất nhập khẩu tỉnh Cần Thơ 13.730.616.500 đồng, còn thiếu 40.255.991.000đ, chưa tính lãi 3.587.491.366 đồng. Quá trình điều tra phát hiện số tiền nợ trên đây do Công ty đầu tư phát triển tỉnh Sóc Trăng, (Ly Hóc Lỷ làm Giám đốc) còn nợ Chiến trên 42 tỷ và số nợ này đã được bản án ngày 9/7/1998 buộc Ly Hóc Lỷ phải bồi thường cho Nguyễn Đình Chiến. Như vậy, Nguyễn Đình Chiến ký kết hợp đồng với Võ Hoàng Minh là ngay thẳng, hợp đồng có điều khoản nếu chậm thanh toán thì phải trả lãi theo lãi suất ngân hàng, nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng thương lượng, nếu không thương lượng được thì giải  quyết bằng trọng tài kinh tế. Đặc biệt Chiến vẫn cam kết trả nợ và số nợ đó không phải do bị can chiếm đoạt mà do người khác nợ Chiến (Lý Hóc Lỷ nợ Chiến 42 tỷ). Đây là các hợp đồng kinh tế nên phải được giải quyết bằng trọng tài kinh tế. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra làm rõ thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn của bị can, làm rõ hành vi dùng tài sản để hoạt động bất hợp pháp và thực sự đã chiếm đoạt bao nhiêu? Nếu không chứng minh được các tình tiết trên đây thì không có căn cứ để truy tố bị can về tội lạm dụng theo Điều 140 BLHS. Hành vi của Nguyễn Đình Chiến thực chất là tranh chấp kinh tế nhưng các cơ quan tố tụng đã nhầm tưởng đó là hành vi phạm tội.[12] 

Hành vi không cấu thành tội phạm còn biểu hiện ở chỗ, hành vi ấy không gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Việc đánh giá hành vi phạm tội như thế nào là gây nguy hiểm không đáng kể, như thế nào là nguy hiểm đáng kể rất phức tạp và khó khăn. Việc đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phụ thuộc vào năng lực, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của môi quan hệ xã hội bị xâm phạm; mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, động cơ, mục đích, nhân thân người phạm tội, tính chất lỗi của hành vi phạm tội.

Hành vi không cấu thành tội phạm còn biểu hiện ở chỗ hành vi ấy không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp này Kiểm sát viên chú ý căn cứ vào bốn yếu tố cấu thành tội phạm khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan để xem xét đánh giá, đề xuất. Nếu căn cứ hồ sơ vụ án khẳng định việc bản án kết tội một người nào đó không đủ các yêu tố cấu thành tội phạm như: không xác định được hậu quả, người phạm tội không đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự…thì báo cáo đề xuất với Lãnh đạo Viện. Ví dụ một người bị xét xử về tội giết người nhưng Kiểm sát viên thấy nghi ngờ về năng lực pháp lý của người này, đã báo cáo Viện trưởng trưng cầu giám định tâm thần và kết quả giám định kết luận bị cáo bị bệnh tâm thần. Hoặc trường hợp phạm tội lừa đảo nhưng không có căn cứ kết luận lừa đảo bao nhiêu, nghĩa là vụ án chưa có hậu quả xảy ra…

Hành vi không cấu thành tội phạm còn biểu hiện hành vi đó thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự. Căn cứ Điều 11, 15, 16 BLHS, các hành vi không cấu thành tội phạm do thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự như: sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế khẩn cấp… Đây là các trường hợp thường hay xảy ra trong thực tiễn. Nguyên nhân do nhận thức không đầy đủ và đúng đắn về các quy định của BLHS, nhất là nhận thức về các dấu hiệu đặc trưng của các loại tội, dẫn đến kết tội bị cáo không có cơ sở. Để bảo đảm kháng nghị chính xác, Kiểm sát viên cần nghiên cứu thận trọng, đưa ra đầy đủ lập luận của mình về những sai lầm của bản án khi kết tội không có căn cứ pháp luật.  

Trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự đã quy định:

 “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

 2. Người đủ từ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

        Trong thực tế, việc kháng nghị giám đốc đối với trường hợp người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà bị kết án, thường xảy ra do cơ quan tố tụng xác định chưa chính xác người bị kết án phạm tội rất nghiêm trọng hay nghiêm trọng. Phạm tội rất nghiêm trọng, nghiêm trọng không phải là yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng đây là điều kiện để đánh giá tính không nghiêm trọng hay là nghiêm trọng của hành vi người chưa thành niên. Theo pháp luật hình sự Việt Nam, hành vi của người chưa thanh niên được coi là tội phạm khi hành vi ấy phạm tội rất nghiêm trọng. Đây là quy định mang tính nhân đạo đối với người chưa thành niên. Do vậy, trong trường hợp người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng bản án lại xác định hành vi ấy đã cấu thành tội phạm và xử phạt người chưa thành niên là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS..

Đối với trường hợp chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, khi xây dựng bản kháng nghị, Kiểm sát viên cần chú ý đánh giá chính xác tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi ấy phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hay là rất nghiêm trọng. Đây là cơ sở để khẳng định người chưa thành niên có phạm tội hay không.

Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Đạt, về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Từ tháng 4 đến tháng 5/2003, Phạm Thị Thú đã nhiều lần mua hêrôin về chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho con nghiện nhằm thu lời bát chính. Ngoài ra, Thú đã 2 lần đưa hêrôin cho con trai là Nguyễn Văn Đạt (sinh 20/2/1989) để bán cho các con nghiện. Lần một vào sáng ngày 30/5/2003, Thú đưa cho Đạt 5 gói hêrôin để bán. Lần hai vào ngày 31/5/2003, Thú đã đưa cho Đạt 3 gói hêrôin, Đạt mới bán được 1 gói.

Bản án nhận định Nguyễn Văn Đạt có hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần nên đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS để truy tố, xét xử và áp dụng hình phạt cho bị cáo.

Nguyễn Văn Đạt có hành vi mua bán ma tuý nhiều lần nhưng hành vi của Đạt trong mỗi lần ấy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bởi vì, lúc Đạt có hành vi mua bán ma tuý mới 14 tuổi 3 tháng, 10 ngày, là tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiệm trọng và tội phạm nghiêm trọng. Như vậy, hành vi của Đạt chỉ cấu thành tội phạm khi Đạt phạm tội rất nghiêm trọng, có mức án cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù. Tại tiết 10 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuôi đến dưới 16 tuổi mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần đã quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý từ hai lần trở lên, nếu tổng trọng lượng chất ma tuý của các lần cộng lại dưới mức tối thiểu hoặc không xác định được tổng trọng lượng chất ma tuý của tất cả các lần đã đến mức tối thiểu quy định tại các điểm g, h, i, k, m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 BLHS thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép các chất ma tuý”. Trong trường hợp này cần xác định Đạt không phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý.[13]

Thứ hai, kháng nghị theo hướng huỷ án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại. Điều 287 Bộ luật TTHS quy định “Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại, nếu có một trong những quy định tại Điều 273 của bộ luật này…”. Như vậy, căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đồng thời là căn cứ để Hội đồng xét xử giám đốc thẩm huỷ án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại. Vụ án bị Hội đồng giám đốc thẩm huỷ án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại là những vụ án có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS hoặc trong quá trình điều tra, xét xử có vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật TTHS. Do vậy, trong trường hợp đề xuất kháng nghị theo hướng trên đây Kiểm sát viên phải nghiên cứu thận trọng và khách quan để bảo đảm việc kháng nghị chính xác theo từng trường hợp cụ thể:

Kháng nghị theo hướng huỷ án để điều tra lại là trường hợp trong quá trình điều tra còn có nhiều tình tiết chưa được làm sáng tỏ, dẫn tới việc phán quyết của bản án thiếu khách quan, toàn diện. Kháng nghị theo hướng huỷ án để điều tra lại thường xảy ra trong các tình huống sau đây:

- Việc điều tra chưa đầy đủ, các chứng cứ còn nhiều mâu thuẫn. Hồ sơ vụ án có nhiều mâu thuẫn này không chỉ làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện mà đây còn là nguyên nhân dẫn tới các khiếu kiện bức xúc và kéo dài. Vì vậy, việc nghiên cứu vụ án để phát hiện các mâu thuẫn của các tài liệu, đồ vật là rất cần thiết, góp phấp vào việc đánh giá, nhận xét vụ án chính xác, khách quan. Muốn vậy, đòi hỏi Kiểm sát viên phải thận trọng, tỷ mỷ khi tiến hành nghiên cứu, so sánh, đối chiếu các tình tiết của vụ án. Ví dụ, khi nghiên cứu lời khai của bị cáo phải đối chiếu với lời khai của bị hại, các nhân chứng, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để xem xét nội dung các lời khai ấy có gì đã phù hơp, nội dung nào còn mâu thuẫn; đối chiếu giữa lời khai của bị hại với lời khai của nhân chứng; đối chiếu lời khai giữa các nhân chứng với nhau; đối chiếu giữa các lời khai với các biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám đinh. Đồng thời cần kết hợp nghiên cứu các mâu thuẫn đó đã được các cơ quan và người tiến hành tố tụng giải quyết như thế nào, ví dụ đã tiến hành đối chất, xác minh thêm các tình tiết của vụ án, diễn lại hiện trương, thực nghiệm điều tra, giám định lại chưa… Những mâu thuẫn này chưa được giải quyết thì phải được xem xét để giải quyết vụ án một cách toàn diện, khách quan.

Đối với trường hợp kháng nghị đề nghị huỷ án để điều tra lại thì trong bản kháng nghị, Kiểm sát viên chú ý chứng minh những vi phạm nghiêm trọng trong quá trình điều tra. Những vi phạm nghiêm trọng ấy đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Ví dụ, vụ án Hàn Đức Long, về tội giết người, hiếp dâm ở tỉnh Bắc Giang. Khoản 19h ngày 26/6/2005, khi đi làm về vợ chồng anh Nguyễn Đình Sơn và chị Đoàn Thị Liễu không thấy con gái là Nguyễn Thị Yến ở nhà. Sáng hôm sau, chị Hoàng Thị Hoa đi làm đồng về phát hiện xác cháu Nguyễn Thị Yến nằm tại mương nước trên cánh đồng làng. Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi. Qua hiện trường cho nhận định cháu Yến bị giết và hiếp. Nhưng sau đó do không phát hiện được đối tượng gây án nên ngày 27/10/2005 vụ án được tạm đình chỉ điều tra. Cũng trong thời gian này Cơ quan điều tra phát động quần chúng nhân dân tố giác tội phạm.

 Ngày 12/10/2005, bà Nguyễn Thị Chung có đơn tố cáo Hàn Đức Long có hành vi hiếp dâm mẹ chồng của mình là Ngô Thị Khuyến (sinh năm 1930). Tiếp đó, Trương Thị Năm là con gái bà Khuyến có đơn tố cáo Hàn Đức Long đã hiếp dâm chị hai lần. Ngày 19/10/2005, Công an huyện đã triệu tập Hàn Đức Long để làm rõ việc chị Năm và chị Chung tố cáo. Tại đây, Long đã nhận tội hiếp dâm như đơn tố cáo. Ngày 20/10/2005, Long đã bị khởi tố và bị tạm giam.

Bản án sơ thẩm ngày 31/01/2007, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 107 Bộ luật TTHS tuyên bố Hàn Đức Long không phạm tội hiếp dâm (đối với bà Khuyến và chị Năm). Áp dụng điểm c và g khoản 1 Điều 93, khoản 4 Điều 112; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 48; điểm d khoản 1 Điều 50 BLHS xử phạt Hàn Đức Long tử hình về tội hiếp dâm trẻ em, tù chung thân tội giết người. Tổng hợp hình phạt buộc Long phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là tử hình. Sau đo bị cáo khiếu nại kêu oan, VKS kháng nghị đề nghị tuyên bố Long phạm tội hiếp dâm và tăng hình phạt tử hình đối với bị cáo về tội giết người.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện VKS đã rút toàn bộ kháng nghị và đề nghị huỷ án để điều tra xét xử lại. Tuy nhiên, bản án phúc thẩm vẫn giữ nguyên các quyết định sơ thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, VKSND tối cao thấy tại Cơ quan điều tra thì Long nhận tội, nhưng sau đó Long phản cung và lời khai này mâu thuẫn với các nhân chứng chị Đặng Thị Sổ, Nguyễn Thị Yến.

Lời khai của chị Sổ cũng mâu thuẫn về tiêu thụ thời gian của Long khi xát gạo. Trong lúc đó, Long khai mâu thuẫn về thời gian phạm tội. Các dấu vết trên thân thể cháu Yến cũng chưa được điều tra làm rõ. Long thì liên tục kêu oan.

Vì những mâu thuẫn trên đây nên Hội đồng giám đốc thẩm đã huỷ án để điều tra xét xử lại.[14] 

 - Việc điều tra còn để lọt tội, lọt người phạm tội. Việc điều tra còn để lọt người, lọt tội là việc điều tra vụ án không khách quan, toàn diện, dẫn đến lọt tội phạm và lọt kẻ phạm tội. Nguyên nhân của việc bỏ lọt người, lọt tội là chưa đánh giá hết tính nguy hiểm, nghiêm trọng của vụ án và trong chừng mực nào đó chưa bảo đảm tính bình đẳng trước pháp luật. Vì vậy, khi có thông báo việc bỏ lọt người, lọt tội thì Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu để phát hiện việc bỏ lọt người, lọt tội và xem xét việc đề xuất kháng nghị. Tuy nhiên, việc kết luận vụ án bỏ lọ người, lọt tội phải có đầy đủ chứng cứ, nếu hồ sơ vụ án chưa thể hiện rõ thì phải xác minh để kết luận chính xác. Những trường hợp để lọt người, lọt tội thường xảy ra trong các vụ án có đồng phạm, các vụ án có đông người tham gia, vào thời điểm ban đêm mà các nhân chứng khai không thống nhất…

Ví dụ, Lê Thị Lan, về tội cố ý gây thương tích ở tỉnh Thanh Hoá. Vào khoảng 12h30 ngày 8/5/2006, vợ cồng anh Lê Văn Ngọc và chị Lại Thị Đông cãi nhau. Nguyên nhân là do anh Ngọc nghi ngờ chi Đông có quan hệ bất chính trong thời gian anh Ngọc đi vắng. 14h cùng ngày, Lê Thị Lan (em ruột anh Ngọc) và Lê Văn Hạnh (em họ anh Ngọc) đến trước sân nhà anh Ngọc và chửi anh Ngọc về việc để vợ quan hệ bất chính. Anh Ngọc đuổi Lan về và tiếp tục cãi nhau với chị Đông. Đến 15h30 cùng ngày, Lê Thị Lan cùng Lê Văn Minh, Lê Thị Là (cũng đều là em ruột anh Ngọc), đi đến nhà anh Ngọc. Khi đến nơi, Minh, Là và Lan đi thẳng vào chỗ vợ chồng anh Ngọc đang ngồi, còn Hạnh đứng ở trước cửa ra vào. Minh nói với anh Ngọc “anh không xử được thì để bọn em xử cho”. Anh Ngọc nói “việc nhà tao để tao giải quyết”. Minh nói “phải cho con này một dấu ấn vào mặt, đây là cơ hội để bọn tao trả thù”. Sau đo Minh dùng tay đấm vào người, vào bụng chị Đông. Tiếp đó, Là và Lan cũng xông vào đánh chị Đông. Thấy vậy anh Ngọc kêu lên “chúng mày không được đánh vợ tao”. Sau đó anh Ngọc nắm tay Là và Lan kéo ra ngoài cửa. Trong lúc đó Minh vẫn tiếp tục đánh và bẻ  hai tay chị Đông ra phía sau, tỳ vào thành ghế, nơi chị Đông đang ngồi và hô Hạnh ấn trán chị Đông, đẩy về phía sau làm mặt chị Đông ngửa lên, rồi dùng vật sắc rạch mặt chị Đông. Vết thương trên mặt chị Đông kéo dài từ vùng thái dương xuống cằm. Giám định vết thương kết luận tỷ lệ thương tật của chị Lại Thị Đông là 15%.

Với hành vi phạm tội tên đây, TAND huyện Thạch Thành đã xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Lê Thị Lan 30 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Bị cáo kháng cáo kêu oan. TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm, giảm cho bị cáo, phạt 15 tháng tù.

Trên cơ sở đề nghị xem xét lại vụ án của VKS tỉnh Thanh Hoá, VKSND tối cao đã nghiên cứu hồ sơ thì thấy, trong quá trình điều tra, mặc dù Lê Thị Lan và Lê Văn Minh không khai nhận là đã vào trong nhà và gây thương tích cho chị Đông. Nhưng căn cứ vào lời khai của bị hại, lời khai của các nhân chứng và các chứng cứ tài liệu khác trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở kết luận: Lê Thị Lan và Lê Văn Minh cùng đến nhà vợ chồng anh Ngọc và chị Đông để gây gỗ với chị Đông. Minh đã có lời nói kích động, có hành vi bẻ tay chị Đông ra phía sau, tạo điều kiện cho Lan thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích cho chị Đông. Vì vậy Lê Văn Minh phải là đồng phạm với Lê Thị Lan, phải chịu trách nhiệm về hậu quả của vụ án. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan pháp luật có sai lầm khi cho rằng hành vi của mình mang tính đơn lẻ, không coi là đồng phạm. Do vậy, việc cấp sơ thẩm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của Minh là bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng và như vậy ảnh hưởng đến đánh giá vai trò, mức độ phạm tội cũng như áp dụng hình phạt đối với bị cáo Lê Thị Lan.

Một sai lầm nữa của cấp sơ thẩm là: theo kết quả giám định thì tỷ lệ thương tật của chị Đông là 15%. Cấp sơ thẩm cho rằng đây là trường hợp gây cố tật nhẹ cho nạn nhân nên truy tố và kết án bị cáo ở khoản 2 Điều 104 BLHS là không đúng với hướng dẫn tại mục 1, điẻm l, Nghị quyết số 02/2003/HĐTTP-TATC ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Theo đó, việc gây cố tật nhẹ là để lại trạng thái bình thường, không chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân nhưng thương tật chỉ dưới 11%, chứ không phải 15% như Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng.

 Đồng thời, trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Lê Thị Lan đều kêu oan, không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nhưng Toà án cấp phúc thẩm lại áp dụng tình tiết giảm nhẹ, quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS để áp dụng Điều 47 BLHS giảm hình phạt cho bị cáo từ 30 tháng tù xuống 15 tháng tù là không đúng với quy định của pháp luật. Đây là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS lẽ ra chỉ kháng nghị huỷ án để xét xử lại, nhưng do trong quá trình điều tra vi phạm nghiêm trọng các quy định của Bộ luật TTHS, các bản án sơ thẩm và phúc thẩm cũng không phát hiện các vi phạm này, nên vừa qua Viên trưởng VKSND tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Toà hình sự TAND tối cao huỷ án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra xét xử lại cho đúng quy định của pháp luật.[15]     

- Việc điều tra có nhiều vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Vi phạm tố tụng trong điều tra là việc điều tra không theo đúng quy định của Bộ luật TTHS, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Vi phạm tố tụng có nhiều dạng như quá hạn tạm giữ, khi hỏi cung không giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can… Tuy nhiên, không phải vi phạm nào cũng kháng nghị giám đốc. Có những vi phạm chỉ cần rút kinh nghiệm nhưng có vi phạm cần kháng nghị. Vi phạm tố tụng trong điều tra dẫn tới kháng nghị giám đốc thẩm để huỷ điều tra lại là những vi phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, hoặc những vi phạm tố tụng ây ảnh hưởng đến xác định sự thật của vụ án. Ví dụ, khi khởi tố điều tra người có hành vi phạm tội nghiêm trọng có thể bị mức án cao nhất mà không mời người bào chữa cho bị can là vi phạm nghiêm trọng khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS.

Bộ luật TTHS không quy định nội dung kháng nghị phải nêu hướng giải quyết vụ án tiếp theo như thế nào. Nhưng thực tiễn cho thấy, căn cứ vào những vi phạm và sai lầm nghiêm trọng của bản án đã có hiệu lực pháp luật, bản kháng nghị cần nêu phương hướng giải quyết vụ án trong giai đoạn tiếp theo như thế nào. Ví dụ phần cuối của bản kháng nghị thường có câu: Đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm xử huỷ án để điều tra lại hoặc xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) lại theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ cho bị cáo. Việc nêu hướng giải quyết vụ án như vậy của bản kháng nghị không chỉ thể hiên quan điểm rõ ràng của người kháng nghị mà còn giúp cho Hội đồng xét xử chuẩn bị quan điểm của mình để xem xét có chấp nhận hay bác bỏ kháng nghị. Như vậy, việc nêu quan điểm của người kháng nghị về phương hướng giải quyết vụ án là nội dung cần thiết của bản kháng nghị. Cho nên, Bộ luật TTHS sửa đổi sắp tới cần đưa quy định này vào nội dung của bản kháng nghị. Tuy nhiên, việc nêu định hướng giải quyết vụ án như vậy không có nghĩa là bắt buộc Hội đồng xét xử phải tuân theo. Việc xem xét vụ án như thế nào hoàn toàn do Hội đồng xét xử quyết định. Ví dụ kháng nghị theo hướng huỷ án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại nhằm khắc phục sai lầm của bản án phúc thẩm. Nếu bản án phúc thẩm và sơ thẩm sai thì kháng nghị theo hướng huỷ án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại. Nếu việc điều tra có vi phạm nghiêm trọng thì huỷ án để điều tra, xử lại.

Ví dụ, vụ án Đinh Xuân Đắc phạm tội hiếp dâm trẻ em ở tỉnh Tuyên Quang. Qúa trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án này có nhiều vi phạm tố tụng nghiêm trọng nên ngày 30/11/2007,Viện trưởng VKSND tối cao đã có kháng nghị giám đốc thẩm số 34/QĐ- VKSTC-V3. Phần quyết định của kháng nghị có nêu: Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 953/2006/HSPT ngày 27/9/2006 của Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 54/2006/HSST ngày 29/5/2006 của TAND tỉnh Tuyên Quang kết án bị cáo Đinh Xuân Đắc về tội Hiếp dâm trẻ em theo Điều 112 BLHS để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.[16] 

 - Trường hợp kháng nghị huỷ án để xét xử lại. Theo quy định tại Điều 287 Bộ luật TTHS thì kháng nghị giám đốc thẩm để đề nghị xét xử lại thì tuỳ trường hợp, có thể đề nghị huỷ án để xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm.

+ Bản án sơ thẩm bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại là bản án sơ thẩm ấy có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tụng tố tụng là bản án đó đã vi phạm các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên toà (Chương XVIII Bộ luật TTHS), về thủ tục bắt đầu phiên toà (Chương XIX), về thủ tục xét hỏi tại phiên toà (Chương XX), về tranh luận tại phiên toà (Chương XXI), về nghị án và tuyên án (Chương XXII Bộ luật TTHS). Tuy nhiên, không phải bất cứ vi phạm nào thủ tục nào cũng đặt vấn đề xem xét kháng nghị huỷ án để xét xử sơ thẩm lại mà vi phạm thủ tục tố tụng đến mức phải huỷ án để xét xử lại là vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bi hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đồng thời những vi phạm đó có ảnh hưởng đến việc đánh giá sự thật khách quan của vụ án.

        + Bản án sơ thẩm bị kháng nghị để xét xử lại là bản án có sai lầm nghiêm trọng về áp dụng BLHS. Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng về áp dụng BLHS  nhưng không bị kháng nghị, kháng cáo nên cấp phúc thẩm không giải quyết được. Ví dụ án sơ thẩm xét xử sai tội danh nhưng không có kháng cáo kháng nghị, hoặc án sơ thẩm có vi phạm về tổng hợp bản án nhưng cũng không có kháng cáo, kháng nghị...Những trường hợp này phải kháng nghị giám đốc thẩm, yêu cầu huỷ án sơ thẩm để xét xử lại nhằm khắc phục những sai lầm trong việc áp dụng BLHS. Cũng có trường hợp, án sơ thẩm phạt bị cáo quá nhẹ nhưng không có kháng nghị, kháng cáo nên cấp phúc thẩm không có thẩm quyền xét xử bị cáo nặng hơn. Trong trường hợp này VKS phải kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng huỷ án sơ thẩm để xét xử lại.

+ Bản án phúc thẩm bị kháng nghị huỷ để xét xử phúc thẩm lại là bản án ấy có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự hoặc vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng trong xét xử phúc thẩm, trong lúc đó án sơ thẩm không có vi phạm. Trong trường hợp này bản án phúc thẩm bị kháng nghị theo hướng để xét xử phúc thẩm lại.

Theo Điều 256 Bộ luật TTHS năm 1988, thẩm quyền của giám đốc “nếu bản án hoặc quyết định phúc thẩm có sai lầm nhưng bản án hoặc quyết định sơ thẩm đúng thì Hội đồng giám đốc thẩm chỉ huỷ bản án hoặc quyết định có sai lầm đó và giữ nguyên bản án hoặc quyết định sơ thẩm”. Điều 287 Bộ luật TTHS năm 2003 đã bỏ thẩm quyền này. Có nghĩa là, nếu xét thấy án sơ thẩm đúng, án phúc thẩm sai thi Hội đồng giám đốc chỉ có thẩm quyền huỷ bản án hoặc quyết định phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại. Kháng nghị theo hướng xét xử phúc thẩm lại là bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhưng việc xét xử phúc thẩm không được khách quan, toàn diện.  

 Ví dụ, vụ án sản xuất hàng giả ở thành phố Hồ Chí Minh. Hồi 11h45 ngày 19/12/2006, Cơ quan điều tra phát hiện La Thị Thu Thuỷ, La Thị Thu Hoàng, Tạ Bích Vân, Trần Lê Huyền Châu và Huỳnh Thị Nga đang đóng gói bao bì gồm 29584 hộp kem dưỡng da các loại cùng một số phương tiện dùng để sản xuât kem dưỡng da. Ngày 21/12/2006 Nguyễn Thượng Ngươn đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận hành vi sản xuất kem giả.

 Ngày 16/01/2007, Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận thành phần kem chứa trong các hộp kem dưỡng da nhãn hiệu ZALE, THANH THAO, ROJZYJLALI, HAZELINE gửi tới giám định không giống thành phần kem chứa trong các hộp kem dưỡng da nhãn hiệu tương ứng được cung cấp làm so sánh.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2007/HSST ngày 11/9/2007. TAND quận 6, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 156 ; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 điều 48 BLHS, xử phạt Nguyễn Thượng Ngươn 01 năm 06 tháng tù về tội sản xuất hàng giả. Ngoài ra Toà án còn phạt Ngươn 5 triệu đồng và buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5 triệu đồng để xung công quỹ. Ngày 19/9/2007, Ngươn có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại bản án phúc thẩm số 26/2008/HSPT ngày 10/01/2008, TAND thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 156; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p, o khoản 1 Điều 46; Điều 60 BLHS, xử phạt Nguyễn Thượng Ngươn 01 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội sản xuất hàng giả.

Qua nghiên cứu hồ sơ VKSND tối cao thấy Nguyễn Thượng Ngươn sản xuất hàng giả với số lượng lớn, diễn ra trong thời gian dài, có thuê địa điểm sản xuát và thuê người quản lý, đóng gói, giao hàng. Về nhân thân, năm 2001 bị cáo Ngươn đã bị phạt hành chính 5 triệu đồng  về hành vi sản xuất hàng giả, nay tiếp tục phạm tội.

Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án và tuyên phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp. Trong lúc đó Toà án cấp phúc thẩm lại cho rằng bị cáo tự thú là không có căn cứ. Bởi vì hành vi sản xuất hàng giả của Nguyễn Thượng Ngươn bị Công an bắt quả tang ngày 19/12/2006 đên ngày 21/12/2006 bị cáo ra đầu thú. Tình tiết này chỉ được áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS. Nhưng Toà án cấp phúc thẩm lại nhận định bị cáo ra tự tự thú và áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS để sửa án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo là không đúng quy định tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

Vì bản án phúc thẩm có sai lầm về áp dụng pháp luật hình sự nên ngày 07.10.2008, Viện trưởng VKSND tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Hội đồng giám đốc huỷ án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm theo hướng không cho bị cáo Nguyễn Thượng Ngươn được hưởng án treo theo đúng quy định của pháp luật.[17] 

        Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử có trường hợp bản án phúc thẩm vừa có vi phạm pháp luật tố tụng nghiêm trọng vừa có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS. Trong trường hợp này phải kháng nghị để huỷ bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại.

Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Huy phạm tội cố ý gây thương tích ở tỉnh Kon Tum. Khoảng 20 giờ ngày 04/11/2004 Nguyễn Văn Huy đi xe mô tô từ nhà Huy đến nhà ông Nguyễn Đình Thanh (bố đẻ Huy) thì gặp anh Nguyễn Phúc Minh và Dương Thanh Tâm là hai người đang đi bộ cùng chiều. Do Huy đi xe gây bụi nên hai bên có lời qua tiếng lại. Ngay lúc đó Huy vào nhà ông Thanh cất xe, lấy cây gậy gỗ đuổi theo các anh Minh và Tâm. Đi đến khu vực nhà anh Lê Văn Đán thì Huy gặp các anh Trần Thế Đôi và Nguyễn Xuân Cát, Huy liền nói "có bọn C14 (ở tổ dân phố 7) đến quậy phá nhà ông già tôi" và cùng các anh Đán, Đôi, Cát quay lại nhà ông Thanh. Khi đến trước cổng nhà ông Thanh, Huy nghe ông Thái Văn Hội  hô "bắt trói chúng nó lại" và thấy anh Hồ Quốc Đoàn đang ngồi trên xe đạp trước cổng nhà ông Thập, Huy chạy đến dùng cây gỗ đánh 01 cái vào lưng anh Đoàn. Anh Đoàn bỏ xe đạp chạy vào sân nhà ông thập, liền bị Nguyễn Văn Sơn cầm gậy le nhảy qua hàng rào từ sân nhà ông thanh sang sân nhà ông Thập đánh 01 cái trúng vào lưng. Anh Đoàn bỏ chạy ra cổng nhà ông Thập thì gặp Huy. Huy giơ gậy lên đánh 01 Cái từ trên xuống về phía anh Đoàn, anh Đoàn giơ tay lên đỡ nên đã trúng khuỷu tay trái. Huy cầm gậy đi về phía cổng nhà ông Thanh, sau đó định quay lại để tiếp tục đánh anh Đoàn thì được mọi người can ngăn. Anh Đoàn được đưa đi cấp cứu tại trung tâm y tế huyện Đắk Hà, nằm điều trị 8 ngày (từ ngày 08/11/2004 đến ngày 15/11/2004 ra viện về nhà tiếp tục điều trị).

Tại bản án giám định pháp y số 66/PY ngày 17/11/2004, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Kon Tum kết luận Hồ Quốc Đoàn bị gãy mỏm khuỷu trái (T), đầu trên lồi cầu trong xương cánh tay (T) chưa cal, trục thẳng, Tỷ lệ thương tật toàn bộ 33% vĩnh viễn.

Trước khi xét xử sơ thẩm gia đình Huy đã đến nhà anh Đoàn xin gia đình anh Đoàn bãi nại cho Huy và bồi thường trước cho anh Đoàn 7 triệu đồng.

Tại bản cáo trạng số 18/KS DDT ngày 03/7/2006, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố Nguyễn Văn Huy về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự (phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 BLHS).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/HSST ngày 08/8/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Huy 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích; buộc Huy phải bồi thường tiếp cho anh Đoàn 7.295.000 đồng (đã bồi thường được 7 triệu) còn phải bồi thường tiếp cho anh Đoàn số tiền 295.000 đồng. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tang vật, án phí và tuyên bố quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 09/8/2006 Nguyễn Văn Huy kháng cáo kêu oan.

Tại Quyết định kháng nghị số 01/KN ngày 21/8/2006, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với Nguyễn Văn Huy.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/12/2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định hoãn phiên tòa và đến ngày 26/02/2007 có Công văn số 437/TPT-ĐN yêu cầu Viện thực hành quyền công tố và xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tiến hành giám định lại thương tích của bị hại là anh Hồ Quốc Đoàn với lý do kết luận của giám định pháp y số 66 ngày 17/11/2004 không phù hợp với chuẩn đoán của giấy chứng nhận thương tích của Trung tâm y tế huyện Đắk Hà ngày 20/12/2004.

Tại bản giám định pháp y số 37/GĐ-PY ngày 14/3/2007, phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum kết luận: Hồ Quốc Đoàn bị gãy mỏm khuỷu cũ đã điều trị ổn định, cal xương liền tốt, không anh hưởng chức năng. Tỷ lệ thương tật toàn bộ 04% vĩnh viễn.

Tại công văn số 256/VPTT ngày 04/5/2007, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng yêu cầu giám định lại do kết quả giám định lần 1 và lần 2 khác nhau.

Ngày 26/11/2007, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận được công văn số 126/KS ĐT ngày 14/11/2007 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum trả lời về yêu cầu giám định lần thứ 2 không thực hiện được do bị hại đi làm ăn xa.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 40/2007/HSPT ngày 26/11/2007, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248; khoản 2 Điều 107 và Điều 251 Bộ luật TTHS, quyết định: "bác kháng cao nghị của VKSND tỉnh Kon Tum về việc tăng hình phạt; chấp nhận kháng cáo của bị cáo"; tuyên bố Nguyễn Văn Huy không phạm tội "cố ý gây thương tích". Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 34/2006/HSST ngày 07/8/2006 của TAND tỉnh Kon Tum xét xử đối với Nguyễn Văn huy về tội cố ý gây thương tích và đình chỉ vụ án.

Những vi phạm về thủ tục tố tụng:

Toà án cấp phúc thẩm hoãn phiên toà để yêu cầu Viện thực hành quyền công tố và xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tiến hành giám định lại thương tích của anh Hồ Quốc Đoàn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Theo quy định tại Điều 34 và Điều 36 Bộ luật TTHS thì chỉ có Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Viện trưởng Viện kiểm sát mới có thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định, không có điều luật nào quy định Toà án có quyền hoãn phiên toà để yêu cầu trưng cầu giám định lại. Theo quy định tại Điều 311 của Bộ luật TTHS thì trong trường hợp có nghi ngờ về bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác có liên quan đến năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo có biểu hiện trong giai đoạn xét xử thì Toà án mới có quyền trưng cầu giám định. Đồng thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004 thì "trong trường hợp việc giám định được thực hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng và Pháp lệnh này quy định thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể không trưng cầu giám định nữa mà sử dụng kết luận giám định pháp y số 66/GĐPY ngày 17/11/2004 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Kon Tum đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh giám định tư pháp. Trường hợp Toà án cấp phúc thẩm có nghi ngờ về kết quả giám định thì phải huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.

        Toà án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo gây thương tích cho bị hại có 4%, đồng thời cho rằng người đại diện hợp pháp của người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên toà sơ thẩm để xác định hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm, nhưng lại áp dụng khoản 2 Điều 107 Bộ luật TTHS để tuyên bố bị cáo không phạm tội cố ý gây thương tích là không đúng. Trong trường hợp này Toà án cấp phúc thẩm phải áp dụng khoản 2 Điều 105 Bộ luật TTHS để đình chỉ vụ án.

        Những vi phạm về áp dụng BLHS:

        Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào Bản giám định pháp y số 66/GĐPY ngày 17/11/2004 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Kon Tum kết luận bị hại là thương tật với tỉ lệ 33% để xử phạt bị cáo về tội cố ý gây thương tích là đúng vì theo quy định tại Điều 31 Pháp lệnh giám định tư pháp thì thành phần giám định do một người thực hiện là không trái pháp luật. Tuy nhiên, theo Công văn số 01/CV-PY ngày 07/01/2008 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum thì việc xếp hạng thương tật 33% vĩnh viễn đối với anh Đoàn theo kết luận của Bản giám định pháp y số 66 ngày 17/11/2004 là có sự nhầm lẫn, đúng ra phải xếp hạng thương tật tạm thời. Nguyễn Văn Huy đã vô cớ dùng gậy gỗ đánh anh Đoàn, nhưng Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết được quy định tại các điểm a (dùng hung khí nguy hiểm) và điểm i (có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 104 BLHS đối với bị cáo là không đúng.

Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y số 37/GĐ-PY ngày 14/3/2007 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum kết luận anh Đoàn bị thương tật với tỉ lệ 4% vĩnh viễn và căn cứ vào việc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi xét xử sơ thẩm để tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án là không đúng. Vì từ khi anh Đoàn bị đánh cho đến khi giám định lại là 02 năm 4 tháng 10 ngày, đồng thời việc yêu cầu giám định lại tỉ lệ thương tật của Toà án cấp phúc thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nên không có căn cứ chấp nhận kết quả giám định pháp y lần 2. Tuy trước khi xét xử vụ án người đại diện hợp pháp của bị hại có ký vào đơn bãi nại đề ngày 21/4/2006 do gia đình bị cáo viết. Nhưng căn cứ vào kết quả xác minh của cơ quan điều tra tại các biên bản ghi lới khai vào các ngày 25,29,31 tháng 5/2006 thì việc viết đơn bãi nại này của phía bị hại là do bị tác động từ gia đình bị cáo, đồng thời tại phiên toà sơ thẩm phía bị hại vẫn yêu cầu giải quyết theo pháp luật và cho rằng việc bãi nại chỉ là để xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó, không có căn cứ cho rằng phía bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi xét xử như nhận định của Toà án cấp phúc thẩm.

Vì các lý do trên đây mà bản án phúc thẩm đã bị kháng nghị theo hướng đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.  

 Bản án sơ thẩm và án phúc thẩm bị kháng nghị huỷ án để xét xử lại là các bản án ấy có sai lầm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật hình sự hoặc vi phạm nghiêm trọng Bộ luật TTHS. Thực tiễn có trường hợp bản án sơ thẩm vừa có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tung, vừa có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, dẫn đến phán quyết sai quy định của pháp luật. Trong trường hợp này phải kháng nghị giám đốc để đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm huỷ án sơ thẩm và phúc thẩm dể xét xr lại theo đúng quy định của pháp luật.

 Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Sang về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Khoảng 19h15 ngày 1/5/2006, Nguyễn Văn Sang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 71K1-9666 chở Đỗ văn Quýt và Phan Thị Nhẫn chạy trên tỉnh lộ 884 theo hướng từ ngã ba Tiên Thuỷ về bến phà Tân Phú. Khi đến km 19+400 thuộc địa phận ấp Tân Nam xã Tân Phú thì đụng với xe mô tô 71k8-0558 do anh Nguyễn Ngọc Chất điều khiển theo chiều ngược lại làm hai xe và 4 người ngã xuống đường. Hậu quả anh Chất chết lại chỗ, Sang bị thương tật 43%, Quýt và Nhẫn bị thương nhẹ, hai xe hỏng nặng.

Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 1/5/2006 của Cơ quan công an xác định:

- Mặt đường rộng 5,30m.

- Điểm đụng xe được xác định là nơi có nhiều mảnh vụn vỡ của kính đèn chiếu sáng, mảnh vỡ của nhựa và mảnh bể của lốc máy xe môtô cách lề phải 1,9m.

- Tính theo hướng xe 71k8-0558 ngã ở lề phải, để lại vết cày dài 2,7m, đầu vết cày cách lề phải 1,3m, trục sau xe cách lề phải 0,37m.

- Xe môtô 71k1- 9666 ngã giữa đường. Trục trước cách lề phải 2,55m, trục sau cách lề phải 2,7m.

Vụ án được khởi tố điều tra truy tố và xét xử sơ thẩm và sau đó phúc thẩm huỷ án sơ thẩm để yêu cầu điều tra lại. Ngày 16/7/2006 VKS huyện Châu Thành quyết định truy tố Nguyễn Văn Sang về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 202 BLHS. Bản án sơ thẩm ngày 17/9/2006, TAND huyện Châu Thành căn cứ vào khoản 2 Điều 107 Bộ luật TTHS tuyên bố Nguyễn Văn Sang không phạm tội vi phạm quy định về điều khiên phương tiện giao thông đường bộ. Ngày 01/10/2007, đại diện bị hại ông Nguyễn Ngọc Rạng kháng cáo yêu cầu buộc bị cáo Sang là người phạm tội và yêu cầu đòi Nguyễn Văn Sang phải bồi thường dân sự. Ngày 26/09/2006, VKS huyện Châu Thành kháng nghị yêu cầu Toà phúc thẩm TAND tỉnh xét xử theo hướng tuyên Nguyễn Văn Sang phạm tội như VKS truy tố.

Bản án phúc thẩm ngày 3/12/2007, TAND tỉnh Bến Tre đã áp dụng khoản 2 Điều 107, Điều 94 Bộ luật TTHS tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Sang không phạm tội như VKS truy tố.

Sai lầm của hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm trên đây là sai lầm về quan điểm đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật hình sự với các nội dung sau đây:

Thứ nhất, trong một vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, muốn xác định hành vi phạm tội như thế nào thì trước hết phải xem xét dấu vết tại hiện trượng để xác định lỗi của các bên tham gia giao thông. Trong vụ án này, theo biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án (do Cơ quan công an lập ngày 01/05/2006 đúng thủ tục và đúng thẩm quyền) thì điểm va chạm giữa hai xe môtô là nơi có nhiều mảnh vỡ của kính đèn chiếu sáng, mảnh vỡ của nhựa và mảnh bể của lốc máy xe môtô. Điểm va chạm này được xác định cách lề phải là 1,9m theo hướng lưu thông của xe do người bị hại điều khiển (mặt đường rộng 5,3m). Trong lúc đó, xe môtô do nạn nhân điều khiển nằm cách lề phải theo hướng xe lưu thông là 1,3m-0,37m; xe môtô của bị cáo nằm gần như giữa đường. Như vậy, với hiện trường này cho nhận định điểm va chạm của hai xe môt tô nằm về phía bên trái (theo chiều lưu thông của xe bi cáo). Rõ ràng là xe môtô của bị cáo khi va chạm đã lấn đường sang bên trái. Còn xe của bị hại đi đúng đường của mình.

Thứ hai, về lời khai của bị cáo và các nhân chứng. Theo bị cáo khai, do bị cáo chở ba người nên rất khó đi, vì vậy bị cáo phải điều khiển xe đi giữa đường. Lời khai này phù hợp với hiện trường. Còn nhân chứng chị Nguyễn Thị Nhẫn khai rằng xe của bị cáo đi giữa lộ.

Thứ ba, bị cáo làm nghề xe ôm nhưng đã chở 3 người.

Thứ tư, bản án sơ thẩm và phúc thẩm cho rằng hiện trường còn nguyên vẹn, không bị xáo trộn. Bị cáo chạy giữa lộ không lấn trái. Lời khai của bị cáo mâu thuẫn với biên bản khám nghiệm hiện trường và chỉ  có biên bản hiện trường và sơ đồ hiện trường là chứng cứ duy nhất để kết tội bị cáo là không có cơ sở nên tuyên bị cáo không phạm tội. Bản án sơ thảm và phúc thẩm nhận định chứng cứ để buộc tội có mâu thuẫn nhưng lại tuyên bị cáo không phạm tội. Lẽ ra nếu chứng cứ mâu thuẫn thì phải huỷ án để điều tra nhưng đây lại tuyên bị cáo không phạm tội là không thống nhất giữa nhận định và quyết định. Đây là trường hợp bản án có sai lầm về đánh giá chứng cứ. Vì vậy, Viện trưởng VKSND tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị Toà hình sự TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng huỷ án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại theo quy định của pháp luật.[18] 

 Bộ luật TTHS trước đây quy định Hội đồng giám đốc có thẩm quyền được sửa bản án hoặc quyết định bị kháng nghị nếu thấy bản án đó có sai lầm khi áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, Điều 285 Bộ luật TTHS (2003) quy định Hội đồng giám đốc thẩm không có thẩm quyền này nữa. Đây là quy định mới nhằm hạn chế sự tuỳ tiện của Hội đồng giám đốc. Tuy nhiên sau một thời gian thi hành Bộ luật TTHS, có ý kiến cho rằng đối với các trường hợp cần thiêt, quyết định giám đốc có thể được sửa bản án, góp phần làm cho vụ án được giải quyết nhanh chóng, đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân. Đồng thời đây cũng là điều kiện giảm bớt những phiền hà và chi phí tốn kém của Nhà nước và của người dân. Ví dụ, bị cáo A bị Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo khai báo thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây nên. Bị cáo có kháng cáo đề nghị cho hưởng án treo để tiếp tục được đi học. (Bị cáo đang học cấp 3). Tuy nhiên cấp phúc thẩm đã bác kháng cáo và tuyên y án sơ thẩm. Bị cáo tiếp tục đề nghị cho được hưởng án treo. Đề nghị của bị cáo là hợp lý. Bởi vì, bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bồi thường để khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn, đặc biệt bị cáo đang là học sinh ... Trường hợp này theo quy định tại Điều 60 BLHS và Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao tại mục 6.1 về hướng dẫn thực hiện Điều 60 BLHS thì bị cáo được hưởng án treo. Do vậy, nếu kháng nghị theo hướng huỷ án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại cho bị cáo được hưởng án treo thì vụ án lại đước tiến hành theo trình tự sơ thẩm rồi phúc thẩm...Theo quy định tại Điều 257 Bộ luật TTHS (năm 1988) trong trường hợp này Viện kiểm sát được kháng nghị theo hướng sửa bản án phúc thẩm cho bị cấo hưởng án treo. Quy định này không chỉ tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng những khoan hồng có lợi cho họ theo quy định của pháp luật mà còn giảm bớt những phiền hà và tốn kém cho công quỹ của Nhà nước. Do vậy, ý kiến này cho rằng, nên quy định thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm được sửa bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực.

2. Kỹ năng xây dựng bản kháng nghị, bản phát biểu quan điểm của VKS và tham gia phiên toà giám đốc thẩm

a. Kỹ năng xây dựng bản kháng nghị giám đốc thẩm.

- Căn cứ pháp luật của bản kháng nghị.

 Có ý kiến cho rằng, bản kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm chỉ là văn bản mang tính thủ tục tố tụng để Hội đồng xét xử giám đốc thẩm tiến hành xét xử, còn nội dung cụ thể do Kiểm sát viên chuẩn bị để phát biểu trước Hội đồng xét xử. Quan điểm trên đây chưa quán triệt đầy đủ về thẩm quyền, phạm vi của kháng nghị giám đốc thẩm.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 281 Bộ luật TTHS thì tại các phiên toà giám đốc, Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán thảo luận và biểu quyết về nội dung kháng nghị. Như vậy, kháng nghị là cơ sở pháp lý làm phát sinh các phiên toà giám đốc thẩm. Theo lôgích này thì đã có bản kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là có các phiên toà giám đốc thẩm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người kháng nghị có thể rút quyết định kháng nghị thì không tiến hành phiên toà gián đốc.

Kết cấu, nội dung của bản kháng nghị giám đốc thẩm đã được VKSND tối cáo hướng dẫn tại Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC. Tuy nhiên xét về tính chất và phạm vi của thủ tục giám đốc thẩm như đã nêu trên đây, bản kháng nghị phải đạt ba nội dung: Triển khai thực hiên kết luận của Lãnh đạo Viện, bám sát các tình tiết của vụ án và các căn cứ pháp luật để luận giải.

+ Về triển khai thực hiện ý kiến của Lãnh đạo Viện: Sau khi báo cáo Lãnh đạo, Kiểm sát viên hệ thống các ý kiến của Lãnh đạo về giải quyết vụ án. Vì bản kháng nghị giám đốc thẩm là quan điểm, ý chí của Viện trưởng về việc giải quyết vụ án nên những ý kiến về chứng cứ, tội danh và phương hướng giải quyết vụ án của Viện trưởng phải được thể hiện đầy đủ trong bản kháng nghị. Nếu quá trình chuẩn bị xây dựng bản kháng nghị mà Kiểm sát viên thấy có vấn đề gì còn băn khoăn thì Kiểm sát viên báo cáo xin ý kiến Viện trưởng. Khi Viện trưởng đã cho ý kiến thì Kiểm sát viên có trách nhiệm triển khai thực hiện.

+ Về bám sát các tình tiết của vụ án. Nội dung bản kháng nghị cần bám sát các tình tiết của vụ án để luận giải, làm sáng rõ các vấn đề mà bản kháng nghị đề nghị giải quyết. Tuy nhiên, các tình tiết của vụ án được đề cập trong bản kháng nghị là những tình tiết có liên quan đến nội dung kháng nghị, liên quan đến những đề nghị của đương sự. Vì vây, các tình tiết được đề cập trong bản kháng nghị không chỉ liên quan đến nội dung vụ án mà còn thể hiện yêu cầu của người đề nghị kháng nghị. Do vậy, khi nêu các tình tiết của vụ án, Kiểm sát viên chú ý lựa chọn một cách hợp lý, tránh việc nêu dài dòng. Ví dụ khi nêu tóm tắt nội dung vụ án thì chỉ cần nêu các tình tiết liên quan đến nội dung của bản kháng nghị, còn các tình tiết khác không liên quan thì không nêu.

+ Các căn cứ pháp luật: Đây là nội dung quan trọng của bản kháng nghị. Như phần trên đã phân tích, Điều 273 Bộ luật TTHS đã quy định các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, cho nên bản kháng nghị phải nêu chính xác cụ thể căn cứ kháng nghị, không được nêu một cách chung chung là căn cứ Điều 273. Việc nêu các căn cứ pháp luật để luận giải việc bản án, quyết định của Toà án đã có sai lầm hoặc vi phạm nghiêm trọng như thế nào ?

+ Bản kháng nghị phải bảo đảm tính tranh luận. Tính tranh luận trong bản kháng nghị là những lập luận, lý giải về những lý do phải kháng nghị. Bản kháng nghị phải chứng minh bản án hoặc quyết định đã có sai lầm nghiêm trọng như thế nào trong việc áp dụng BLHS, hoặc có vi phạm nghiêm trọng như thế nào trong việc chấp hành các thủ tục theo quy định của Bộ luật TTHS. Đây là những căn cứ giúp cho Hội đồng xét xử làm cơ sở để để ra phán quyết  một cách khách quan, toàn diện. Việc phân tích các sai lầm nghiêm trọng của bản án hoặc những vi phạm nghiêm trọng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử phải được lựa chọn, cân nhắc kỹ cả về nội dung và hình thức của bản kháng nghị. Do vậy, bản kháng nghị không quá câu nệ về trình bày dài hay ngắn mà vấn đề quan trọng là nội dung kháng nghị đã đầy đủ và chặt chẽ, lô gích và có sức thuyết phục chưa?

        - Nội dung bản kháng nghị

        Căn cứ Điều 286, 287 Bộ luật TTHS và mẫu hướng dẫn, nội dung văn bản kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm các phần như sau:

 + Phần căn cứ, có 3 vấn đề

 Một là, căn cứ pháp luật để Viện kiểm sát ban hành văn bản kháng nghị. Đây là các qquy định của Bộ luật TTHS về thẩm quyền ký kháng nghị giám đốc, việc uỷ quyền ký và căn cứ kháng nghị giám đóc thẩm  

 Với tinh thần trên, các căn cứ cần nêu là Điều 275 quy định Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án; Điều 36, khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng; Điều 273 quy định các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, bao gồm những vi phạm của cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm, phúc thẩm.

Hai là, nêu số, ngày, tháng, năm, của bản án hoặc quyết đinh và Toà án ban hành bản án hoặc quyết định..

Ba là, nêu tóm tắt lai lịch của bị cáo. Thường chỉ nêu đối với bị cáo liên quan đến việc kháng nghị của Viện kiểm sát. Chú ý nêu đầy đủ tiền án, tiền sự của bị cáo.

+ Phần nội dung vụ án

Phần này nêu tóm tắt nội dung vụ án để có được hình dung cơ bản, khái quát về vụ án. Tuy nhiên, những vấn đề, những tình tiết cụ thể trong hành vi phạm tội của bị cáo liên quan đến khiếu nại của đương sự, liên quan đến những vi phạm của cơ quan tố tụng và liên quan đến những nhận định, đánh giá của Viện kiểm sát để đi đến quyết định kháng nghị cần được mô tả cụ thể.

Cùng với việc nêu tóm tắt hành vi phạm tội của các bị cáo, cần nêu phần quyết định trong bản án hoặc quyết định của Toà án. Đối với vụ án đã xử sơ thẩm, phúc thẩm nhiều lần, chú ý nêu đầy đủ nội dung quyết định của các bản án hoặc quyết định mà Viện kiểm sát sẽ kháng nghị giám đốc thẩm.

+ Phần phân tích vi phạm trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

Đây là phần quan trọng nhất của văn bản kháng nghị. Kiểm sát viên phải phân tích, lập luận, đưa ra các luận cứ để chứng minh làm rõ những vi phạm trong nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS của bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. Kháng nghị không nêu chung chung mà cần nêu rõ ràng, cụ thể từng vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án. Mỗi vi phạm đều có phân tích, lập luận, chứng minh làm sâu sắc những quan điểm của kháng nghị.

 Ví dụ, khi nêu bản án hoặc quyết định của Toà án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục TTHS là những vi phạm cụ thể nào, vi phạm đó đã thật sự nghiêm trọng không, kết luận trong bản án không phù hợp với các tình tiêt khách quan của vụ án thì phải lập luận cụ thể nội dung kết luận và sự không phù hợp với các tình tiết khách quan như thế nào. Khi để cập bản án hoặc quyết định có sai lầm nghiêm trọng đến áp dụng BLHS thì vi phạm cụ thể gì và sai lầm ấy đã đến mức nghiêm trọng như thế nào. Đây là những nội dung rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa đến việc bảo vệ quan điểm của kháng nghị mà đây còn là cơ sở để Hội đồng giám đốc xem xét kết luận. Nếu việc lập luận, chứng minh những vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án không rõ ràng, không có sức thuyết phục, sẽ dẫn đến việc Toà án bác kháng nghị.

+ Phần quyết định kháng nghị

Phần này cần nêu rõ xuất xứ, tên gọi của bản án hoặc quyết định của Toà án có vi phạm như số, ngày, tháng, năm, đơn vị Toà án ban hành bản án.

Nêu rõ nội dung của kháng nghị về việc đề nghị Hội đồng giám đốc xét xử theo quy định tại Điều 285 về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm. Nội dung của kháng nghị có thể theo hướng đề nghị huỷ án, quyết định để đình chỉ vụ án, để điều tra lại hoặc để xét xử lại. Nếu kháng nghị của Viện trưởng VKS cấp tỉnh thì gửi  Toà án cấp tỉnh, nếu là kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao thì gửi Toà hình sự TAND tối cao.

b. Về việc bổ sung, rút kháng nghị

Khoản 3 Điều 277 Bộ luật TTHS quy định “trước khi bắt đầu phiên toà giám đốc thẩm, người đã kháng nghị có quyền bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 278 của Bộ luật này hoặc rút kháng nghị”. Điều 54 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự quy định “Quyết định bổ sung hoặc rút kháng nghị phải bằng văn bản và nêu rõ lý do”.

Tại Điều 238 Bộ luật TTHS quy định về việc “bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị” phúc thẩm, nhưng đối với kháng nghị giám đốc thẩm, điều 277 Bộ luật TTHS cũng như Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC chỉ quy định việc “bổ sung, rút kháng nghị”, không đề cập tới việc “thay đổi” kháng nghị. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đối với kháng nghị giám đốc thẩm cũng có thể được thay đổi như kháng nghị phúc thẩm mà không sai tinh thần của điều luật. Thực chất việc thay đổi kháng nghị cũng là “rút” phần nào đó trong kháng nghị để “bổ sung” vào phần mới mà thôi. Riêng việc rút kháng nghị, có thể là rút một phần hoặc rút toàn bộ kháng nghị.

Bộ luật TTHS cũng như Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC về công tác thực hành qquyền công tố và kiểm sát xét xử không quy định rõ việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trong các trường hợp nào. Theo chúng tôi, kháng nghị giám đốc thẩm có thể cần phải rút trong trường hợp Viện kiểm sát phát hiện thấy nội dung của kháng nghị có sự sai sót, không chính xác so với vụ án. Nếu sai hoàn toàn thì phải rút toàn bộ kháng nghị, nếu sai một phần thì có thể rút hoàn toàn, khi xét phần còn lại không cần thiết phải kháng nghị hoặc rút một phần khi xét phần còn lại vẫn cần tiếp tục kháng nghị.

 Ví dụ, trong vụ án tham ô tài sản, kháng nghị của VKS đề nghị huỷ phần hình sự và dân sự để xét xử lại. Nhưng sau khi ban hành kháng nghị, Kiểm sát viên phát hiện phần hình sự của bản án, việc áp dụng hình phạt là nhẹ cho bị cáo nhưng không cần thiết phải kháng nghị mà chỉ cần rút kinh nghiệm, còn đối vấn đề dân sự, việc bản án buộc bị cáo bồi thường như vậy là không phù hợp với vai trò, vị trí của bị cáo trong vụ án. Trong trường hợp này có thể rút một phần kháng nghị về hình sự và giữ nguyên phần kháng nghị về bồi thường dân sự.

 Ngoài ra, Viện kiểm sát có thể rút kháng nghị khi có căn cứ xét thấy mặc dù kháng nghị không sai, nhưng trong tình hình hiện tại không cần thiết phải kháng nghị nữa. Ví dụ, rút kháng nghị trong trường hợp bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, Toà án quyết định hình phạt là quá nhẹ, người bị hại khiếu nại đề nghị tăng nặng, Viện kiểm sát đã kháng nghị giám đốc thẩm. Trong thời gian Toà án chưa xét xử giám đốc thẩm, bị hại lại rút đơn khiếu nại, trong khi đó bị cáo mặc bệnh hiểm nghèo, quá già yếu. Trường hợp này việc rút kháng nghị là chính xác.  

Thực tiễn xét xử cho thấy, có trường hợp trong quá trình xét xử, Hội đồng giám đốc thẩm không nhất trí với kháng nghị của VKS, trong trường hợp này KSV đề nghị hoãn phiên toà. Sau khi xem xét lại và báo cáo Viện trưởng, nếu xét thấy quan điểm kháng nghị là chính xác thì có văn bản khẳng định việc kháng nghị đúng với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm tiếp tục xét xử. Tuy nhiên cũng có trương hợp, quan điểm của Hội đồng giám đốc thẩm khác với kháng nghị của của VKS. Trong trường hợp này có thể báo cáo Ủy ban tư pháp của Quốc hội cho ý kiến.

Ví dụ, vụ án Phan Văn Quỳnh, về tội giết người và hiếp dâm ở tỉnh Đ. Khoảng 14h ngày 18/12/2003, Phan Văn Quỳnh cùng các anh Phan Văn Quynh (em trai Quỳnh), Nguyễn Đình Khoa, Nguyễn Viết Cương và một số người đi làm thuỷ điện cho ông Phạm Đình Ngừng. Đến 16h cùng ngày, Quỳnh, Quynh và Cương đi làm về. Sau khi rửa chân tay xong, Quynh, Khoa và Cương đi lên nhà ông Ngừng uống nước. Còn Quỳnh đi đến bụi chuối để tiểu tiện. Cùng lúc đó, Quỳnh phát hiện chị Lò Thị Cươi (sinh năm 1987) đi thăm nhà chị gái về tắt qua vườn ông Ngừng. Thấy vậy, Quỳnh trêu chọc chi Cươi. Thấy chị Cươi bỏ chạy thì Quỳnh đuổi theo và dùng tay phải núm vào vai phải của chị Cươi. Chị Cươi kêu cứu thì Quỳnh dùng tay trái bịt miệng chị Cươi và đè lên người chị Cươi. Sau đó Qùnh hiếp dâm chị Cươi nhưng do vướng quần nên không thực hiện được. Tiếp đó, Quỳnh đã bóp cổ giết chết chị Cươi.  Đây là vụ án giết người, hiếp dâm mà bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã phán quyết tử hình Quỳnh. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, VKS thấy còn nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết. Trong lúc đó Hội đồng thẩm phán không nhất trí với kháng nghị của VKS và qua thảo luận theo hướng bác kháng nghị. Theo quan điểm của VKSND tối cao, nếu Hội đồng giám đốc bác kháng nghị thì không còn cơ hội để xem xét lại một cách khách quan, toàn diện. Bởi vì, theo quy định tại khoản 1 Điều 275 Bộ luật TTHS, Nghị quyết của Hội đồng giám đốc là cao nhất, Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao không có quyền kháng nghị. Trong trường hợp này, nếu bị cáo bị tuyên phạt tử hình, VKS kháng nghị, còn TAND tối cao lại bác kháng nghị thì thủ tục thi hành án tử hình sẽ vướng.

Vì theo quy định tại khoản 2 Điều 259 Bộ luật TTHS, trước khi thi hành án tử hình, phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án TAND tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao. Trong trường hợp này, Viện trưởng VKSND tối cao có kháng nghị thì giải quyết như thế nào.

Đây là vướng mắc mà trong thực tiễn chưa gặp bao giờ. Sau khi nghe báo cáo, Uỷ ban tư pháp của Quốc hội thấy rằng kháng nghị của VKS là có căn cứ. Vụ án này sau đó được Hội đồng giám đốc chấp nhận kháng nghị.

Nội dung văn bản bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phải căn cứ khoản 3, điều 277 Bộ luật TTHS, quy định việc bổ sung, rút kháng nghị của Viện kiểm sát. Phải nêu rõ văn bản kháng nghị cần bổ sung, thay đổi hoặc cần rút là văn bản nào (số, ngày, tháng, năm, của Viện kiểm sát nào). Dù là bổ sung, thay đổi hay rút kháng nghị cũng không cần phải nêu lại nội dung kháng nghị. Việc rút kháng nghị chỉ cần nêu rõ lý do của việc rút. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị cần nêu rõ nội dung nào cần thay đổi, bổ sung. Những nội dung thay đổi, bổ sung mới cần chú ý diễn đạt rõ ràng, chính xác, cụ thể, lập luận chặt chẽ, thực sự đảm bảo tính thuyết phục; tránh việc làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn.

Việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị đương nhiên phải được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền kháng nghị (Điều 275), về thời hạn kháng nghị (Điều 278). Theo Điều 36 Bộ luật TTHS và điều 50 Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, thì Viện trưởng Viện kiểm sát từ cấp tỉnh, cấp quân đoàn trở lên trực tiếp ký quyết đinh rút, thay đổi kháng nghị

c. Kỹ năng xây dựng bản phát biểu quan điểm của VKS

Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 56 Quy chế số 969/2007/QĐ-VKSTC về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự quy định “đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”.

Việc phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà giám đốc thẩm có hai trường hợp, quan điểm bảo vệ kháng nghị của Viện kiểm sát và quan điểm về kháng nghị của Toà án. Trong cả hai trường hợp này, Kiểm sát viên đều phải dự thảo bài phát biểu quan điểm trước khi mở phiên toà giám đốc thẩm. Việc chuẩn bị tốt bài phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát sẽ giúp Kiểm sát viên chủ động và tự tin hơn trong việc bảo vệ quan điểm của mình tại phiên toà, nhất là trong trường hợp phải bảo vệ kháng nghị của Viện kiểm sát. Bài phát biểu chuẩn bị không tốt, dễ làm cho Kiểm sát viên thụ động, lúng túng trong thực hành quyền công tố tại phiên toà, gặp khó khăn trong việc bảo vệ quan điểm của mình. Vì vậy trọng tâm việc nêu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà giám đốc thẩm là phân tích, đánh giá về những vi phạm của bản án hoặc quyết định, đồng thời đề nghị Hội đồng giám đốc giải quyết vụ án theo quan điểm của VKS.

Quan điểm bảo vệ kháng nghị. Văn bản kháng nghị của Viện kiểm sát đã nêu nội dung vụ án và vi phạm của cơ quan tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm. Tại phiên toà giám đốc thẩm, Kiểm sát viên không cần phải nêu lại nội dung vụ án như trong bản kháng nghị mà chủ yếu là phân tích, lập luận, chứng minh những vi phạm của bản ân hoặc quyết định của Toà án đẫ có hiệu lưc pháp luật. Tuy nhiên, Kiểm sát viên không nên “sao chép y nguyên” những nội dung này tại bản kháng nghị mà phải trình bày làm sâu sắc hơn, đầy đủ, cụ thể, rõ ràng hơn về những vi phạm nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật TTHS của bản án hoặc quyết định của Toà án.

Khoản 2, Điều 56 Quy chế số Số 960/QĐ-VKSTC quy định “đối với những người được Viện trưởng uỷ quyền tham gia phiên toà chỉ phát biểu quan điểm về những vấn đề đã được Viện trưởng cho ý kiến”. Vì vậy, dự thảo bài phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà giám đốc thẩm được xây dựng theo các ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng. Qua việc xét xử tại phiên toà có thể phát sinh những vấn đề mới hoặc khác so với các nội dung đã được Viện trưởng cho ý kiến. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên tham dự phiên toà hoặc phải điều chỉnh nội dung bài phát biểu hoặc phải đề nghị hoãn phiên toà, nếu những vấn đề phát sinh này có thể làm thay đổi cơ bản quan điểm đã được Viện trưởng cho ý kiến để báo Viện trưởng.

Quan điểm về kháng nghị của Toà án. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên cũng phải nghiên cứu hồ sơ, văn bản đề nghị của đương sự, xác minh những vấn đề chưa rõ, phải tổng hợp, đánh giá chứng cứ, báo cáo lãnh đạo Viện và dự thảo bài phát biểu tại phiên toà giám đốc thẩm như trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị. Vì vậy, những quan điểm của Toà án về những vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được Kiểm sát viên nghiên cứu, xem xét đầy đủ, được lãnh đạo Viện cho ý kiến thống nhất trước khi dự thảo bài phát biểu.

3. Kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên toà giám đốc thẩm

Kiểm sát viên tham gia phiên toà giám đốc thẩm cũng thực hiện, chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát như khi tham gia phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm: thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án trong việc xét xử giám đốc thẩm.

 Trong quá trình thảo luận dự án Bộ luật TTHS, có ý kiến cho rằng nên bỏ chức năng kiểm sát xét xử của VKS. Các ý kiến này lập luận rằng ở các nước theo truyền thống thông lệ, Viện công tố không được giao nhiệm vụ này. Theo chúng tôi, thực tiễn gần 50 năm ngành Kiểm sát, Viện kiểm sát đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, góp phần quan trọng cùng Toà án đưa ra những phán quyết đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Trong điều kiện về năng lực cán bộ tư pháp nói chung cũng như của  Toà án nói riêng và cũng như hệ thống pháp luật hiện nay thì việc Hiến pháp nước ta giao cho VKS có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là hoàn toàn đúng đắn.

a. Căn cứ pháp lý

Điều 280 BL TTHS năm 2003 quy định những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm “phiên toà giám đốc thẩm phái có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp”.

Cũng như tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, tại phiên toà giám đốc thẩm, sự có mặt của Kiểm sát viên là bắt buộc. Nếu tại phiên toà giám đốc mà không có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp thì phiên toà không được tiến hành (bao gồm phiên toà giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh, Uỷ ban thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân sự trung ương, Toà hình sự TAND tối cao; Toà án quân sự trung ương; Hội đồng thẩm phán TAND tối cao).

Khoản 3 Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát khi tham gia phiên toà giám đốc thẩm “phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án tại phiên toà giám đốc thẩm”…

Cụ thể hoá các điều luật nêu trên; Điều 56 Quy chế số 960/QĐ-VKSTC quy định về việc tham gia phiên toà giám đốc thẩm “Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên tham gia phiên toà giám đốc thẩm cùng cấp”.

b. Phân công người tham gia phiên toà giám đốc thẩm

Như phần trên đã đề cập, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc phân công người tham gia phiên toà giám đốc thẩm thuộc phần mình phụ trách. Phân công có thể theo từng vụ án hoặc phân công thường xuyên. Ví dụ Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có thể phân cấp cho Kiểm sát viên Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự tham gia các phiên toà giám đốc thẩm; Viện trưởng VKSND tối cao phân công Kiểm sát viên thuộc Vụ THQCT & KSXX án hình sự tham gia phiên toà giám đốc thẩm của Toà hình sự TAND tối cao và Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Tuy nhiên Viện trưởng, Phó Viện trưởng phụ trách khối có thể tham gia phiên toà giám đốc thẩm bất kỳ vụ án nào nếu thấy cần thiết.

c. Tham gia phiên toà giám đốc thẩm

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát tại phiên toà giám đốc thẩm, Kiểm sát viên được phân công cần tiến hành các thao tác nghiệp vụ cụ thể:

- Kiểm tra, soát xét các công việc. Theo quy định tại Điều 283 Bộ luật TTHS thì “Phiên toà giám đốc thảm phải được tiến hành trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày nhận được  kháng nghị”. Đây là thời hạn tương đối dài so với xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. (Thời hạn xét xử sơ thẩm từ 1 tháng đến 3 tháng- Điều 176 Bộ luật TTHS và thời hạn xét xử phúc thẩm từ 2 tháng đến 3 tháng- Điều 242 Bộ luật TTHS). Với thời gian như vậy, nếu Kiểm sát viên không tiếp tục kiểm tra, nghiên cứu, xem xét lại chứng cứ, tài liệu có liên quan đến kháng nghị, kết luận thì khi tham gia phiên toà sẽ gặp nhiều khó khăn, việc bảo vệ kháng nghị hoặc quan điểm của Viện kiểm sát trong kết luận sẽ gặp nhiều trở ngại. Đó là chưa đề cập đến các tài liệu mới phát sinh như ý kiến của đương sự tiếp tục đưa ra các tình tiết mới, dư luận báo chí phản ánh về vụ án…

  Khi có lịch phiên toà, Kiểm sát viên cần kiểm tra lại các tài liệu, chứng cứ vụ án; kiểm tra, rà soát bản kháng nghị, kiểm tra lại bản phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà giám đốc thẩm.

 Việc kiểm tra, soát xét các công việc chuẩn bị sẽ giúp cho Kiểm sát viên hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà giám đốc thẩm. Nếu qua kiểm tra mà phát hiện các thông tin mới về vụ án (như đương sự có đưa thêm các tài liệu có ý nghĩa bào chữa cho bị cáo, các bài báo đề cập đên các chứng cứ gỡ tội cho bị cáo…) thì Kiểm sát viên nghiên cứu, đối chiếu với các tình tiết khác của vụ án để chuẩn bị phát biểu tại phiên toà. Trường hợp Kiểm sát viên phát hiện các tài liệu mới có ý nghĩa chứng minh về buộc tội hoặc gỡ tội khác với trước đây (khi báo cáo Lãnh đạo Viện) thì nhất thiết phải báo cáo Lãnh đạo Viện cho ý kiến.

        - Kiểm sát viên tham gia phiên toà giám đốc thẩm. Thủ tục tại phiên toà giám đốc thẩm đã được quy định tại khoản 2 Điều 282 BL TTHS: “Tại phiên toà, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên của Hội đồng giám đốc phát biểu ý kiến và đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”.

+ Thực hành quyền công tố tại phiên toà. Thông thường, tại phiên toà giám đốc thẩm của TAND tối cao, thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án là Chánh Toà hình sự thuộc TAND tối cao (vụ án do Hội đồng thẩm phán TAND tối cao) hoặc là Thẩm phán của Toà hình sự TAND tối cao (vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà hình sự TAND tối cao). Sau đó các thành viên Hội đồng xét xử phát biểu ý kiến. Tiếp đến là Kiểm sát viên trình bày bản quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án.

 Trong quá trình nghe các thành viên Hội đồng xét xử và những người có liên quan phát biểu, Kiểm sát viên chú ý ghi chép đầy đủ và đối chiếu với các tình tiết của vụ án để xem xét có cần sửa đổi, bổ sung bản phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát hay không.

Trình bày quan điểm của Viện kiểm sát. Khi phát biểu quan điểm về vụ án, Kiểm sát viên chú ý không nên đọc nguyên văn bản dự thảo đã được chuẩn bị mà phải lập đề cương phát biểu tại phiên toà. Bản đề cương, ngoài việc phân tích, đánh giá về tính chất vụ án và lập luận về lý do kháng nghị của Viện kiểm sát, cần có nhận xét, đánh giá về sự đồng ý hay không đồng ý đối với các ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử. Đối với kháng nghị của Toà án, phải nêu lý do nhất trí hay không nhất trí với kháng nghị. Khi nêu lý do, cần có phân tích đánh giá các căn cứ kháng nghị của Toà án có phù hợp  với quy định theo Điều 272 và Điều 273 Bộ luật TTHS hay không ?

 Quan điểm của Viện kiểm sát thể hiện tại phiên toà phải được lưu hồ sơ kiểm sát xét xử giám đốc thẩm. Trên cơ sở các tài liệu của vụ án và ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên chú ý đối đáp, tranh luận với những ý kiến, quan điểm của các thành viên Hội đồng xét xử mà Kiểm sát viên xét thấy các ý kiến ấy không đúng với các tình tiết về đánh giá chứng cứ cũng như quan điểm về áp dụng pháp luật, đường lối xét xử…Đối đáp, tranh luận của kiểm sát viên là nhằm làm sáng tỏ sự thật vụ án và bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát trong kháng nghị cũng như kết luận, giúp Hội đồng xét xử xem xét một cách đầy đủ, đúng đắn và toàn diện về vụ án. Khi tham gia phiên toà giám đốc thẩm, Kiểm sát viên cần lưu ý chỉ phát biểu quan điểm về những vấn đề Viện trưởng đã cho ý kiến. Nếu phải thay đổi cơ bản quan điểm đã được Viện trưởng cho ý kiến thì đề nghị hoãn phiên toà để báo cáo Viện trưởng xem xét, quyết định.  

+ Thực hiện nhiệm vụ kiểm sát phiên toà giám đốc thẩm. Điều 57 Quy chế sô 960/2007/QĐ-VKSTC quy định về công tác kiểm sát xét xử tại phiên toà giám đốc thẩm. Theo đó, khi tham gia phiên toà giám đốc thẩm, ngoài nhiệm vụ bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án, Kiểm sát viên cần chú trọng thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật về các trình tự, thủ tục giám đốc thẩm. Bao gồm: kiểm sát về thời hạn xét xử của Toà án (Điều 283 bộ luật tố tụng hình sự quy định là 4 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị Toà án phải mở phiên toà giám đốc thẩm). Kiểm sát về việc triệu tập người tham gia phiên toà (nếu có). Tại khoản 2 Điều 282 Bộ luật TTHS quy định về việc trình bày ý kiến của những người được triệu tập: “Nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ít khi (nói chính xác hơn là chưa có trường hợp nào mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm triệu tập những người có liên quan. Có một vài trường hợp, Chánh án TAND tối cao có mời đại diện lãnh đạo bộ, ngành có liên quan đến công tác quản lý đến phát biểu ý kiến về công tác quản lý thuộc lĩnh vực quản lý của bộ, ngành có liên quan.

Ví dụ, vụ án Trần Quốc Tuấn, nguyên Giám đốc Kho bạc và một số bị cáo bị truy tố về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng tại tỉnh Hậu Giang. Vụ án này do Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm với hướng đề nghị huỷ án và đình chỉ xétử đối với những người nguyên là cán bộ kho bạc. Vụ án đã được Hội đồng thẩm phán TAND tối cao họp nhiều lần nhưng vì phức tạp về đánh giá chứng cứ. Chánh án TAND tối cao đã mời lãnh đạo các ngành Tài chính, Kho bạc đến phát biểu ý kiến về trách nhiệm của các bị cáo. Chúng tôi thấy đây là việc làm rất thận trọng của TAND tối cao khi xem xét, đánh giá chứng cứ vụ án, bảo đảm vụ án được giải quyết chính xác.

 Kiểm sát về thành phần Hội đồng xét xử (Điều 281 Bộ luật TTHS). Kiểm sát về việc điều khiển phiên toà của Chủ toạ phiên toà về trình tự pháp luật quy định (Điều 282 BLTTHS). Kiểm sát việc biểu quyết của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm và việc ra quyết định giám đốc thẩm; gửi quyết định giám đốc thẩm.

Về biểu quyết của Hội đồng xét xử, theo quy định tại điều 250 Bộ luật TTHS năm 1988, quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán phải được quá nửa số thành viên tán thành thì mới có giá trị. Quy định như vậy sẽ là bất hợp lý và khó thực hiện trong trường hợp không có đủ số thành viên của Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán tham gia xét xử mà biểu quyết lại theo tổng số thành viên. Có trường hợp vì quy định này mà vụ án không giải quyết được, khi số phiếu biểu quyết có thể quá nửa số thành viên tham gia xét xử giám đốc nhưng không thể quá nửa số thành viên Uỷ ban hoặc Hội đồng.

Khoản 2 Điều 281 Bộ luật TTHS năm 2003 thì, tại phiên toà giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh, cấp quân khu, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao khi biểu quyết về nội dung kháng nghị phải biểu quyết theo trình tự những ý kiến đồng ý với kháng nghị, những ý kiến không đồng ý với kháng nghị. Nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán biểu quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà thì Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán phải mở phiên toà xét xử lại vụ án với sự tham gia của toàn thể các thành viên. Đây là quy định mới của Bộ luật TTHS năm 2003 so với Bộ luật TTHS năm 1988.

Những việc làm của Kiểm sát viên sau phiên toà giám đốc thẩm:

Theo quy định tại Điều 285 Bộ luật TTHS về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm thì quyết định của Hội đồng giám đốc có liên quan đến trách nhiệm của VKS. Trường hợp Hội đồng giám đốc không chấp nhận kháng nghị hoặc huỷ án, quyết định có hiệu lực và đình chỉ vụ án thì Kiểm sát viên thông báo cho người thông báo vi phạm biết. đồng thời thông báo rút kinh nghiệm cho các Viện kiểm sát địa phương biết. Trường hợp Hội đồng giám đốc huỷ án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra hoặc xét xử lại thì Kiểm sát viên phải làm các thủ tục để chuyển hồ sơ vụ án đến các cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Các trường hợp trên đây Kiểm sát viên phải có thông báo kết quả giám đốc thẩm cho các Viện kiểm sát địa phương biết rút kinh nghiệm.

 Điều 58 Quy chế số 960/2007 quy định, Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo đơn vị và Lãnh đạo Viện kết quả xét xử giám đốc thẩm; thông báo kết quả xét xử giám đốc thẩm cho các Viện kiểm sát đã tham gia xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án biết. Những vụ án mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát (từng phần hay toàn bộ), Kiểm sát viên đều phải báo cáo đầy đủ lý do và đề xuất ý kiến của Kiểm sát viên đối với phần bị Hội đồng xét xử bác kháng nghị.

 Đối với những vụ án bị huỷ để điều tra lại, Kiểm sát viên cần chuyển ngay hồ sơ vụ án đến đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra cùng cấp để giải quyết theo thẩm quyền (hướng dẫn điều tra lại, kiểm tra việc thực hiện và quyết định các vấn đề liên quan đến giam giữ bị án).

PHẦN HAI

BẢN CHẤT THỦ TỤC TÁI THẨM, kỸ nĂng thỰc hành quyỀn công tỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG TÁI THẨM

I. Khái niệm về thủ tục tái thẩm trong TTHS

Tái thẩm là giai đoạn đặc biệt của TTHS, trong giai đoạn này, Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó.

Tương tự như thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm trong tố tụng hình sự nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Tuy nhiên, tính chất của thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm có sự khác nhau căn bản: thủ tục giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án; còn thủ tục tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện được có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. Thủ tục tái thẩm chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì mới phát hiện được có tình tiết mới mà tình tiết mới này có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đó.

Trong những trường hợp sau đây, không được coi là tình tiết mới để áp dụng thủ tục tái thẩm: (i) trường hợp mặc dù phát hiện có tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc quyết định, nhưng tình tiết đó đã được phát hiện trước khi Tòa án ra bản án, quyết định mà Tòa án không áp dụng tình tiết đó khi ra bản án, quyết định; (ii) tình tiết tuy được phát hiện sau khi Tòa án đã ra bản án, quyết định, nhưng bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật, mà Tòa án đã không áp dụng tình tiết đó khi ra bản án, quyết định hoặc không được Tòa án khắc phục trước khi bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện có tình tiết mới, nhưng tình tiết mới này không làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, thì cũng không áp dụng thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đó.

Có thể nhận thấy, trong thủ tục tái thẩm, Tòa án không tiến hành xét xử lại vụ án mà chỉ tiến hành xem xét, đối chiếu bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án với những tình tiết khách quan của vụ án và quy định của pháp luật để xem xét bản án hoặc quyết định bị kháng nghị đó có căn cứ và hợp pháp hay không. Qua việc xem xét, đánh giá, nếu thấy việc kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là có căn cứ thì Hội đồng tái thẩm cũng không có thẩm quyền sửa bản án hoặc quyết định đó mà chỉ có thẩm quyền hủy bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại hoặc hủy bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án. 

Theo quy định tại Điều 290 Bộ luật TTHS, “Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó”.

Như vậy, tình tiết mới được coi là cơ sở để kháng nghị tái thẩm khi tình tiết ấy có hai điều kiện:

Thứ nhất, tình tiết ấy có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luât. Vậy hiểu thế nào là “làm thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc quyết định…”. Làm thay đổi cơ bản nội dung bản án là bản án ấy có sư thạy đổi về chất so với trước đây. Thay đổi về chất được hiểu là thay đổi về tội danh, về người phạm tội, về áp dung pháp luật. Ví dụ: bị cáo A lái xe ôtô gây tai nạn chết người nhưng sau đó đã bàn với B (người ngồi bên cạnh có bằng lái xe) là B nhận tội. Còn A ở ngoài sẽ lo các thủ tục cho B. Vụ án được truy tố, xét xử và Toà án đã tuyên phạt tù đối với B. Nhưng sau đó, A không giữ lời hứa như thoả thuân (A phải lo cho B không bi xét xử) nên B đã tố cáo hành vi phạm tội của A. Trong trường hợp này, tình tiết về lời khai của A và B không đúng sự thật nên đã làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án: A là nhân chứng trở thành bị cáo, B không phạm tội như bản án kết luận mà có thể là bị cáo của hành vi phạm tội theo Điều 307 BLHS về khai báo gian dối…

 Nếu tình tiết ấy không làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án thì không thể lấy đó làm cơ sở để xem xét tái thẩm. Ví dụ: A bị Hội đồng xét xử tuyên phạt 2 năm tù về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 BLHS. Bản án sơ thẩm có hiệu lực thì B là bị hại có đơn yêu cầu xét xử A theo khoản 2 Điều 104 vì A đã dùng gậy đánh B. Trước đây B khai A dùng tay đánh nhưng nay xin khai lại là A dùng gậy đánh và B có xuất trình khúc gỗ mà A đã dùng để đánh B. Trong trường hợp này, nếu có căn cứ A dùng gậy đánh B (phải điều tra lại) thì mức án cũng chi 2 năm tù và tội danh vẫn như bản án đã tuyên. Như vậy, đây là tình tiết mới, nhưng tình tiết ấy không làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án.

Thứ hai, tình tiết ấy Toà án không biết khi ban hành bản án hoặc quyết định. Đây là điều kiện quan trọng mà trong thực tiễn chúng ta hay nhầm lẫn. Tình tiết mới ở đây theo đúng nghĩa là Toà án (hay nói rộng ra là quá trình điều tra, truy tố và xét xử) không phát hiện tình tiết này. Ví dụ trên đây, A và B khai báo gian dối làm cho quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án không biết. Nếu các tình tiết ấy mà quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra nhưng không kết luận được (ví dụ bị cáo A bị xét xử về hành vi hiếp dâm trẻ em, có nhân chứng khai bị hại đã 17 tuổi nhưng Toà án căn cứ vào lời khai của mẹ bị hại nên vẫn kết luận nạn nhân là trẻ em), nhưng sau đó bị cáo đã cung cấp tài liệu xác định nạn nhân đã 17 tuổi); hoặc quá trình điều tra, truy tố xét và xét xử do đánh giá không đúng tính chất nên đã kết luận sai với thực tế khách quan (ví dụ bị cáo C bị truy tố xét xử về tội theo điều 104 BLHS. Sau khi án có hiệu lực, bị báo C khiếu nại việc C có hành vi đánh B vì nguyên nhân B đã uống rượi và chửi thậm tệ C giữa đám đông, sau đó đã vô cớ dùng tay tát C nên C mới đánh lại B. Trong trường hợp này rất có thể C chỉ có hành vi phạm tội theo Điều 105 BLHS về tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, nhưng do bản án chưa đánh giá đúng tính chất của hành vi chửi và dùng tay tát váo mặt C của B nên đã áp dụng sai quy định của BLHS). Các trường hợp trên đây không phải là tình tiết mới, mà ở đây, các cơ quan chức năng chưa làm hết trách nhiệm hoặc do đánh giá không đúng tính chất, mức độ nên đã có kết luận không chính xác. Do vậy, trong các trường hợp này, nếu có xem xét thì chỉ được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

II. Quy định về thủ tục tái thẩm theo pháp luật một số nước trên thế giới

  1. Thủ tục tái thẩm hình sự theo quy của pháp luật TTHS Liên bang Nga.

Về căn cứ để xem xét lại bản án. quyết định của Toà án theo thủ tục giám đốc thẩm, được pháp luật quy định khi những tình tiết mới được phát hiện hoặc có những tình tiết mới.

Những tình tiết mới được phát hiện là những tình tiết sau đây:

+ Việc khai báo gian dối của người bị hại hoặc người làm chứng; kết luận giám định gian dối; vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động xét xử và những tài liệu khác là giả mạo hoặc việc dịch gian dối dẫn đến việc ra bản án, quyết định trái pháp luật, không có căn cứ hoặc không công bằng.

+ Sau khi có bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật mới phát hiện được Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán đã cố ý làm cho bản án, quyết định trái pháp luật, không có căn cứ hoặc không công bằng.

 Những tình tiết mới là những tình tiết loại trừ tội phạm và tính phải chịu hình phạt của hành vi mà Toà án không biết được ở thời điểm ra bản án, quyết định, bao gồm những tình tiết sau đây:

+ Toà án Hiến pháp Liên bang Nga xác định rằng luật được áp dụng trong vụ án đó không phù hợp với Hiến pháp Liên bang Nga.

+ Toà án Châu Âu về quyền con người xác định rằng có vi phạm những quy định của Công ước bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản khi Toà án Liên bang Nga xét xử vụ án hình sự liên quan tới: Việc áp dụng Luật Liên bang không phù hợp với các quy định của Công ước bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản; những vi phạm các quy định của Công ước bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản của con người.

+ Những tình tiết mới khác như quyết định của Toà án, quyết định của Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Điều tra viên về việc đình chỉ vụ án do đã hết thời hiệu, do có văn bản đại xá hoặc đặc xá, do bị can chết hoặc do người chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về chủ thể có quyền khángnghị tái thẩm. Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định Viện kiểm sát có quyền kháng nghị yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục tái thâmả. Bộ luật TTHS Liên bang Nga cũng quy định những thông tin của các cá nhân, tổ chức hoặc những thông tin thu thập được trong quá trình điều tra, xét xử những vụ án khác cũng có thể là căn cứ để tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục tái thẩm.

Về thủ tục Kiểm sát viên thẩm tra, xác minh tái thẩm được quy định như sau: Khi nhận được thông báo về căn cứ tái thẩm, Kiểm sát viên ra quyết định tiến hành tái thẩm và tiến hành thẩm tra, xác minh để xác định rõ căn cứ tái thẩm. Qúa trình thẩm tra, điều tra nếu xác định có căn cứ tái thẩm, Kiểm sát viên xây dựng bản kết luận về sự cần thiết tiến hành thủ tục tái thẩm và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án, bản kết luận và các tài liệu liên quan đến việc thẩm tra, điều tra đến Toà án có thẩm quyền. Trường hợp qua thẩm tra, điều tra không xác định được căn cư tái thẩm, Kiểm sát viên ra quyết định đình chỉ việc tiến hành tái thẩm. Quyết định đình chỉ việc tiến hành tái thẩm của Kiểm sát viên có thể bị kháng cáo đến Toà án có thẩm quyền.

 Đồng thời, Bộ luật TTHS Liên bang Nga cũng quy định thủ tục đặc biệt áp dụng đối với trường hợp khi căn cứ tái thẩm là quyết định của Toà án Hiến pháp Liên bang Nga về việc pháp luật áp dụng đối với vụ án không phù hợp với Hiến pháp Liên bang Nga hoặc quyết định của Toà án Châu Âu về quyền con người xác định bản án có vi phạm các quy định các quy định của Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người thì trên cơ sở đề nghị của Chánh án Toà án tối cao Liên bang Nga, Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao Liên bang Nga tiến hành xét xử lại bản án, quyết định cho phù hợp với phán quyết của Toà án Hiến pháp Liên bang Nga hoặc phán quyết của Toà án Châu Âu về quyền con người.  

Về thời hạn kháng nghị tái thẩm: Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án không bị hạn chế về thời gian, kể cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà việc tái thẩm nhằm minh oan cho họ. Việc kháng nghị theo hướng bất lợi đối với người bị kết án (kháng nghị đối với bản án tuyên bị cáo vô tội, quyết định đình chỉ vụ án hoặc kháng nghị về mức hình phạt trong bản án quá nhẹ so với hành vi của người bị kết án...) được tiến hành khi thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đó vẫn còn và việc xem xét theo trình tự tái thẩm phải được tiến hành trong thời hạn 1 năm kể từ ngày phát hiện được những tình tiết là căn cứ của tái thẩm.

Về thẩm quyền tái thẩm: Toà án quận có thẩm quyên giải quyết kết luận của Kiểm sát viên về sự cần thiết phải tiến hành tái thẩm đối với ản án, quyết định của Thẩm phán hoà giải.

Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao các nước cộng hoà, Toà án vùng hoặc khu vực, Toà án thành phố trực thuộc Liên bang Nga, Toà án vùng hoặc khu tự trị giải quyết kết luận của Kiểm sát viên về sự cần thiết phải tiến hành tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án quận.

 Uỷ ban Thẩm phán về các vụ án hình sự Toà án tối cao Liên bang Nga giải quyết kết luận của Kiểm sát viên về sự cần thiết phải tiến hành tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án tối cao nước cộng hoà, Toà án vùng hoặc khu vực, Toà án thành phố trực thuộc liên bang, Toà án vùng hoặc khu vực tự trị.

 Uỷ ban thẩm phán Toà phúc thẩm Toà án tối cao Liên bang Nga giải quyết kết luận của Kiểm sát viên về sự cần thiết phải tiến hành tái thẩm đối với bản án, quyết định của Uỷ ban Thẩm phán về các vụ án hình sự hoặc của Uỷ ban Thẩm phán quân sự Toà án tôi cao Liên bang Nga nếu đó là bản án, quyết định sơ thẩm.

 Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao Liên bang Nga giải quyết kết luận của Kiểm sát viên về sự cần thiết phải tiến hành tái thẩm đối với quyết định của Uỷ ban thẩm phán phúc thẩm Toà án tối cao Liên bang Nga cũng như quyết định của Uỷ ban thẩm phán về các vụ án hình sự hoặc của Uỷ ban Thẩm phán quân sự Toà án tối cao Liên bang Nga nếu đó là bản án, quyết định phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.

 Toà án quân sự vùng (hạm đội) giải quyết kết luận của Kiểm sát viên về sự cần thiết phải tiến hành tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án quân sự khu vực.

 Uỷ ban Thẩm phán quân sự Toà án tối cao Liên bang Nga giải quyết kết luận của Kiểm sát viên về sự cần thiết phải tiến hành thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án quân sự cấp vùng (hạm đội.

 Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định Toà án đã giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm vẫn có thể giải quyết vụ án theo thủ tục tái thẩm.

 Về thời hạn và phạm vi xét xử tái thâm: Bọ luật TTHS quy định phiên toà tái thẩm phải được tiến hành trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày ra quyết định sơ bộ. Trương hợp vụ án do Toà án tối cao Liên bang Nga xét xử tái thẩm thì thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định sơ bộ.

Về thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm: Hội đồng tái thẩm ó thẩm quyền quyết định:

 - Gĩư nguyên bản án, quyết định.

- Huỷ bản án, quyết định của Toà án và trả lại vụ án để tiến hành xét xử lại.

- Huỷ bản án, quyết định của Toà án và đình chỉ vụ án.

 2. Thủ tục tái thẩm hình sự theo quy định của pháp luật TTHS Cộng hoà Liên bang Đức.

 Về căn cứ  để xem xét lại bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục tái thẩm.

 Bộ luật TTHS Cộng hoà Liên bang Đức phân thành hai nhóm căn cứ kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, bao gồm; căn cứ kháng cáo, kháng nghị tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án và căn cứ kháng cáo, kháng nghị theo hướng bất lợi đối với người bị kết án.

 Kháng cáo, kháng nghị tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án được Bộ luật TTHS quy định bao gồm các căn cứ: Nếu tài liệu gốc bất lợi cho người bị kết án tại phiên xử la sai lầm hoặc bị làm giả; Nếu nhân chứng hoặc chuyên gia giám định khi đưa ra lời khai hoặc quan điểm bất lợi cho người bị kết án, có lỗi do cố tình hoặc sơ ý vi phạm trách nhiệm của lời tuyên thệ; nếu Thẩm phán hoặc Hội thẩm tham gia soạn thảo phán quyết có lỗi về một vi phạm trách nhiệm công vụ liên quan đến vụ án, trừ khi vi phạm do chính người bị kết án gây ra; Nếu phán quyết của Toà án dân sự làm căn cứ cho phán quyết  hình sự bị huỷ bỏ bởi một phán quyết khác có hiệu lực pháp luật; Nếu các tình tiết hoặc chứng cứ được tạo lập một cách độc lập hoặc có liên quan đến chứng cứ đã thu thập trước đây có chiều hướng hỗ trợ sự vô tội của bị cáo hoặc cho thấy việc cần áp dụng một chuẩn mực pháp lý hình sự ít nghiêm trọng hơn, một hình phạt nhẹ hơn hoặc một quyết định khác một cách cơ bản về biện pháp cải tạo và ngăn chặn; Nếu Toà án Châu Âu về nhân quyền phát hiện có vi phạm Công ước hoặc các nghị định thư của Châu Âu về bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản và nếu phán quyết được dựa trên sự vi phạm này.

Kháng cáo, kháng nghị theo hướng bất lợi đối với người bị kết án được Bộ luật TTHS quy định bao gồm các căn cứ: Nếu tài liệu gốc liên quan tới lợi ích của người bị kết án được xuất trình tại phiên xét xử là sai lầm hoặc bị làm giả; nếu nhân chứng hoặc chuyên gia giám định đưa ra lời khai hoặc quan điểm bất lợi cho người bị kết án với lỗi cố ý hoặc vô ý vi phạm trách nhiệm của lời tuyên thệ hoặc cố tình tạo ra một tuyên bố sai, không được tuyên thệ; Nếu Thẩm phán hoặc Hội thẩm có lỗi trong thực hiện công vụ liên quan đến vụ án, trừ khi vi phạm do chính người bị kết án gây ra; Người được tuyên vô tội đưa ra lời thú tội đáng tin cậy tại trụ sở Toà án hoặc bên ngoài trụ sở Toà án.

 Về chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị tái thẩm: Bộ luật TTHS quy định người bị kết án, người bào chữa, người đại diện theo pháp luật của người bị kết án có quyền kháng cáo  theo thủ tục tái thẩm. Trường hợp người bị kết án đã chết mà cần tái thẩm để minh oan cho người này thì vợ, chồng, anh, chị, em của người chết có quyền yêu cầu mở thủ tục tái thẩm. Kháng cáo có thể được trình bày bằng văn bản hoặc bằng lời. Kháng cáo bằng văn bản được trình bày theo mẫu, có chữ ký của luật sư hoặc người bào chữa. Kháng cáo bằng lời phải được Thư ký Toà án ghi âm lại.

Cơ quan công tố có quyền kháng nghị tái thẩm. Nội dung đơn kháng cáo, kháng nghị phải nêu rõ các căn cứ pháp luật để mở thủ tục tái thẩm và các tài liệu, chứng cứ có liên quan nhằm làm rõ các căn cứ đó.

 Về thẩm quyền tái thẩm: Luật TTHS Cộng hoà Liên bang Đức quy định Toà án có thẩm quyền tái thẩm là Toà án ngang cấp với Toà án đã ra phán quyết bị khiếu nại.

Về giải quyết kháng cáo, kháng nghị theo theo thủ tục tái thẩm. Sau khi nhận được kháng cáo, kháng nghị tái thẩm, Toà án thẩm tra nội dung đơn kháng cáo, kháng nghị. Kháng cáo, kháng nghị sẽ không được Toà án chấp nhận nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Kháng cáo, kháng nghị không thực hiện đứng quy định của pháp luật về hình thức, không viện dẫn được căn cứ mở thủ tục tái thẩm hoặc không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho căn cứ đưa ra.

- Tài liệu, chứng cứ, lý lẽ không đủ để chứng minh cho căn cứ đưa ra.

- Đề nghị tái thẩm nhằm mục đích áp dụng một hình phạt khắc dựa trên quy phạm pháp luật hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt để giảm bớt trách nhiệm hình sự theo ĐIỀu 21 BLHS, các yêu cầu khác không dựa trên cơ sở lợi ích của người bị kết án. Qua thẩm tra, xét thấy nội dung đơn kháng cáo, kháng nghị đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về nội dung, hình thức và mục đích, Toà án sẽ tống đạt kháng cáo, kháng nghị cho bên đối tụng để bên đối tụng đưa ra ý kiến phản hồi. Đồng thời, Toà án ban hành quyết định mở thủ tục tái thẩm và tiến hành các thủ tục cho việc chuẩn bị mở phiên toà chính thức.

 Vê phạm vi xét xử tái thẩm: Bộ luật TTHS Liên bang Đức quy định mục đích và phạm vi của tái thẩm là chỉ nhằm xem xét lại các tình tiết thực tế của bản án, không nhằm mục đích sửa đổi sai lầm về áp dụng pháp luật. Do vậy, xé xử ái thẩm chỉ tiến hành trong phạm vi xem xét các tình tiết thực tế của bản án. Tuy nhiên, Luật TTHS cũng quy định khi một đạo luật của Nghị viện bị tuyên bố là không hợp hiến hoặc xẩy ra tình huống cố ý áp dụng sai luật thì vụ án có thể được tái thẩm với những căn cứ là do sai lầm của pháp luật. Trong trường hợp này, thủ tục tái thẩm có thể được tiến hành dù có lợi hay bất lợi cho người bị kết án.

Về thẩm quỳen của Hội đồng tái thẩm: Hội đồng tái thẩm có thẩm quyền ra quyết định

- Gĩư nguyên bản án đã có hiệu lực pháp luật.

- Huỷ bỏ bản án đã có hiệu lực pháp luật và ra bản án mới dựa trên nội dung vụ án. Nếu việc tái thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo thì bản án thứ hai không được nặng hơn bản án trước.

- Huỷ bỏ bản án đã có hiệu lực pháp luật, tuyên bố không có tội và trả tự do cho người bị kết án. Nếu thủ tục được mở trên cơ sở kháng nghị tái thẩm của Cơ quan Công tố thì việc trả tự do cho người bị kết án cần được sự chấp nhận từ phía Cơ quan Công tố.  

3. Thủ tục tái thẩm hình sự theo quy định của pháp luật TTHS Cộng hoà Pháp.

Về căn cứ để xem xét lại bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục tái thẩm: Bộ luật hình sự Cộng hoà Pháp phân chia tội phạm thành 3 loại tội: tội vi cảnh, khinh tọi và trọng tội. Thủ tục tái thẩm chỉ đặt ra đối với khinh tội và trọng tội.

 

 

 Tại Điều 622 Bộ luật TTHS cỘNG HOÀ Pháp quy định vì lợi ích của người bị kết án về trọng tội hoặc khinh tội, bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ sau:

- Sau khi có bản án kết tội bị cáo về tội giết người mà phát hiện thấy nạn nhân vẫn còn sống.

- Sau khi bị cáo bị kết án lại có văn bản mới kết tội bị cáo khác về cùng một vụ việc nhưng hai bản án này mâu thuẫn nhau.

- Sau khi kết thúc việc xét xử, một người làm chứng trong vụ án bị truy tố và xử phạt về tội làm chứng gian dối với bị cáo.

 - Sau khi kết thúc xét xử, phát hiện được chứng cứ mới mà chững cứ này đã không được đưa ra phiên toà để xét xử. Pháp luật quy định chứng cứ mới phát hiện được chấp thuận để mở thủ tụ tái thẩm khi có sự nghi ngờ nghiêm trọng về việc buộc tội và cho thấy sự vô tội của bị cáo.

 Về chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị tái thẩm: Bộ luật TTHS Cộng hoà Đức quy định Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm. Các chủ thể có quyền kháng cáo tái thâm bao gồm: Người bị kết án, người đại diện hợp pháp của người bị kết án (trong trường hợp người bị kết án không có đủ năng lực hành vi); vợ hoặc chồng, con, cha mẹ, người được di tặng một phần hoặc toàn bộ tài sản của ngừôi bị kết án, người được người bị kết án uỷ quyền trước đó nếu người bị kết án đã chết hoặc bị tuyên bố mất tích.

Về thẩm quyền tái thẩm: Luật TTHS Cộng hoà pháp quy định chủ thể duy nhất có thẩm quyền tái thẩm là Toà hình sự Toà án tối cao.

 Về thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục tái thâm: Sau khi nhận được dơn kháng cáo, kháng nghị, Toà án thành lập một Hội đồng thẩm tra đơn kháng cáo, kháng nhị. Hội đồng thẩm tra gồm 5 Thẩm phán thuộc Toà phá án. Một thành viên của Hội đồng được giao nhiệm vụ nghiên cứu vụ án.  Trường hợp cần điều tra xác minh, bổ sung Hội đồng có thể trực tiếp tiến hành điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, nghe lời khai, tiến hành đối chất...Các bên có thể được trình bày bằng lời tại một phiên xét xử tranh tụng trước sự chứng kiến của 5 thành viên Hội đồng. Pháp luật quy định hồ sơ được chuyển đến cho Viện trưởng Viện công tố và luật sư của bên kháng cáo để họ chuẩn bị bản lập luận riêng.

Trên cơ sở thẩm tra đơn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng có quyền:

- Chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và chuyển vụ án cho Toà hình sự Toà phá án để xét xử. 

- Không chấp nhận kháng cao, kháng nghị. Trong trường hợp này, các chủ thể mất quyền chống án.

Các Thẩm phan đã tham gia thẩm tra đơn kháng cáo, kháng nghị không được tiếp tục tham gia Hội đồng xét xử tái thẩm. Tại phiên toà tái thẩm, Hội đồng nghe người kháng cáo, luật sư bên kháng cáo trình bày lời khai, Viện Công tố phát biểu ý kiến, nguyên đơn dân sự trình bày các vấn đề có liên quan. Trên cơ sở ý kiến của các bên, Hội đồng tái thẩm ra quyết định tái thẩm. Quyết định tái thẩm có giá trị chung thẩm. Các bên không được kháng cáo, kháng nghị tiếp.

Về thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm: trên cơ sở kết quả tại phiên toà, Hội đồng tái thẩm có thẩm quyền quyết định:

- Bác kháng cáo, kháng nghị nếu kháng cáo kháng nghị không có căn cứ.

- Huỷ bản án bị kháng cáo, kháng nghị tái thẩm. Nếu vụ án không thể tiến hành xét xủ lại thì Hội đồng tái thẩm có thể ra phán quyết vè nội dun vụ án.

- Huỷ bản án bị kháng cáo, kháng nghị tái thẩm. Nếu vụ án có thể xét xử lại thì giao vụ án cho một Toà án khác cùng cấp với Toà án đã  ra bản án bị huỷ để xét xử lại.

 

  4. Thủ tục tái thẩm hình sự theo quy định của pháp luật TTHS Nhật Bản.

Về căn cứ: Để xem xét lại bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục tái thẩm, Luật TTHS Nhật Bản quy định hai nhóm căn cứ kháng cáo, kháng nghị tái thẩm:

Thứ nhất: Căn cứ kháng cáo, kháng nghị tái thẩm phán quyết tuyên có tội vì lợi ích của người bị tuyên án, bao gồm:

- Khi ài liệu, đồ vật được sử dụng làm căn cứ trong phán quyết ban đầu được chứng minh bằng một phán quyết có hiệu lực cuối cùng cho rằng tài liệu, đồ vật đó đã bị làm giả hoặc bị thay đổi trước đó.

- Khi lời khai, nhận định, bản dịch viết hoặc nói của chuyên gia được sử dụng làm căn cứ trong phán quyết ban đầu được chứng minh bằng một phán quyết có hiệu lực cuối cùng cho rằng các chứng cứ đó là sai sự thật.

- Khi phán quyết về hành vi của một các nhân là tội phạm được chứng minh bằng một phán quyết có hiệu lực cuối cùng cho rằng việc cáo buộc bị cáo là sai lầm.

- Khi quyết định được sử dụng làm căn cứ trong phán quyết ban đầu bị thay đổi bằng một quyết định khác có hiệu lực cuối cùng.

- Khi phán quyết kết tội một người là xâm phạm bản quyền, giải pháp hữu ích, thiết kế hoặc thương hiệu nhưng quyết đinh tuyên các quyền này là bất hợp pháp có hiệu lực cuối cùng hoặc phán quyết tuyên vô tội đã được đưa ra.

- Khi phát hiện được chứng cứ mới cho thấy một cách chắc chắn là người bị kết án không có tội hoặc có cơ sở để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự người bị kết án.

- Khi phán quyết có hiệu lực cuối cùng xác định tằng Thẩm phán, Công tố viên, Thư ký Công tố viên hoặc cảnh sát tham gia vào việc xuất trình tài liệu chứng minh được sự dụng làm chứng cứ trong phán quyết ban đầu đã có hành vi phạm tội thuộc phạm vi trách nhiệm liên quan đến vụ án mà Toà án không biết được trước khi ra phán quyết.

- Thứ hai: Căn cứ kháng cáo, kháng nghị tái thẩm phán quyết từ chối kháng cáo Koso hoặc jokoku vì lợi ích của người được nhận phán quyết, bao gồm:

- Khi tài liệu, đồ vật được sử dụng làm chứng cứ trong phán quyết ban đầu được chứng minh bởi một phán quyết có hiệu lực pháp luật cuối cùng rằng chứng cứ, tài liệu đó là đã bị làm giả.

- Khi lời khai, nhận định, bản dịch viết hoặc nói của chuyên gia được sử dụng làm căn cứ trong phán quyết ban đầu được chứng minh bằng một phán quyết có hiệu lực cuối cùng cho rằng các chứng cứ đó là sai sự thật

- Khi phán quýet có hiệu lực cuối cùng xác định rằng Thẩm phán trong việc xuất trình tài liệu chứng minh được sử dụng làm chứng cứ trong phán quyết ban đầu đã có hành vi phạm tội thuộc phạm vi trách nhiệm liên quan đến vụ án mà Toà án không biết được trước khi ra páhn quyết.

- Về chủ thể có quyề kháng cáo, kháng nghị tái thẩm: Luật TTHS Nhật bản quy định người bị tuyên có tội; đại diện pháp lý người giám hộ của người bị tuyên là có tội; vợ, chồng, họ hàng trực hệ, anh chị em của người bị tuyên là có tội nếu người này đã chết hoặc không đủ hành vi có quyền kháng cáo tái thẩm.

- Quyền kháng nghị tái thẩm liên quan đến căn cứ Thẩm phán, Công tố viên, Thư ký Công tố viên hoặc cảnh sát có hành vi phạm tội thuộc phạm vi trách nhiệm liên quan đến vụ án nếu việc thực hiện hành vi phạm tội của người nói trên là do người bị kết án xúi dục được Luật TTHS Nhật Bản quy định duy nhất thuộc thẩm quyền kháng nghị tái thẩm của Công tố viên.

 

Về thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục tái thẩm: Luật TTHS Nhật Bản quy định sau khi nhân đwocj đơn kháng cáo, kháng nghị, oà án giao cho một Thẩm phán thẩm tra các tình tiết liên quan đến căn cứ kháng cáo, kháng nghị. Sau khi thẩm tra kháng cáo kháng nghị, Toà án ra các quyết định sau:

- Từ chối kháng cáo, kháng nghị nếu kháng cáo, kháng nghị không có căn cứ, được ban hành không đúng thủ ục pháp luật quy định, ngưưoì ban hành không đúng thủ tục pháp luật quy định, người kháng cáo đã hết quyền yêu cầu.

- Mở phiên toà tái thẩm, đồng thời có thể quyết định hoãn thi hình phạt.

Về thẩm quyền tái thẩm: Luật TTHS  Nhật bản quy định thẩm quyền tái thẩm thuộc về Toà án đã ra phán quyết ban đầu (Điều 348.BLTTHS).

Về thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm: Hội đồng tái thẩm có quyền quyết định:

- Bác kháng cáo, kháng nghị nếu kháng cáo, kháng nghị không có căn cứ.

- Huỷ bỏ phần phán quyết vi phạm luật và lệnh, không thống nhất và ra phán quyết mới nếu một phần phán quyết có vi phạm dẫn đến phán quyết  bất lợi cho bị cáo.

- Huỷ bỏ tố tụng vi phạm luật và lệnh không thống nhất.

III. Quy định về thủ tục tái thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Thủ tục tái thẩm hình sự được quy định tại Chương XXXI, từ Điều 290 đến Điều 300 của Bộ luật TTHS năm 2003, bao gồm những nội dung sau:

1. Thông báo những tình tiết mới.

Theo quy định tại Điều 292 Bộ luật TTHS thì các thông báo về những tình tiết mới được gửi cho Viện kiểm sát và Toà án. Tuy nhiên, Viện trưởng VKS là người có quyền kháng nghị tái thẩm nên nếu Toà án (hoặc các cơ quan tổ chức) nhận được thông báo phải gửi cho Viện trưởng VKS.

Thực tiễn truy tố, xét xử cho thấy, nguồn phát hiện tình tiết mới có rất nhiều dạng. Theo quy định tại Điều 59 Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSND tói cao thì Kiểm sát viên chú ý các nguồn sau đây:

“1. Báo cáo đề xuất kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp;

  2. Đơn đề nghị của người bị kết án, của mọi công dân hoặc kiến nghị của các cơ quan, tổ chức;

  3. Tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng;

  4. Kết quả kiểm tra công tác nghiệp vụ.”

Đối vởi thủ tục giám đốc thẩm, theo quy định tại Điều 274 Bộ luật TTHS, Viện trưởng và Chánh án từ cấp tỉnh trở lên có quyền kháng nghị giám đốc thẩm nên các thông báo được gửi đến Viện trưởng hoặc Chánh án. Thực tiễn cho thấy, nếu người nào (Viện trưởng hoặc Chánh an) nhận được thông báo trước và nếu có điều kiện thì rút hồ sơ nghiên cứu trước, nếu có căn cứ thì quyết định kháng nghị. 

2. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án theo thủ tục tái thẩm.

Theo quy định tại Điều 298 Bộ luật TTHS về thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm (như thẩm quyền của Hội đồng giám đốc) nên phạm vi nghiên cứu hồ sơ vụ án không có giới hạn. Vì vậy, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ, công tác chuẩn bị và thực hành quyền công tố tại phiên toà...xin xem cụ thể tại các phần Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án (trang 72), tổng hợp đánh giá chứng cứ (trang 91) chuẩn bị và thực hành quỳen công tố tại phiên toà (trang123)

 3. Kỹ năng điều tra, xác minh theo thủ tục tái thẩm.

 Việc xác minh các tình tiết mới cũng là điểm khác nhau giữa thủ tục giám đốc thẩm với thủ tục tái thẩm. Đối với thủ tục giám đốc thẩm, luật không quy định việc xác minh, nhưng tại Điều 55 Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC có xác định về việc xác minh theo thủ tục giấm đốc thẩm. Theo đó, trong những trường hợp cần thiết, để làm rõ thêm những chứng cứ bảo đảm cho việc kháng nghị giám đốc chính xác, Kiểm sát viên tiến hành xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm. Như vậy, đối với thủ tục giám đốc, việc xác minh chứng cứ chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết và việc xác minh ấy không cần có quyết định của Viện trưởng. Nếu các căn cứ kháng nghị đã rõ thì không càn phải xác minh. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác minh không chỉ phục vụ cho công tác kháng nghị mà đây cũng là cơ sở để trả lời cho đương sự về việc không kháng nghị, do vậy hầu hết các trường hợp Viện trưởng VKSTC kháng nghị đều phải tiến hành xác minh theo thủ tục giám đốc.

Đối với xác minh theo thủ tục tái thẩm, Bộ luật TTHS quy định chặt chẽ về trình tự, thẩm quyền khi tiến hành việc xác minh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật TTHS, Viện trưởng Viện kiểm sát (từ cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên) có quyền kháng nghị tái thẩm và ra quyết định xác minh những tình tiêt mới.

Như vậy, nếu như việc xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm được tiến hành trong trường hợp khi Viện trưởng xét thấy cần thiết (quy định có tính chất tuỳ nghi) thì trong việc xác minh theo thủ tục tái thẩm đựơc coi là bắt buộc và phải có quyết định của Viện trưởng. Quy định như vậy là xuất phát từ quan niệm tình tiết của thủ tục tái thẩm là hoàn toàn mới, mà khi ra bản án Hội đồng xét xử không phát hiện được. Để có căn cứ tái thẩm, trước hết Viện trưởng phải biết được các tình tiết đó có phải là tình tiết mới hay không và tình tiết đó đã hết thời hiệu kháng nghị chưa? Muốn trả lời câu hỏi trên, bắt buộc Kiểm sát viên phải tiến hành xác minh tái thẩm.

Điều 61 Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC quy định về xác minh tình tiết mới theo thủ tục tái thẩm được thực hiện như sau:

“1. Khi phát hiện có tình tiết mới của vụ án có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó thì Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo ra quyết định xác minh những tình tiết đó.

2. Sau khi có quyết định của Lãnh đạo Viện, Kiểm sát viên tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để có cơ sở kết luận về những tình tiết mới đó.”

Qúa trình xác minh thu thập chứng cứ, tuỳ từng trường hợp cụ thể, Kiểm sát viên có thể: lấy lời khai của người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác; thu thập vật chứng, dựng lại hiện trường, trưng cầu giám định, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình và phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ sơ kiểm sát án hình sự.”

Như vậy, việc điều tra, xác minh theo thủ tục tái thẩm được tiến hành rất cẩn thận, cụ thể. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào các tình tiết đã được thông báo mà tiến hành xác minh. Ví dụ: trong vụ án hiếp dâm trẻ em, có tình tiết mới về xác định tuổi nạn nhân. Trong trường hợp này chỉ xác minh những vấn đề liên quan đên chứng minh tình tiết về độ tuổi của nạn nhân. Như vậy, phạm vi xác minh theo thủ tục tái thẩm tuỳ thuộc vào nội dung các tình tiết mới của vụ án.

Nội dung xác minh tái thẩm như thế nào là tuỳ thuộc vào nội dung thông báo tình tiết mới và năng lực nghiên cứư hồ sơ vụ án. Trên cơ sở nghiên cứu hố sơ vụ án, Kiểm sát viên cần có đánh giá các chứng cứ để xem xét cần xác minh những nội dung gì. Kiểm sát viện  xác định đúng đắn nội dung xác minh vụ án theo thủ tục tái thẩm sẽ là điều kiện quan trọng bảo đảm thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của VKS.

Ví dụ: Vụ án Lê Thị Tuyết Hoa, về tội cướp tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Văn Út Ráo kết hôn với chị Trương Thị Anh từ năm 1993, đến năm 1996, Ráo lại có quan hệ với chị Thạch Thị Diễm Xuân và có một con chung là Nguyễn Thạch Như Quỳnh. Cuối năm 2001, Ráo bỏ đi và quan hệ với chị Đỗ Thị Kim Chi nên Thạch Thị Diễm Xuân đã đi tìm Ráo và chị Chi để đánh ghen.

Khảng 21h ngày 23.10.2001, Thạch Thị Diễm Xuân bắt gặp Ráo chạy xe máy chở chị Chi và Đỗ Thị Yến Ly (cháu của chị Chi). Xuân đã gọi điện về khu nhà trọ báo cho con trai là Lê Quốc Đạt, rủ rê lôi kéo mộ số người đi đánh ghen. Sau đó, Đạt đã cùng Nguyễn Thị Nhơn, Lê Thị Tuyết Hoa, Biên Thị Kim Thuý, Lê Hoàng Hùng, Dũng Nẫu, Trần Văn Điều và Trần Thị Trắc đến gặp Xuân ở quán cà phê Thảo Vy. Khoản 22h 30 phút cùng ngày, Ráo chở chị Chi va cháu Ly về. Cùng lúc đó Xuân, Đạt, Hoa, Thuý xông vào nơi Ráo đang ở. Xuân ngồi lên người và đánh chị Chị. Xuân kêu Nhơn lấy xe máy của Ráo về nhà trước để giao cho mẹ Xuân. Tiếp đó, Xuân, Hoa và Thuý thay nhau dùng kéo cắt 10 vòng vàng của chị Chi. Sau đó, Thuý lột lấy 5 nhẫn vàng của chị Chi. Trước khi ra về, Xuân còn lấy một chiếc quạt hiệu Lodo, Đạt lấy một tivi 14 inch, Thú lấy một chiếc bếp ga, Hùng và Nẫu lấy một điện thoại di động của Ráo.

Sau khi vụ án xẩy ra, Lê Hoàng Hùng bỏ trốn, còn Dũng Nẫu không xác định được địa chỉ. Tại bản án sơ thẩm ngà 27.11.2002, TATP Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt Thạch Thị Diễm Xuân 4 năm tù, Nguyễn Thị Nhơn, Lê Thị Tuyết Hoa, Biên Thị Kim Thuý mỗi bị cáo 3 năm tù; áp dụng Điều 60, Điều 69 BLHS xử phạt Lê Quốc đạt 1 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thư thách 2 năm về tội “Cướp tài sản”.

Ngày 4.12.2002, Thạch Thị Diễm Xuân và Lê Thị Tuyết Hoa có đơn xin giảm hình phạt. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 367/HSPT ngày 24.3.2003, Toà phúc thẩm TATC tại tp Hồ Chí Minh đã y án sơ thẩm đối với Xuân và Hoa. Sau đó Lê Thị Tuyết Hoa có đơn gửi VKSTC trình bày: em gái của chị Hoa là Lê Thị Hết đã lấy tên của mình để khai báo với cơ quan chức năng. Ngày 24.1.2008, Toà hình sự TATC đã có công văn gửi VKSTC đề nghị kháng nghị tái thẩm.

Căn cứ thông báo tình tiết mới của chị Hoa và của Toà hình sự TATC cung cấp, sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án  Lê Thị Tuyết Hoa cùng đồng bọn phạm tội “Cướp tài sản” tại tp Hồ Chí Minh đã được Toà phúc thẩm TATC tại tp Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, thấy cần xác minh để làm rõ các tình tiết mới của vụ án.

Ngày 29.2.2008, Viện trương VKSTC đã có Quyết định số 02/QĐ-VKSTC-V3 về việc xác minh tình tiết mới đối với lý lịch của Lê Thị Tuyết Hoa theo thủ tục tái thẩm. (Nguồn hồ sơ tại VKSTC).

Việc bị cáo phạm tội khai ra tên người khác đang xảy ra ở một số địa phương. Thực tiễn cho thấy, chỉ giải quyết theo thủ tục tái thẩm khi bị cáo khai ra tên người khác. Việc giải quyết theo thủ tục tái thẩm trong trường hợp này không chỉ có ý nghĩa xử lý đúng người đúng tội, không được để lọt tội, mà còn có ý nghĩa không làm oan người vô tội. Ví dụ: Bị cáo A phạm tội trộm cắp tài sản nhưng khai tên là B. Khi bản án có hiệu lực, Cơ quan thi hành án bắt B đi thi hành. Lúc này B khai chưa bao giờ bị Toà án xét xử về tội trộm cắp như bản án tuyên phạt. Như vậy, tình tiết A khai tên B là tình tiết mới cần phải được xác minh để kháng nghị tái thẩm. Việc kháng nghị tái thẩm trong trường hợp này không những để xét xử A đúng người, đúng tội mà còn nhằm khôi phục danh dự cho B.

 Trong trường hợp, bị cáo khai ra tên khác mà qua xác minh không có con người cụ thể như bị cáo khai thì chỉ áp dụng biện pháp đính chính bản án là được. Ví dụ: M phạm tội trộm cắp xe máy. Khi bị bắt, M khai là N. Sai khi vụ án được xét xử và có hiệu lực,  M có thông báo không phải tên N. Qua xác minh thấy M đã khai tên N là có thật Tuy nhiên, tên N là do M tự mạo danh, không có người N thật. Như vậy, trong trường hợp này, M khai tên N là tình tiết mới. Nhưng việc khai tên N không ảnh hưởng đế quyền và nghĩa vụ của con người cụ thể. Trong trường hợp này không cần kháng nghị tái thẩm mà chỉ cần Toà án ra bản án ấy đính chính từ tên N thành tên M là được.

4. Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

a. Về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Theo quy định tại Điều 293 Bộ luật TTHS năm 2003, những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm gồm có:

- Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

- Viện trường Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp dưới.

- Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện.

- Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực.

Như vậy, khác với thủ tục giám đốc thẩm, thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong vụ án hình sự chỉ được Bộ luật TTHS giao cho Viện kiểm sát và trong hệ thống Viện kiểm sát cũng chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND tối cao mới có thẩm quyền này.

Khi thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị phải ra quyết định xác minh tình tiết mới của vụ án. Chỉ khi kết quả xác minh cho thấy tình tiết này là hoàn toàn mới được phát hiện và nó có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền mới kháng nghị.

Bên cạnh việc quy định thẩm quyền kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Bộ luật TTHS năm 2003 còn quy định những người đã kháng nghị theo thủ tục tái thẩm có quyền tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị (Điều 294).

Theo quy định tại khoản 3 Điều 295 Bộ luật TTHS năm 2003, “việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự” . Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Điều 295  Bộ luật TTHS  chỉ quy định về “thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm”, còn thẩm quyền kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự có thực hiện theo quy định của pháp luật về TTDS không? hay vẫn phải tuân theo quy định tại Điều 293 Bộ luật TTHS năm 2003. Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, thẩm quyền kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự cũng phải thực hiện theo quy định của pháp luật TTDS, theo đó Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện (Điều 307 Bộ luật TTDS năm 2004).

 b. Những căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Theo quy định tại Điều 291 Bộ luật TTHS về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì những tình tiết được dùng làm căn cứ để kháng nghị tái thẩm là:

1. Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật;

2.  Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử lại;

3. Vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;

4. Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật.

Đây là bốn căn cứ để xem xét kháng nghị tái thẩm. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy những tình tiết mới thường gặp do những tài liệu trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật, Điều tra viên có kết luận không đúng...Do vậy, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Kiểm sát viên chú ý các nội dung sau

- Tài liệu trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật

Khi nhận được tin báo về những tài liệu trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật thì Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu, xem xét hoàn cảnh các tài liệu ấy khi đưa vào hồ sơ vụ án như thế nào? Người đưa vào hồ sơ vụ án các tài liệu ấy với ý thức cố ý hay vô ý ? Việc phân biệt lỗi cố ý hay vô ý có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người cố ý đưa các tài liệu, đồ vật giả mạo hoặc không đúng sự thật theo BLHS.  

Nhưng vấn đề quan trọng ở đây là, qua nghiên cứu, xem xét các tài liệu, đồ vật ấy Kiểm  sát viên kiểm tra Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có biết đây là các tài liệu, đồ vật bị giả mạo hoặc không đúng sự thật. Những tài liệu đồ vật bị giả mạo hoặc không đúng sự thật đuợc đưa vào hồ sơ vụ án mà cơ quan và người tiến hành tố tụng không biết nên đã có những kết luận không đúng với thực tế khách quan của vụ án, làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của Toà án. Thực tiễn cho thấy, những tài liệu, đồ vật bị giả mạo hoặc không đúng sự thật thường gặp là nhân chứng, bị cáo khai báo không đúng sự thật, làm cho Cơ quan điều tra, VKS, TA không biết nên đã truy tố, xét xử sai với sự thật khách quan.

Ví dụ, vụ án Nguyễn Khanh, về tội vi phạm qquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bô” ở tỉnh Gia Lai. Sáng ngày 5/2/2007, Nguyễn Khanh điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 47V-1815 (chủ xe là Trần Minh Phúc) theo lộ trình từ bến xe thành phố Huế về Gia Lai. Khi Nguyễn Khanh điều khiển xe tới địa điểm thôn Hạ Lòng trên quốc lộ 19 thì đâm vào xe môtô biển kiểm soát 77S8-7212 do Đỗ Thế Quang điều khiển chở Cao Trường Hận chạy ngược chiều làm hai người chết tại chỗ.

 Ngày 14/6/2007, Cơ quan điều tra có kết luận điều tra đề nghị VKS truy tố Nguyễn Khanh về tội theo Điều 202 BLHS. Ngày 20/7/2007, VKS tỉnh Gia lai có cáo trạng truy tố Khanh về tội theo Điều 202 BLHS. Bản án sơ thẩm ngày 25/10/2007 của TA tỉnh Gia Lai, áp dụng điểm đ khoản khoản 2 Điều 202; các điểm b, q khoản 1, 2 Điều 46, 47, 60 BLHS xử phạt Nguyễn Khanh 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 42 thánh.

Ngày 01/1/2007, VKS tỉnh Gia Lai kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm trên đây và đề nghị TA không cho bị cáo Khanh được hưởng án treo. Tại bản án phúc thẩm ngày 26/2/2008, Toà phúc thẩm TAND tại Đà Nẵng đã áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 202; điểm b,q khoản 1+ khoản 2 Điều 47 BLHS  xử phạt bị cáo Nguyễn Khanh 30 tháng tù về tội theo Điều 202 BLHS. Bản án có hiệu lực và Khanh đang thi hành án.

Sau khi án phúc thẩm có hiệu lực, Nguyễn Khanh đã có đơn gửi VKSND tối cao trình bày: trước lúc xẩy ra tai nạn, Nguyễn Khanh giao xe ôtô biển kiểm soát 47V- 1815 cho Dương Công Thành (phụ xe) điều khiển và đâm vào xe môtô biển kiểm soát 77S8-7212 do Đỗ Thế Quang điều khiển và có chở Cao Trường Hận chạy ngược chiều làm 2 người chết tại chỗ. Do Dương Công Thành không có bằng lái nên Nguyễn Khanh đã bàn với chủ xe Trần Minh Phúc và Dương Công Thành để Khanh nhận là người trực tiếp lái xe gây tai nạn.

Sau khi xác minh, làm rõ các tình tiết, có căn cứ xác định Dương Công Thành là người lái xe gây tai nạn chứ không phải Nguyễn Khanh. Ngày 13.11.2008, Viện trưởng VKSTC đã kháng nghị tái thẩm vụ án trên đây, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TATC xét xử theo thủ tục tái thẩm, huỷ bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên để điều tra, xét xử lại theo đúng quy định của phấp luật.

Như vậy, trong vụ án này, Nguyễn Khanh, Dương Công Thành và Trần Minh Đức đã có hành vi khai báo không đúng sự thật mà các cơ quan tố tụng không biết nên đã truy tố, xét xử không đúng với sự thật khách quan của vụ án.

- Người tiến hành tố tụng đã có những giả mạo trong việc thu thập vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng, hoặc các tài liệu khác có giả mạo, làm cho vụ án bị xét xử sai.

Những người tiến hành tố tụng là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân. Qúa trình điều tra, truy tố, xét xử, người tiến hành tố tụng có thể có những vi phạm pháp luật trong việc thu thập chứng cứ, lập biên bản dẫn đến có kết luận không đúng, nên làm cho vụ án bị xử lý sai. Những tình tiết như vật chứng, tài liệu của vụ án bị giả mạo, biên bản các hoạt động tố tụng không đúng sự thật phải do các chức danh tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, hội thẩm nhân dân thực hiện. Việc phân biệt lỗi cố ý hay là vô ý trong thực hiện nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng đối với các tài liệu bị giả mạo không chỉ là căn cứ để xử lý người tiến hành tố tụng mà đây là cơ sở để Kiểm sát viên xem xét vụ án được giải quyết theo thủ tục giám đốc hay tái thẩm. Những kết luận không đúng, những tài liệu bị giả mạo chỉ trở thành tình tiết mới dẫn đến vụ án phải giải quyết theo thủ tục tái thẩm khi kết luận đó do cố ý. Nếu kết luận ấy do vô ý, do trình độ nghiệp vụ thì đó thuộc trường hợp giám đốc thẩm.

Ví dụ, vụ án Kim Vân Anh, về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 30/8/2005, Công an thanh phố Ban Ma Thuột bắt quả tang 4 đối tượng là Kim Vân Anh, Hoàng Thị Ngọc, Hoàng Ngọc Trung và Nguyễn Thị Chàng tại nhà trọ 87 đường Nguyễn Đức Cảnh, thành phố Ban Ma Thuột, thu giữ 30 gói chất bột màu trắng, 2 điện thoại di động, một xe máy, 17.800.000 đồng, 4 miếng kim loại vàng, một sợi dây chuyền vàng và một nhẫn vàng của các đối tượng trên. Sau khi giám định số chất bột màu trắng có kết luận đó là Hêrôin có trọng lượng 9,376g. Qúa trình điều tra, Đội trưởng Lê Văn Ngãi phân công Điều tra viên Bùi Vũ Trọng Quốc điều tra vụ án. Ngày 25/12/2005, Cơ quan điều tra ra quyết định tách hành vi mua bán ma tuý của Sơn và Thức cùng những người có liên quan gồm Hoàng Thị Ngọc, Hoàng Ngọc Trung, Nguyễn Đăng Hạ Long, Nguyễn Đăng Hải Long để xử lý bằng vụ án khác và ký giả chữ ký của ông Nguyễn Công Chức- Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Ngày 20/2/2005 Cơ quan điều tra ra 5 quyết định xử lý hành chính đối với Hoàng Thị Ngọc, Hoàng Ngọc Trung, Nguyễn Đăng Hạ Long, Nguyễn Đăng Hải Long và Kim Vân Anh do Thủ trưởng Cơ quan điều tra là Nguyễn Công Chức ký.

Ngày 27/12/2005, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ban Ma Thuột có kết luận điều tra đề nghị truy tố Kim Vân Anh về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 2 Điều 194 BLHS do ông Nguyễn Công Chức, Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an thành phố Ban Ma thuột ký. Ngày 8.2.2006, Viện trưởng VKS thành phố Ban Ma Thuột có cáo trạng truy tố Kim Văn Anh theo điểm b, h khoản 2 Điều 194 BLHS về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 9/3/2006, Toà án thành phố Ban Ma Thuột đã xét xử và tuyên phạt Kim Văn Anh  9 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm b, h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS và phạt 5 triệu đồng sung công quỹ Nhà nước. Sau đó Kim Vân Anh có kháng cáo và bản án phúc thẩm đã giữ nguyên tội danh và hình phạt.

 Ngày 7/11/2007, Cơ quan Cảnh sát điều tra và VKS tỉnh Đắk Lăk có văn bản đề nghị kháng nghị tái thẩm vụ án Kim Văn Anh phạm tội mua bán ma tuý vì có những tình tiết mới trong quá trình điều tra vụ án.

 Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và điều tra xác minh VKSND tối cao thấy: Điều tra viên Bùi Trọng Vũ Quốc đã có hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án, giả mạo chữ ký của ông Nguyễn Công Chức là Thủ trưởng Cơ quan điều tra thành phố Ban Ma Thuột. Hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án của Điều tra viên Bùi Trọng Vũ Quốc thể hiện: Quyết định tách hồ sơ vụ án số 10 ngày 25/12/2005, 05 quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng nêu trên và bản kết luận điều tra số 27/KLĐT ngày 27/12/2005 của Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Buôn Ma Thuột. Bùi Trọng Vũ Quốc khai việc làm trên đây là do cố ý. Đây chính là tình tiết mới của vụ án.

Ngày 08/10/2008, Viện trưởng VKSND tối cao đã kháng nghị tái thẩm số 05/QĐ-VKSTC-V3 đề nghị Toà hình sự TAND tối cao xét xử theo thủ tục tái thẩm, huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên để điều tra xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật[19].

c. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 

Thời hạn kháng nghị tái thẩm với thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm có hai điểm giống nhau là; thứ nhất, kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ (khoản 2 Điều 278, khoản 2 Điều 295 Bộ luật TTHS); thứ hai, việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành theo quy định của Bộ luật TTDS (khoản 3 Điều 278, 295 Bộ luạt TTHS).

Điểm khác nhau cơ bản về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm với tái thẩm là trong trường hợp kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án. Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm (khoản 1 Điều 278 Bộ luật TTHS) theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, đối với vụ án tái thẩm thì thời hạn trên đây được quy định hoàn toàn khác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật TTHS thì thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án phải có hai điều kiện.

 Thứ nhất: thời hạn kháng nghị chỉ được tiến hành trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 23 của Bộ luật TTHS. Khoản 2 Điều 23 BLHS quy định:

“a. Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

  b. Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

  c. Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

  d. Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Như vậy, khi nhận được thông báo về tình tiết mới Kiểm sát viên không những phải kiểm tra xem tình tiết ấy có phải là tình tiết mới hay không mà còn phải kiểm tra xem vụ án mà thông báo về tình tiết mới đề cập có còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nữa hay không. Nếu qua kiểm tra thấy vụ án ấy không còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nữa thì Kiểm sát viên trả lời người có thông báo là vụ án đã hết thời hạn tái thẩm.

Thứ hai: Nếu như thời hạn kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật thì thời hạn kháng nghị tái thẩm không được quá một năm kể từ ngày VKS nhận được tin báo về tình tiết mới. Chúng tôi thấy quy định VKS nhận được tin báo…là hơi chung chung. VKS ở đây là ai? Thực tiễn truy tố, xét xử cho thấy, VKS nhận được tin báo là người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm. Đó là Viện trưởng VKS cấp tỉnh trở lên. Thời điểm nhận được tin báo cũng có ý kiến hiểu khác nhau. Có ý kiến cho rằng, đó là thời điểm người có thẩm quyền kháng nghị nhận được thông báo về tình tiết mới. Thực tiễn cho thấy, khi có thông báo tình tiết mới, Viện trưởng còn phải chỉ đạo Kiểm sát viên rút hồ sơ nghiên cứu. Có trường hợp thời gian chờ hồ sơ mất cả năm. Nếu hiểu như ý kiến trên đây là không có lợi cho người bị kết án. Theo chúng tôi, thời điểm nhận được tin báo tình tiết mới là thời điểm người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm nghe Kiểm sát viên báo cáo về tình tiết mới của vụ án.

Tuy nhiên, hiểu như thế nào là “kháng nghị tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án” và “kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án”?. Về vấn đề này, Bộ luật TTHS năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật chưa có quy định cụ thể. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, có thể coi một số trường hợp sau đây là kháng nghị tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án:

        - Kháng nghị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự người được Tòa án tuyên không phạm tội hoặc được miễn trách nhiệm hình sự;

        - Kháng nghị yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự, tăng mức hình phạt, tăng mức bồi thường thiệt hại;

        - Kháng nghị yêu cầu xử thêm tội danh, áp dụng thêm hình phạt bổ sung.

        Còn các trường hợp kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể là:

        - Kháng nghị đề nghị hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án vì lý do người bị kết án không phạm tội, không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự;

        - Kháng nghị đề nghị hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại theo hướng giảm hình phạt, miễn hình phạt, áp dụng hình phạt thuộc loại nhẹ hơn, giảm mức bồi thường thiệt hại cho người bị kết án.

        Riêng việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật TTDS. Theo quy định tại Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2004, thì thời hạn kháng nghị trong trường hợp này là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 305 của Bộ luật TTDS năm 2004.

d. Thủ tục kháng nghị tái thẩm 

Theo quy định tại Điều 292 Bộ luật TTHS thì các thông báo về những tình tiết mới được gửi cho Viện kiểm sát và Toà án. Tuy nhiên, Viện trưởng VKS là người có quyền kháng nghị tái thẩm nên nếu Toà án (hoặc các cơ quan tổ chức) nhận được thông báo phải gửi cho Viện trưởng VKS.

Thực tiễn truy tố, xét xử cho thấy, nguồn phát hiện tình tiết mới có rất nhiều dạng. Theo quy định tại Điều 59 Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC thì Kiểm sát viên chú ý các nguồn sau đây:

“1. Báo cáo đề xuất kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp;

  2. Đơn đề nghị của người bị kết án, của mọi công dân hoặc kiến nghị của các cơ quan, tổ chức;

  3. Tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng;

  4. Kết quả kiểm tra công tác nghiệp vụ.”

Đối vởi thủ tục giám đốc thẩm, theo quy định tại Điều 274 Bộ luật TTHS, Viện trưởng và Chánh án từ cấp tỉnh trở lên có quyền kháng nghị giám đốc thẩm nên các thông báo được gửi đến Viện trưởng hoặc Chánh án. Thực tiễn cho thấy, nếu người nào (Viện trưởng hoặc Chánh án) nhận được thông báo trước và nếu có điều kiện thì rút hồ sơ nghiên cứu trước, nếu có căn cứ thì quyết định kháng nghị.

Đối với thủ tục tái thẩm,trường hợp Tòa án nhận được tin báo có tình tiết mới của vụ án do cơ quan, tổ chức, công dân chuyển đến thì Tòa án phải chuyển tin báo đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm phải ra quyết định xác minh những tình tiết đó trước khi ra quyết định kháng nghị tái thẩm.

Qua việc kiểm tra, xác minh, nếu Viện kiểm sát thấy có đủ căn cứ kháng nghị tái thẩm theo quy định tại Điều 291 Bộ luật TTHS năm 2003 thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền sẽ ra quyết định kháng nghị tái thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. Trường hợp qua xác minh thấy không có đủ căn cứ kháng nghị tái thẩm thì Viện trưởng Viện kiểm sát phải trả lời cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã phát hiện và  báo cho Viện kiểm sát, Tòa án biết về tình tiết mới của vụ án. Trong trường hợp này, Viện trưởng Viện kiểm sát phải nêu rõ lý do của việc không kháng nghị tái thẩm.

        đ. Thẩm quyền tái thẩm

        Theo Điều 296 Bộ luật TTHS năm 2003, thẩm quyền tái thẩm vụ án hình sự được quy định như sau:

       &nbs